Hiển thị các bài đăng có nhãn Đông nam Á. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đông nam Á. Hiển thị tất cả bài đăng

15 thg 3, 2015

Nhật ký Biển Đông: Chiến tranh lạnh lan qua Á Châu

Đào Văn Bình
(California ngày 15/3/2015)

Nhật ký Biển Đông trong hai tuần tháng ba ghi nhận những chuyển biến quan trọng như sau: NewsMax ngày 1/3/2015: “Theo bản tường trình thuộc báo chí Kuwait, vào năm 2014,Tổng Thống Obama dự trù bắn rơi máy bay Do Thái nếu những máy bay này tiến hành oanh tạc các cơ sở hạt nhân của Ba Tư.
- Theo bản tường trình của Al-Jarida, chính lời đe dọa - được cho là như vậy- đã khiến Thủ Tướng Benjamin Netanyahu hủy bỏ kế hoạch oanh tạc đã được soạn thảo.
-Voice of Russia ngày 1/3/2015: Trong bài viêt “Khủng hoảng Ukraine và những cơ hội cho Trung Quốc” Vasily Kashin nhận định, “Huy động mọi nỗ lực hòng răn đe quân sự và cô lập Nga về ngoại giao, Hoa Kỳ khó có thể cùng lúc mở rộng sự hiện diện quân sự của mình ở Đông Nam Á. Như vậy, Trung Quốc sẽ có cơ hội tích lũy thêm tiềm lực và củng cố vị thế trong nền chính trị quốc tế.”

-Reuters (Paris) ngày 2/3/2015: “Sau cuộc họp với Tổng Thư Ký NATO vào ngày Thứ Hai, Tổng Thống Pháp Francois Hollande nhắc lại nhu cầu ngưng bắn ngay lập tức tại Ukraine và rút vũ khí nặng ra khỏi đường biên giới giao tranh. Thỏa hiệp Minsk là giải pháp duy nhất để tái lập hòa bình.”

-YahooNews ngày 2/3/2015: Trong bài viết nhan đề “Xem lại hiến pháp: Liệu Hạ Viện hành động bất hợp pháp khi mời Netanyahu? (Constitution Check: Did the House act illegally in inviting Netanyahu?), Lyle Denniston (1) viết, “Đáng lý ra các lãnh đạo lập pháp Hoa Kỳ phải suy nghĩ kỹ hơn khi đưa ra lời mời. Mặc dù nó không vi phạm văn tự của Hiến Pháp. Nhưng chắc chắn nó vi phạm nguyên tắc chỉ có một tiếng nói cho một quốc gia trong vấn đề đối ngoại và các lãnh đạo ngoại quốc không thể lựa chọn hoặc muốn thương thảo với quốc hội hay thương thảo với tổng thống.” (U.S. congressional leaders probably should have given this invitation more thought. Although not a violation of the letter of the Constitution, it certainly seems to violate the idea that the nation speaks with one voice on foreign policy and that foreign leaders cannot choose whether they prefer to deal with Congress or the president.) Thực ra Lyle Denisson muốn giảm nhẹ tính cách nghiêm trọng của vấn đề. Nếu nói “vi hiến” thì ghê gớm quá! Nhưng rõ ràng Hiến Pháp Hoa Kỳ quy định “quyền ngoại giao thuộc về hành pháp, tức tổng thống”. Nay Quốc Hội giành lấy quyền đó thì vi hiến đã rành rành ra đó rồi! Chẳng hạn ngày mai tổng thống làm luật mà không thông qua Quốc Hội thì có vi hiến không? Dầu sao thì Lyle Denission chỉ phân tích được sự kiện chứ không nêu được bản chất của vấn đề. Do cấu trúc “lưỡng đảng” và “check and banlance” đã khiến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trở thành “lưỡng đầu” tức lập pháp lúc nào cũng có thể can dự vào chính sách đối ngoại của tổng thống khiến tình hình rối beng. Sự kiện “Boehner và Netanyahu” đánh dấu bước khởi đầu suy thoái nghiêm trọng về quyền lực đối ngoại của tổng thống Mỹ trên chính trường quốc tế. Chẳng hạn khi tổng thống Hoa Kỳ ký kết hiệp ước hợp tác chiến lược hay hợp tác an ninh với một quốc gia nào đó, trong cuộc họp báo, một ký giả có thể cắc cớ hỏi, “Thưa tổng thống, tổng thống đã xin phép quốc hội để ký kết hiệp ước này chưa? Liệu trong tương lai, quốc hội Hoa Kỳ có mời thủ lãnh đối lập của quốc gia này đọc diễn văn tại quốc hội để chống lại hiệp ước không?” Thêm vào đó, VOA tiếng Việt ngày 10/3/2015 loan tin, “Ngoại trưởng Iran nói rằng lá thư của các thượng nghị sĩ Mỹ thuộc đảng Cộng hòa cảnh báo là thỏa thuận hạt nhân có thể có với Iran có thể bị hủy bỏ một khi Tổng thống Barack Obama rời khỏi chức vụ cho thấy Hoa Kỳ không đáng tin cậy.Tại Tehran, Ngoại trưởng Javad Zarif nói với đại hội chuyên gia, cơ quan hàng đầu của các giáo sĩ Iran, rằng lá thư của 47 thượng nghị sĩ Mỹ là không có tiền lệ và không phù hợp với nguyên tắc ngoại giao. Ông Zarif nói thêm rằng thật ra, nó cho chúng ta thấy rằng chúng ta không thể tin nước Mỹ. Quan hệ đối ngoại của Mỹ với các chính phủ khác hầu như lúc nào cũng được thực hiện bởi các vị tổng thống và các nhà ngoại giao; và sự can thiệp trực tiếp của các nhà lập pháp qua lá thư đó đã gặp phải sự đả kích gay gắt của Tổng thống Obama.Tổng Thống Obama cho rằng thật là mỉa mai khi thấy một số thành viên Quốc Hội muốn có cùng mục tiêu với những thành phần cứng rắn ở Iran.” Báo USNews ngày 10/3/2015 cho rằng bức thư của 47 thượng nghị sĩ gửi cho Iran đã vi phạm luật lệ (GOP Senators Probably Broke Law With Iran Letter).

Còn ABC News nói rằng, theo một sồ giáo sư dạy luật và nhà bình luận, hành động của 47 thượng nghị sĩ có thể là một tội phạm (might be a crime). Căng thẳng hơn nữa, AFP ngày 11/3/2015 loan tin, “155,000 người đã ký thỉnh nguyện thư gửi Tòa Bạch Ốc yêu cầu truy tố 47 thượng nghị sĩ Đảng Cộng Hòa tội phản nghịch khi gửi thư cho các nhà lãnh đạo Ba Tư về những thương thảo về nguyên tử đang diễn ra.” Như vậy nội tình nước Mỹ ngày càng rối beng và không còn ra thể thống gì nữa? Người ta có thể truy tố một công dân nào đó về tội phản nghịch chứ làm sao có thể truy tố 47 thượng nghị sĩ đương quyền về tội phản nghịch được? Quyền tự do phát biểu bất khả xâm phạm của các dân biểu và thượng nghị sĩ ở đâu? Có thể quy kết các ông này hành động điên khùng và vi hiến cho nên văn thư nói trên hoàn toàn vô giá trị xong rồi từ từ để nội vụ “chìm xuồng” Cộng Hòa và Dân Chủ, Tổng Thống và Quốc Hội cùng nhau rút ra bài học cho quyền lợi của nước Mỹ. Càng làm lớn chuyện ra, nước Mỹ càng xấu hổ vì nước Mỹ vẫn thường tự hào và “lên lớp” cho toàn thế giới về tinh thần thượng tôn luật pháp “Due Process of Law” và có một nền chính trị tân tiến và hữu hiệu nhất. Ngày 12/3/2015, theo AFP, Ngoại Trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier đã trách cứ các thượng nghị sĩ Cộng Hòa là bức thư làm suy giảm niềm tin của Iran trong cuộc thương thảo trong đó có Đức tham dự. Như vậy câu chuyện đổ bể tùm lum. Tôi sợ rồi đây sẽ còn nhiều quốc gia khác lên tiếng chê bai, bình phẩm về nền chính trị Hoa Kỳ.

-AFP (Washington) ngày 3/3/2015: “Theo bản báo cáo mới nhất vào Thứ Ba, lực lượng an ninh A Phú Hãn chịu tổn thất nặng nề trên chiến trường và một số lớn binh sĩ đã từ nhiệm hoặc rời bỏ đơn vị. Giữa Tháng 10, 2013 và Tháng 9, 2014 khoảng 1300 binh sĩ A Phú Hãn bị giết và 6200 bị thương.” Đây là tin đáng buồn cho Mỹ và NATO. Cuộc chiến A Phú Hãn khởi đầu từ năm 2001 do liên quân Mỹ cầm đầu gồm 42 quốc gia quân sự hùng mạnh nhất hành tinh này, với kết quả 2000 lính Mỹ chết, chi phí gần 1200 tỉ đô-la vừa cho chiến trường vừa viện trợ vừa để huấn luyện quân đội A Phú Hãn. Năm 2014, Mỹ tuyên bố cuộc chiến chấm dứt, rút quân và để lại một quân đội với thành tích chiến đấu như trên. Nếu lực lượng Taliban tiếp tục lớn mạnh, để cứu nguy Kabul, có lẽ Mỹ phải nhảy vào một lần nữa như cuộc chiến ở Iraq. Thế mới hay, Mỹ có thể đánh bại và tiêu diệt một chính quyền như Iraq, Afghanistan, Libya trong chớp nhoáng nhưng chính quyền do Mỹ lập lên không có khả năng đề kháng lại sức chiến đấu dai dẳng của lực lượng kháng chiến và thường xụp đổ hoặc đất nước bị chia cắt hoặc triền miên bất ổn.

-Business Insider ngày 3/3/2015: Trong bài viết “Nga và Ai Cập càng xích gần lại nhau hơn nữa” (Russia and Egypt just got even closer) tờ báo cho biết hai quốc gia sẽ tiến hành tập trận hải quân chung trên Địa Trung Hải và Ai Cập sẽ tuyển chọn sĩ quan để được huấn luyện tại học viện quân sự Nga. Quan hệ Mỹ-Ai Cập đã xấu đi kể tử khi Tướng al-Sisi đảo chính lật đổ chính quyền dân cử của Ô. Morsi năm 2013. Hiện nay Mỹ cũng đang lên án nhà cầm quyền quân sự Thái Lan đã lật đổ chính quyền hợp pháp của Bà Yingluck khiến chính quyền này ngả dần sang Trung Quốc. Thực ra việc đảo chính lật đổ các chính quyền ở Ai Cập và Thái Lan chỉ là chuyện chính trị nội bộ của người ta và thế giới chẳng ai quan tâm vì nó không ảnh hưởng tới an ninh khu vực, nhưng Mỹ cứ can thiệp vào vì Mỹ tự cho mình “thiên chức” bảo vệ dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới. Chính vì thế mà Mỹ cứ mất dần đồng minh.

-AP (Seoul): Truyền thông Nam Hàn cho hay Đại Sứ Hoa Kỳ Mark Lippert bị tấn công khi đang diễn thuyết và được đưa vào bệnh viện. Đài tuyền hình YTN trình chiếu hình ảnh Lippert bi rạch ở má và cổ tay nhưng vết thương không nguy tới tính mạng. Truyền hình YTN cho biết hung thủ có tên Kim Ki-jong đã bị bắt sau sau đó. Theo cảnh sát, người đàn ông vung con dao cạo và miệng hô khẩu hiệu hống nhất Nam- Bắc Hàn. Những người biểu tình chống Mỹ tại Hán Thành (Seoul) mới đây đã lên tiếng chống đối những cuộc tập trận hằng năm của Mỹ và Nam Hàn mà Bắc Hàn nói rằng được chuẩn bị cho cuộc xâm lăng. Còn Hán Thành và Hoa Thịnh Đốn nói rằng những cuộc tập trận kéo dài tới cuối Tháng Tư chỉ có tinh tự vệ và thường xuyên.” Hãng AP nói thêm, vụ tấn công vị đại sứ Hoa Kỳ cho thấy tính bạo lực trong xã hội Nam Hàn, một số người sẵn sàng hy sinh tính mạng để bày tỏ quan điểm của mình. Trong khi đó thành phần khuynh tả (2) cũng tức giận vì sự hiện diện quân sự Mỹ ở Bán Đảo Triều Tiên.

-Yahoo News ngày 5/3/2015: “Một thống kê lạnh người. Theo Bộ Cựu Chiến Binh, hai mươi hai (22) cựu chiến binh Hoa Kỳ tự tử một ngày. Nạn nhân mới nhất, Đại Úy Trừ Bị Không Quân Jamie Bruette trẻ tuổi nhất có năm con, sau hai lần tăng phái tham dự chiến trường Afghanistan và sau 11 năm phục vụ trong không quân. Nguyên do khiến các cựu chiến binh tự tử là vì chứng “post-traumatic stress disorder” PTSD (3) là chứng rối loạn thần kinh kéo dài do gặp phải những biến cố gây chấn động cân não. “ Nhưng theo một thống kê khác của năm 2007 khoảng 18 cựu chiến binh Hoa Kỳ tự tử mỗi ngày.

-AP ngày 5/3/2015: “Thủ Tướng Ý Đại Lợi viếng thăm Moscow vào Thứ Năm trong một nỗ lực hàn gắn mối quan hệ giữa Nga- Tây Phương bị tổn thương vì cuộc khủng hoảng Ukraine. Hầu hết các lãnh đạo Phương Tây đều lánh xa Moscow khi bang giao đã xuống tới mức thấp nhất kể từ Chiến Tranh Lạnh. Chuyến thăm viếng của Thủ Tướng Matteo Renzi phản ảnh mong muốn cải thiện quan hệ song phương về kinh tế đã bị tổn hại vì Liên Hiệp Âu Châu đã áp đặt lệnh cấm vận và những biện pháp trả đũa của Nga.”

-BBC tiếng Việt ngày 6/3/2015: Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius trong dịp viếng thăm Đại Học Quốc Gia Hà Nội tuyên bố, “Không có điều gì là không thể” trong quan hệ giữa hai nước, chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ sẵn sàng tiếp thêm sức mạnh cho Việt Nam bay cao và bay xa hơn nữa.”

-AP (Tel-Aviv, Israel) ngày 7/3/2015: “Vài chục ngàn người đã xuống đường biểu tình tại Quảng Trường Tel Aviv giương cao biểu ngữ ‘Do Thái Muốn Thay Đổi’ và kêu gọi thay thế Thủ Tướng Netanyahu trong cuộc bầu cử vào 17 Tháng 3 tới đây. Cuộc biểu tình do nhóm bất vụ lợi tổ chức kêu gọi thay đổi những chính sách ưu tiên của quốc gia và yêu cầu chính phủ tái tập trung vào các vấn đề như y tế, giáo dục, gia cư/nhà ở và giá sinh hoạt của người dân.”

-AFP ngày 8/3/2015: “Ngoại Trưởng Vương Nghị của Trung Quốc cam kết tiến hành hợp tác kinh tế và ngoại giao với Nga cho dù Phương Tây áp đặt lệnh cấm vận Nga do cuộc khủng hoảng Ukraine và nhấn mạnh rằng mối liên hệ dựa trên nhu cầu hỗ tương/hai bên đều có lợi.

-AFP ngày 8/3/2015: “Trên sàn/boong tàu Hàng Không Mẫu Hạm Charles de Gaulle, Tướng Demsey- Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ bênh vực nhịp độ không kích chống lại Nhà Nước Hồi Giáo IS và cảnh cáo rằng leo thang oanh tạc và gửi thêm binh sĩ Hoa Kỳ tới Iraq và Syria là một sai lầm và thay vào đó ông đề nghị một chiến lược kiên trì để chống nhóm IS. Theo Tướng Dempsey, mở rộng oanh kích có thể khiến thường dân thương vong và IS lấy cớ đó để tuyên truyền.” Lời thú nhận của Tướng Dempsey cho thấy số thường dân chết trong các vụ oanh kích ở Iraq và Syria rất cao khiến Nhóm IS lấy cớ đó kêu gọi chí nguyện quân trên toàn thế giới. Hiện nay Nhóm Boko Haram ở Nigeria đã gia nhập và nguyện trung thành với Nhà Nước Hồi Giáo IS. Tại Libya, hai chính quyền cùng tranh nhau cai trị đất nước, và các nhóm chủ chiến có liên hệ mật thiết với al Qaida và Nhà Nước Hồi Giáo IS tung hoành không một thế lực nào ngăn cản được. Các nước như Hoa Kỳ, Anh và Ý Đại Lợi đã đóng cửa tòa đại sứ tại Tripoli.

-Business Insider ngày 10/3/2015: “Theo một số nguồn tin từ Trung Quốc và Đài Loan, các giới chức Hoa Lục đã xác nhận là đất nước này đang tự đóng một hàng không mẫu hạm (HKMH) thứ hai. HKMH Liêu Ninh theo các chuyên viên quân sự có tính huấn luyện hơn là khả năng tác chiến.”

-Reuters ngày 12/3/2015: “ Tờ Finacial Times cho biết, Liên Hiệp Âu Châu hỗ trợ quyết định của Euratom (Cộng Đồng Năng Lượng Nguyên Tử Âu Châu) ngăn chặn thỏa hiệp nhà máy nguyên tử trị giá 12 tỉ euro giữa Hung Gia Lợi và Nga. Hành động này có thể làm cho tình hình giữa Nga và Brussels trở nên tệ hại hơn.”

-Business Insider ngày 13/3/2015: “Trang nhất của tờ Financial Times (Anh Quốc) vào sáng Thứ Sáu đã đi một bản tin làm mọi người ngạc nhiên phản ảnh căng thẳng ngoại giao hiếm thấy giữa các giới chức cao cấp nhất của Hoa Kỳ và Anh Quốc - chính phủ Anh bị Hoa Kỳ cáo buộc là thường xuyên “chiều theo ý” của Hoa Lục - một cường quốc đang lên.” Chiều theo Trung Quốc ở đây có nghĩa là: Anh Quốc chúc mừng Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu (Asia Infratructure Investment Bank) do Trung Quốc thiết lập và ngỏ ý gia nhập ngân hàng này vốn là đối thủ của World Bank do Hoa Kỳ khống chế. Thứ hai, Anh Quốc tự chế không công kích Hoa Lục khi phong trào biểu tình ở Hongkong nổ ra. Thứ ba, tuyên bố sẽ không có cuộc gặp gỡ nào nữa với Đức Dalai Lama sau cuộc tiếp xúc vào năm 2013 gây phẫn nộ từ phía Hoa Lục.” Thế mới hay dù là đồng minh chí cốt nhưng vẫn có mâu thuẫn về quyền lợi như thường. Và hành động của Anh Quốc khiến Hoa Kỳ chạm tự ái vì đã nâng cao vị thế của Hoa Lục và làm suy giảm ngôi vị “võ lâm chí tôn” của mình.

-Bloomberg News ngày 13/3/2015: “Việt Nam bắt đầu xây dựng hệ thống điện gió (Wind Farm) tại Tỉnh Darlac thuộc Vùng Cao Nguyên trị giá 281 triệu đô-la, có công xuất 120-megawatt. Công ty General Electric của Hoa Kỳ sẽ cung cấp 60 turbines . Đợt đầu được phát điện vào năm 2016. Còn Vestas Wind Systems - một công ty điện gió lớn nhất thế giới đã ký khế ước trị giá 436 triệu đô-la để xây dựng hệ thống điện gió tại Sóc Trăng vào năm 2016.”

-AP (Tokyo) ngày 13/3/2015: “Nhật Bản và Pháp vừa ký thỏa hiệp hợp tác và chuyển giao kỹ thuật - mở đường cho việc chế tạo máy bay không người lái và những thiết bị không người lái khác trong khi Nhật đang tìm cách mở rộng vai trò quân sự trên quy mô quốc tế.”

Nhận Định:

Trong hai tuần qua, những diễn biến mới nhất cho thấy cuộc Chiến Tranh Lạnh Mới giữa Nga và Mỹ ngày càng quyết liệt và lan rộng từ Âu Châu sang Á Châu.

1) The World Post ngày 2/3/2015 trong bài báo nhan đề “Tại Ukraine, Hoa Kỳ đang trả giá cho một Chiến Tranh Lạnh Mới” (In Ukraine, U.S. Is Forfeiting New Cold War) tác giả Shai Franklin viết, “Không, Liên Bang Sô-viết không tái xuất hiện. Nhưng Liên Bang Nga đang tự khẳng định mình là ai và một Chiến Tranh Lạnh Mới đã mở màn. Mặt trận đầu tiên của cuộc chiến tranh này là Ukraine. Những gì mà Hoa Kỳ phản ứng đang ảnh hưởng tới hành động của Nga và cả Âu Châu suốt phần còn lại của thế kỷ. Trừng phạt kinh tế Nga là một niềm an ủi tệ hại nếu chúng ta vẫn còn để Ukraine sụp đổ về tài chính lẫn quân sự.” (No, the Soviet Union isn't coming back. However, the Russian Federation is reasserting itself and a new Cold War has already opened. The first front in this war is Ukraine. How the United States responds now will influence how Russia acts and how Europe evolves for the rest of this century. Punishing Russia economically is poor consolation if we still allow Ukraine to collapse financially and militarily.)

2) Voice of Russia ngày 7/3/2015: “Đại diện thường trực của Nga tại Liên Hợp Quốc, Ô. Vitaly Churkin tuyên bố sự xuất hiện của quân đội Mỹ ở Ukraina có thể trở thành thảm họa.”

3) BBC Âu Châu ngày 8/3/2015: “Henry Kissinger- Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ nói với BBC tuần rồi là Nga và NATO cần nghiêm túc tìm kiến giải pháp ngoại giao cho cuộc khủng hoảng Ukraine, nếu không thì nguy cơ Chiến Tranh Lạnh có thể là không tránh khỏi.” Vào ngày 9/3/2015, Hoa Kỳ đã gửi hằng trăm xe bọc thép và chiến xa tới các quốc gia vùng Baltic bao gồm Estonia, Latvia và Lithuania để ngăn chặn sự đe dọa từ Nga. Các quốc gia này đều đã gia nhập Liên Minh Âu Châu và NATO. Theo Business Insider, một cuộc thăm do mới nhất của Levada Center cho thấy hơn 81% dân Nga nhìn Hoa Kỳ với con mắt không thiện cảm (negative). Con số này gia tăng gấp đôi so với năm ngoái.”

4) The Fiscal Times ngày 10/3/2015: “Moscow thông báo sẽ ngưng mọi sự liên hệ tới thỏa hiệp về vũ khí ký kết khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc. Thỏa Ước Về Quân Đội Quy Ước Âu Châu (The Treaty on Conventionnal Armed Forces in Europe) được ký năm 1990 bởi 16 quốc gia NATO và 6 quốc gia thuộc khối Warsaw nhằm hạn chế quân số, chiến xa, pháo binh và những thiết bị quân sự phi -nguyên-tử đóng ở Âu Châu.” Đây là điềm không tốt báo hiệu sự bất ổn triền miên cho Âu Châu và cuộc Chiến Tranh Lạnh Mới giữa Nga và Phương Tây (Mỹ &NATO) thật sự bắt đầu.

5) Value Walk ngày 11/3/2015 trong bài viết có tựa đề “Nga và Hoa Kỳ Đang Lao Tới - Có Thể Là Cuộc Chiến Tranh Nguyên Tử” (Russia, U.S. Heading Towards A Possible Nuclear War) đã trích dẫn lời của Ô. Jack Matlock- Cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Nga dưới thời Tổng Thống Reagan như sau: “Hoa Kỳ không có lợi ích nào khi can thiệp vào Ukraine để chấp nhận một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân. Nếu như có một đe dọa lớn đối với an ninh quốc gia thì là như thế. Tổng Thống Obama phải công khai ngưng cuộc đọ kiếm tay đôi với Vladimir Putin. Matlock mô tả mối liên hệ hiện tại Nga-Mỹ là độc hại. Ưu tiên lớn nhất của Phương Tây là tái lập mối quan hệ dân sự với Moscow.” Còn Ramsey Clark - cựu Bộ Trưởng Tư Pháp của Ô. Obama, năm ngoái đã gửi một bức thư ngỏ cho tổng thống của mình trong đó nói, “Không có gì nguy hiểm hơn là hành động hung hăng của Mỹ/NATO đưa quân tới sát biên giới Nga.”

6) Reuters (Washington) ngày 11/3/2015: “Hoa Kỳ vừa yêu cầu Việt Nam ngưng không cho Nga sử dụng căn cứ không quân cũ của Hoa Kỳ ở Cam Ranh để tiếp dầu cho những máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang bom nguyên tử nhằm phô diễn sức mạnh quân sự ở vùng Châu Á Thái Bình Dương, điều này phơi bày sự căng thẳng ở Washington trong khi mối liên hệ nồng ấm với Hà Nội đang diễn ra vững chắc.”

Với sự hiện diện của các máy bay ném bom chiến lược của Nga bay trên không phận Guam và được tiếp dầu tại Căn Cứ Cam Ranh cho thấy lần đầu tiên trong 25 năm (1990-2015) Nga xác định sự hiện diện quân sự của mình tại Đông Nam Á để đáp trả lại kế hoạch lấn dần tới biên giới Nga của Mỹ và NATO. Như thế cuộc Chiến Tranh Lạnh Mới đã không còn giới hạn ở Âu Châu và bắt đầu lan qua Á Châu. Một khi đã lan qua Châu Á, những tình huống sau đây có thể xảy ra:

-Trung Quốc “mừng hết lớn”. Mừng thứ nhất là Mỹ sẽ phải tập trung nỗ lực để đối đầu với Nga do đó không còn khả năng kiềm chế Hoa Lục. Mừng thứ hai là khi tình hình Á Châu nát bét- người theo phe này, kẻ theo phe kia là điều kiện thuận lợi để Hoa Lục tung hoành. Khi Đông Nam Á yên bình và đoàn kết sẽ vô cùng bất lợi cho Trung Quốc.

-Nam Hàn cũng vô cùng khó xử. Nếu không đi với Mỹ thì áp lực về các mặt kinh tế, ngoại giao và quân sự sẽ hết sức nặng nề. Nếu liên minh với Mỹ chống Nga thì Bắc Hàn sẽ là mũi nhọn tấn công. Khi đó mộng chống Nga chưa thành mà đất nước đã tan nát rồi. Vì quyền lợi tối thượng của đất nước có thể Nam Hàn sẽ giữ vị trí trung lập. Hiện Nga đang tổ chức “Năm Hữu Nghị” với Bắc Hàn và Ô. Kim Chính Ân sẽ thăm Nga vào Tháng 5 này.

-Vị thế của Nhật Bản lại càng khó xử hơn nữa. Nếu theo Mỹ chống Nga, Nhật Bản sẽ phải liên tục đối đầu với hai ông bạn làng giềng khổng lồ, đất nước căng thẳng, kinh tế suy thoái vì chạy đua vũ trang. Nếu không nghe lời “ông anh Mỹ” thì lấy ai răn đe Trung Quốc cho Nhật Bản đây? Ngoài ra, nếu Nhật Bản chỉ chống Trung Quốc không thôi thì đối với Việt Nam không có vấn đề. Nhưng nếu Nhật Bản chống Nga thì sẽ gây khó cho Việt Nam. Hiện nay Đức đang vận động để Nhật cùng tham gia với Âu Châu để cấm vận Nga. Nhức đầu quá!

-Một số quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Miến Điện chắc chắn sẽ đứng trung lập vì không dại gì “giơ đầu chịu báng”. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy theo phe nào cũng chết.

-Hai quốc gia có thể sẽ liên minh với Mỹ để chống Nga, đó là Phi Luận Tân và Tân Gia Ba.

-Còn Việt Nam thì đương nhiên ở vào tình thế khó xử nhất rồi. Đi với Mỹ thì bị Mỹ ép và từ từ mất chủ quyền. Không đi với Mỹ thì không đủ khả năng kiềm chế Hoa Lục ở Biển Đông và phát triển kinh tế. Trong khi mối liên hệ có tình cách lịch sử, lâu bền về mọi mặt với Nga vô cùng quan trọng - về chính trị, ngoại giao lẫn quân sự. Nga đã và đang cung cấp những vũ khí tối cần thiết cho Việt Nam để xây dựng quốc phòng, giúp Việt Nam huấn luyện thủy thủ và căn cứ sửa chữa tầu ngầm tại Cam Ranh, xây dựng nhà máy điện hạt nhân, thiết lập trung tâm không gian, chia xẻ những tức quân sự qua trung tâm thông tin hỗn hợp, giúp Việt Nam đóng tàu chiến, thành lập đại học kỹ nghệ quốc phòng… Nếu nghe theo lời Mỹ thì phá vỡ liên minh chiến lược với Nga, điều mà Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận. Qua thực tiễn lịch sử và địa lý chiến lược của Á Châu ngày hôm nay mà nói - nếu Việt Nam nổ ra một cuộc xung đột quân sự thì người giúp Việt Nam nhiều nhất là Nga chứ không phải Mỹ vì Mỹ đã “thề” là sẽ không bao giờ dính líu vào một cuộc chiến ở Châu Á nữa. Vậy thi vần đề là: Trong tình thế hiện tại, nếu Việt Nam cần Mỹ hơn Nga, Việt Nam sẽ nhượng bộ. Ngược lại, nếu Việt Nam cần Nga hơn Mỹ thì Việt Nam sẽ không nhượng bộ. Đây là vấn đề vô cùng tế nhị mà Hoa Thịnh Đốn phải thấy Việt Nam không phải là Nam Hàn hay Nhật Bản hễ Mỹ nói thì phải nghe theo. Trong mấy năm qua, các tàu chiến Mỹ đã ra vào Cam Ranh để sửa chữa, bảo trì và tiếp vận. Do đó hai bên phải tương thảo trong âm thầm chứ không thể ồn ào qua các cuộc họp báo hoặc gây áp lực theo kiểu “loudspeaker diplomacy”. Theo tôi, Việt Nam có thể sẽ yêu cầu Nga giảm bớt các chuyến bay để “chiều lòng” Mỹ chứ không ra lệnh chấm dứt các chuyến bay ghé Cam Ranh để tiếp dầu. Tuy nhiên nếu cuộc Chiến Tranh Lạnh Mới Nga - Mỹ ngày càng trở nên quyết liệt, thế giới sẽ chia đôi theo lằn ranh Đông-Tây, lúc đó Việt Nam, do nhu cầu sinh tử, sẽ ngả theo Nga nhưng vẫn không chống Mỹ. Vào ngày 12/3/2015, theo BBC tiếng Việt, Ô. Igor Korotchenko, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mua bán Vũ khí, một viện nghiên cứu phi chính phủ nằm tại Moscow nói rằng “Việc ám chỉ phi cơ Nga có thể được tiếp nhiên liệu từ căn cứ ở Vịnh Cam Ranh và rằng các phi cơ này có khả năng mang đầu đạn hạt nhân là tuyên bố khiêu khích và vô căn cứ, và đề nghị của Mỹ về Cam Ranh là thô lỗ.” Ngày 13/3/2015, BBC tiếng Việt loan tin, “Bộ Ngoại giao Nga tuyên bố: Chúng tôi lấy làm khó hiểu vì các bình phẩm của quan chức Mỹ rằng hành động của Không Quân Nga, gồm việc dùng cơ sở hạ tầng ở Cam Ranh, Việt Nam để tiếp nhiên liệu, có thể dẫn tới ‘căng thẳng khu vực gia tăng’.”

-Thế nhưng Mỹ cũng ở vào tình thế vô cùng khó khăn. Nếu ép Việt Nam mà Việt Nam không nghe, thì Mỹ sẽ không giúp Việt Nam nữa hoặc trả đũa hoặc bao vây, cấm vận, lật đổ. Nhưng khi Việt Nam suy yếu đi, tức không còn khả năng ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông thì Phi Luật Tân lâm nguy. Lúc đó Mỹ phải lui về cố thủ ở Guam - tức biên giới phòng thủ từ xa của Mỹ co lại, chiến tranh nếu xảy ra là xảy ra trên đất Mỹ chứ không còn ở nơi xa lắc xa lơ nữa. Đó là cơn ác mộng của Mỹ. Do đó nếu Mỹ có giúp Việt Nam là tự giúp mình, tự biến Việt Nam thành một “tiền đồn tự nhiên” ngăn chặn Trung Quốc…chứ không phải Mỹ hoàn toàn thương xót Việt Nam. Xin nhớ cho không một đại cường nào đem tiền của giúp một quốc gia nhỏ bé mà hoàn toàn vô tình hay bất vụ lợi. Ngay cả vấn đề giúp đỡ thiện nguyện, người cho cũng có chủ ý chứ không phải hoàn toàn vì lòng từ bi hay bác ái. Trên thế gian này, thánh nhân rất hiếm, còn phàm phu tục tử thì nhiều lắm.

Dù muốn dù không, cuộc đối đầu Nga-Mỹ sẽ ảnh hưởng toàn cầu và sẽ gây thảm họa cho nhân loại. Thế mới hay thân phận các nước nhỏ muôn đời là khốn khổ, “Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng” lơ mơ là tan nát do tham vọng - có khi cuồng điên của các đại cường. Trong bài viết “Chiến Tranh Lạnh Nga-Mỹ Lù Lù Trước Mắt” phổ biến ngày 4/7/2014 tôi đã viết, “Năm xưa Ban AVT có bài hát khôi hài dí dỏm, “như hai cô ca sĩ có thương nhau bao giờ” sau đổi thành “như Nga với Mỹ có thương nhau bao giờ ” sao mà đúng thế. Thực ra không phải chỉ có Nga-Mỹ mới ghét nhau mà bất cứ một đại cường nào cũng chẳng bao giờ “thương” một đại cường khác. Nguyên do, đại cường nào cũng muốn mình bá chủ. Mỹ đang là bá chủ thế giới và lúc nào cũng muốn duy trì ngôi vị ấy muôn đời. Nga thì muốn phục hồi uy thế và sức mạnh của thời Liên Bang Xô-viết và có tiếng nói trong những vấn đề quốc tế. Còn Hoa Lục thì đang muốn vươn lên để giành ngôi bá chủ với Mỹ. Trong cuộc tranh giành ngôi vị “võ lâm chí tôn” đó, ông nào cũng muốn liên kết đồng minh hoặc dụ dỗ, lôi kéo các nước nhỏ vào phe mình. Do đó trong cuộc “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết” sắp tới đây, nước nhỏ nào không có bản lãnh hoặc thiếu suy tính sẽ tự chuốc lấy tai họa.”

Đào Văn Bình
(California ngày 15/3/2015)

Chú thích:
(1) Lyle Denniston là cố vấn nghiên cứu của Trung Tâm Hiến Pháp Quốc Gia Hoa Kỳ

(2) Khuyn tả, khuynh hữu có rất nhiều nghĩa: Chống Mỹ là khuynh tả, theo Mỹ là khuynh hữu. Có thiện cảm với các phong trào cộng sản là khuynh tả, thiện cảm với chủ nghĩa tư bản là khuynh hữu.Ngả theo quyền lợi của giai cấp nghèo khổ (khuynh hướng xã hội) là khuynh tả, ngả theo quyền lợi của các đại công ty tư bản là khuynh hữu.Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, theo Mỹ và NATO là khuynh hữu, theo Nga là khuynh tả.

(3) Posttraumatic stress disorder (PTSD) is a serious mental condition which is a lasting consequence of traumatic events.

9 thg 2, 2011

Sách lược quânsự mới của HoaKỳ tập trung vào Châu Á

http://www.voanews.com/vietnamese/news

Sách lược quân sự mới vạch ra vai trò mà Lục quân, Hải quân, Không quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ sẽ đóng trong việc bảo toàn đất nước trong những năm tới đây

Hôm qua, quân đội Hoa Kỳ công bố văn kiện về sách lược toàn bộ mới từ 6 năm nay, kêu gọi phát triển một lực lượng tập trung nhiều hơn vào Châu Á, là nơi mà văn kiện này cho rằng sức mạnh kinh tế và quân sự đang gia tăng, và bầu không khí sách lược đang thay đổi nhanh chóng. Thông tín viên VOA Al Pessin tại Ngũ Giác Đài đã nói chuyện với một trong các tác giả của sách lược và ghi nhận chi tiết trong bài tường thuật sau đây.

Thế giới ngày nay đề ra một bầu không khí an ninh biến chuyển nhanh chóng và đầy khó khăn, đòi hỏi tăng cường sự lãnh đạo từ phía quân đội Hoa Kỳ, một chính sách có liên quan đến sức mạnh dân sự và quân sự, và thêm quan hệ đối tác với các nước trên khắp thế giới, theo như Sách lược Quân sự Toàn quốc.

Văn kiện 21 trang do ban lãnh đạo quân đội cấp cao nhất của Mỹ công bố xây dựng trên các sách lược đã được công bố bởi các nhà lãnh đạo dân sự của Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài. Sách lược quân sự vạch ra vai trò mà Lục quân, Hải quân, Không quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ sẽ đóng trong việc bảo toàn đất nước trong những năm tới đây.

Ông Roberti cho biết: “Chúng ta phải bố trí lực lượng ở những nơi nào ta nghĩ sẽ có nguy cơ, để chống lại loại nguy cơ mà chúng ta trông đợi sẽ xảy ra.”

Đó là nhận định của Phó Đề đốc John Roberti, thuộc Văn phòng Sách lược và Chính sách của quân đội. Ông nói sách lược mới tập trung vào Châu Á bởi vì kinh tế toàn cầu đang chuyển hướng qua khu vực này, nơi có những sức mạnh quân sự đang nổi lên, và đang xảy ra thay đổi về chính trị.

Ông Roberti nói: “Ta cần phải nhìn vào vị thế quốc phòng ở đó, các khả năng của chúng ta có sẵn ở đó, các mối bang giao, các quan hệ hợp tác, các đồng minh của chúng ta, và tập trung vào khu vực đó để duy trì an ninh. Tôi sẽ không tập trung vào nơi nào có nhiều hay ít binh sĩ hơn, mà vào các khả năng và việc bố trí các khả năng đó ở khu vực này.”

Sách lược chú ý đặc biệt vào Trung Quốc, và nói rằng quân đội Hoa Kỳ phải chuẩn bị sẵn sàng để đáp lại điều được gọi là 'các khả năng chống tiếp cận', mà Trung Quốc đang bành trướng nhanh chóng. Những khả năng đó có thể đe dọa đến các con đường thương mại và hạn chế khả năng của quân đội Hoa Kỳ thực hiện những gì mà các nhà lãnh đạo Mỹ có thể ra lệnh cho họ phải làm.

Văn kiện cũng liệt kê các yếu tố như phổ biến vũ khí, toàn cầu hóa, các thiên tai, tình trạng biến đổi khí hậu, tội phạm trên mạng, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, dịch bệnh, các vụ tranh chấp mậu dịch và các tổ chức cực đoan bạo động như những yếu tố chính trong môi trường sách lược toàn cầu – tất cả, theo ông Roberti, đều hiện diện tại Châu Á.

Ông Roberti nhận xét: “Sự gặp gỡ của các thách thức đó làm nẩy sinh ra một nguy cơ mà muốn đối phó, chúng ta phải theo một chủ trương khác đi, phải hoạch định khác đi và chắc chắn ta phải tính tới trong các kế hoạch hiện thời.”

Ngoài việc phát triển các khả năng chiến đấu thích nghi, sách lược nói rằng quân đội Hoa Kỳ phải dẫn đầu trong việc quy tụ các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ và các đối tác dân sự cũng như quân sự của nước ngoài, kể cả các tổ chức phi chính phủ, để giải quyết những vấn đề đe dọa đến an ninh và ổn định.

Đặc biệt, sách lược kêu gọi hợp tác với các tổ chức khu vực ở Châu Phi và Nam Mỹ để thăng tiến an ninh và ổn định trong những vùng đó. Và mặc dầu được viết trước khi diễn ra các vụ bạo động hiện thời ở Tunisia và Ai Cập, văn kiện này đã nêu ra sự cần thiết phải giải quyết tình trạng bất ổn tiềm tàng ở Trung Đông, bởi vì các vấn đề về chính quyền, và các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa đang chuyển biến.

Văn kiện này nằm trong khuôn khổ một cái nhìn trước vào những ưu tiên của quân đội Hoa Kỳ sau các cuộc chiến tranh ở Iraq, nơi theo dự kiến lực lượng Hoa Kỳ sẽ rút đi trong năm nay, và Afghanistan, nơi quân đội Hoa Kỳ sẽ bắt đầu rời khỏi cũng trong năm nay, với mục tiêu là cuộc triệt thoái đáng kể trước năm 2014.

Các nhà lãnh đạo quân đội sẽ sử dụng sách lược này như một cơ sở kế hoạch, kể cả những yêu cầu về chương trình vũ khí mới hay mở rộng có phần chắc sẽ rất khó nhận được sự tài trợ, căn cứ vào bầu không khí dự chi tại Quốc hội Hoa Kỳ.

http://www.voanews.com/vietnamese/news/us-military-02-09-2011-115629059.html

13 thg 10, 2010

Tướng lãnh Trung Quốc là mối đe dọa


Ngô Nhân Dụng

Trung Quốc đã chịu lùi một bước, trước mặt 10 bộ trưởng quốc phòng Asean và 6 nước khác ở Hà Nội. Robert Gates, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ nhắc lại những lời Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã nói hồi Tháng Bẩy vừa qua, cũng tại thủ đô Việt Nam.
Lần này ông Gates nói mạnh hơn, cứng rắn hơn. Hồi Tháng Bẩy, các viên chức chính phủ và báo nhà nước ở Trung Quốc phản đối mạnh mẽ những ý kiến của bà Clinton. Nhưng Trung Quốc phải đáp lễ một cách ôn hòa.

Quan điểm của Mỹ được ông Gates nhắc lại rất rõ ràng: “Hoa Kỳ luôn luôn sử dụng quyền (tự do lưu thông đường biển) của mình và bảo vệ quyền của các nước khác được thông thương và hoạt động trong hải phận quốc tế. Ðiều đó không thay đổi, cũng như sẽ không thay đổi các cam kết của chúng tôi về những hoạt động chung với các đồng minh và những nước cộng tác.” Những lời này, tuy không nói đến tên Trung Quốc, nhưng phản bác tất cả những điều mà Bắc Kinh đã nêu lên để chỉ trích bà Clinton, khi họ nói Mỹ là người ngoại cuộc muốn xen vào chuyện nội bộ của Á Châu. Robert Gates đã phát biểu trước mặt bộ trưởng quốc phòng các nước Ðông Nam Á và các quốc gia khác gồm Nga, Nhật Bản, Ấn Ðộ, Nam Hàn, và Lương Quang Liệt, bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc. Ngay sau đó, Lương Quang Liệt đã ngỏ lời mời Gates sang thăm Bắc Kinh vào năm tới. Ðầu năm 2010, Bắc Kinh đã bãi bỏ một cuộc thăm viếng của Gates và ngưng mọi liên lạc về quốc phòng với Mỹ, để phản đối việc Mỹ bán hơn 6 tỷ đô la vũ khí tối tân cho Ðài Loan.

Bắc Kinh đã chịu thua trong cuộc đấu ngoại giao này, vì họ nhìn thấy các nước Ðông Nam Á đang phản ứng bất lợi vì mối lo sợ về mối đe dọa của nước cộng sản Trung Hoa. Từ khi Ðặng Tiểu Bình quyết định cải tổ kinh tế năm 1978, ông vẫn chủ trương thân thiện với ngoại bang, đặc biệt là các nước Á Ðông. Trung Quốc đã thành công khi ký được hiệp ước thương mại tự do với khối ASEAN, nhận tiền đầu tư từ Ðài Loan, Nhật Bản và Nam Hàn. Năm nay, tất cả các nước Ðông Nam Á đã đổi thái độ khi Bắc Kinh tuyên bố Nam Hải thuộc loại “quyền lợi cốt lõi” của họ - ngang tầm quan trọng với Ðài Loan và Tây Tạng. Nghĩa là coi vùng biển Ðông của nước ta cũng thuộc lãnh thổ của họ, mặc dù có nhiều quốc gia khác còn đang tranh tụng về chủ quyền trên các hòn đảo. Trong vùng quần đảo Trường Sa, có 29 đảo do Việt Nam, 8 đảo do Phi Luật Tân và 3 đảo do Mã Lai Á chiếm, nhiều đảo đủ lớn có thể xây phi trường; và Ðài Loan chiếm đảo Itu Aba lớn nhất, mặc dù Trung Quốc chỉ chiếm đóng 9 hòn đảo nhỏ nhưng họ lại biểu diễn lực lượng hải quân rất xa với khả năng đe dọa đánh đuổi các nước khác. Lời tuyên bố về “hạch tâm quyền lợi” trên không những làm các nước Ðông Nam Á phải lo đề phòng mà cả Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Mỹ đều coi là một mối đe dọa đối với con đường biển quốc tế này. Chính vì vậy, khi chính quyền Barack Obama bắt đầu tỏ ý bảo vệ quyền thông thương này, các nước Ðông Á đều hoan nghênh.

Trước thái độ và phản ứng của khối ASEAN, đáng lẽ chính phủ Trung Quốc phải trấn an, tỏ ra mềm dẻo hơn để trấn an họ; nhưng Bắc Kinh đã làm ngược lại. Một biến cố khiến tất cả khối Ðông Nam Á thêm lo sợ về thái độ hung hăng của Bắc Kinh, là phản ứng dữ dội của họ sau khi Nhật Bản bắt một thuyền trưởng Trung Hoa vì tầu của ông này đâm vào hai tầu tuần duyên của Nhật, trong vùng đảo Sensaku mà người Trung Hoa gọi là Ðiếu Ngư Ðài, ngày 7 Tháng Chín. Năm 1978, Ðặng Tiểu Bình đã nói: “Hy vọng thế hệ tương lai sẽ khôn ngoan hơn chúng tôi để giải quyết vấn đề này.” Thế hệ Ôn Gia Bảo cũng chưa biết giải quyết vấn đề đảo Ðiếu Ngư ra sao nhưng nhân cơ hội này chứng tỏ họ rất cứng rắn. Ðây là một hòn đảo Nhật chiếm của Trung Quốc năm 1895 cùng lúc chiếm Ðài Loan. Năm 1945, Mỹ đã chiếm đóng sau khi đánh bại Nhật. Mỹ trả lại cho Nhật cùng với Okinawa, thay vì trả cho Ðài Loan, cho nên sinh tranh chấp. Trung Quốc đã ngưng mọi tiếp xúc ngoại giao, bãi bỏ cấp visa cho 1,000 sinh viên Nhật thăm Hội Chợ Thượng Hải, không bán một số kim loại hiếm cần cho kỹ nghệ điện tử. Nhật Bản lo nhất là Bắc Kinh có thể nhân ngày kỷ niệm Sự Biến Lư Cầu Kiểu, 18 tháng 9 năm 1931, khi quân Nhật khiêu khích để tiến đánh chiếm Mãn Châu, thanh niên Trung Quốc sẽ biểu tình chống Nhật khơi lại mối hận thù!

Sau khi Nhật Bản chịu nhường, trả tự do cho viên thuyền trưởng Trung Hoa, một hậu quả bất ngờ là cuộc tranh chấp tay ba ở đảo Sensaku trở thành rắc rối hơn. Chính phủ Mỹ bỗng phải xác nhận rằng hiệp ước an ninh Mỹ Nhật bao gồm cả hòn đảo này, một điều trước đây vẫn để cho mập mờ ai muốn hiểu sao cũng được. Một hậu quả khác là vì Trung Quốc ngưng bán một số nguyên liệu cho Nhật để làm áp lực trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, các công ty Nhật Bản lo đi đặt mua ở nước khác. Các nước Ðông Á bỗng nhiên cảm thấy mối đe dọa của Trung Quốc tăng cường độ, hậu quả là họ sẽ phải thân thiết với Mỹ hơn!

Có thể nói Bắc Kinh rất vụng về, dại dột trong vụ Sensaku, làm cho các nước Á Ðông lo ngại và đề phòng. Rồi sau đó, Bắc Kinh lại tỏ ra rất nhún nhường, hòa hoãn với Mỹ và trấn an các nước khác trong cuộc gặp gỡ tại Hà Nội vào ngày hôm qua; khi Tướng Lương Quang Liệt nói rõ chính sách quốc phòng của Trung Quốc chỉ có tính chất phòng thủ, họ không nhắm thách thức hoặc đe dọa ai, và muốn tăng cường niềm tin cẩn của các nước khác. Từ Ðiếu Ngư Ðài, tới hội nghị ASEAN, ta thấy chính sách ngoại giao của Trung Quốc có vẻ lúng túng, không nhất quán.

Nhưng cũng có thể nhìn theo cách khác để thấy là thật ra không phải giới lãnh đạo Trung Quốc đã dại dột, vụng về. Một lý do gây ra tình trạng lúc cứng quá, lúc mềm quá trên đây là vì trong nội bộ đảng cộng sản Trung Quốc đang có những tranh chấp ngấm ngầm. Phe quân đội trong chính quyền cộng sản đang tìm cách lấn áp phe dân sự, ngay cả trong diễn trình quyết định các vấn đề ngoại giao. Chính giới lãnh đạo quân sự ở Trung Quốc đang muốn tạo ra mối đe dọa cho các nước chung quanh, tác động trên tinh thần ái quốc của người dân, để gia tăng uy quyền của họ trong nội bộ, so với phe dân sự. Ðây là một thủ đoạn để các tướng lãnh tăng thêm ảnh hưởng, chuẩn bị cho việc sắp xếp các vai trò chủ chốt trong đảng Cộng Sản trong kỳ đại hội đảng vào năm 2012 sắp tới.

Trong thời gian gần đây, giới tướng lãnh Trung Quốc xuất hiện rất nhiều trên các diễn đàn quốc tế, được báo chí nhắc nhở đến luôn luôn; vì họ lúc nào cũng có luận điệu rất diều hâu, nhân danh “quyền lợi dân tộc.” Ngày 24 Tháng Chín vừa qua, tại một hội nghị ở Singapore, khi một cựu nhân viên ngoại giao Nhật, ông Hitoshi Tanaka báo tin chính phủ Nhật sắp trả tự do cho viên thuyền trưởng trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, trong khi các người tham dự đều vỗ tay, thì một vị tướng Tầu bày tỏ một thái độ thù hằn và đe dọa, sau khi cựu Ngoại Trưởng Ðường Gia Toàn tỏ thái độ ôn hòa. Tướng Chu Thành Hổ (Zhu Chenghu) giám đốc Nghiên cứu Chiến lược thuộc Ðại học Quốc phòng ở Bắc Kinh, đã đứng lên cảnh cáo chính phủ Nhật rằng đừng tưởng chỉ tuyên bố như vậy là đủ để xây dựng mối bang giao tốt đẹp giữa hai nước. Hành động của Tướng Chu Thành Hồ làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng đó không phải là lần đầu tiên. Vào Tháng Năm vừa qua, khi tiếp đón một phái đoàn viên chức ngoại giao Mỹ, Phó Ðề Ðốc Quan Hữu Phi (Guan Youfei, người Trung Quốc gọi là thiếu tướng Hải Quân) đã lớn tiếng cảnh cáo nước Mỹ đang có hành động bá quyền và coi Trung Quốc là thù địch; câu nói của ông khiến các nhà ngoại giao Trung Quốc có mặt đều bối rối. Ông Quan Hữu Phi cũng có mặt trong phái đoàn Trung Quốc tại hội nghị tại Hà Nội tuần này. Vào Tháng Sáu, Tướng Chu Thành Hồ cùng tướng Mã Hiểu Thiên (Ma Xiaotian), phó tổng tham mưu quân đội Trung Quốc là những người đứng lên chỉ trích ông Robert Gates tại một hội nghị ở Singapore, về vụ Mỹ bán máy bay và hỏa tiễn cho Ðài Loan. Ông Chu Thành Hồ đã từng bị cấp trên phê bình nặng vào năm 2005, sau khi ông tuyên bố với nhà báo rằng bom nguyên tử của Trung Quốc có khả năng tiêu diệt hàng trăm thành phố ở Mỹ, nếu Mỹ can thiệp vào việc giải phóng Ðài Loan! Nhưng tới nay, ông vẫn tiếp tục xuất hiện trong các diễn đàn quốc tế, khiến các nhà ngoại giao dân sự Trung Quốc phải bối rối, không biết ai là người quyết định chính sách ngoại giao.

Trên các diễn đàn quốc nội, các vị tướng lãnh Trung Quốc còn mạnh miệng hơn nữa. Tướng Trương Triệu Ngân (Zhang Zhaoyin), viết trong nhật báo Quân Ðội Nhân Dân là Trung Quốc phải từ bỏ chủ trương lỗi thời là xây dựng một quân lực cho thời bình. Ông nói, nhiệm vụ chủ yếu của quân đội là “chuẩn bị chiến tranh, chiến đấu và thắng trận.” Ông là phó tư lệnh khu quân sự Thành Ðô, tỉnh Tứ Xuyên. Trung Tướng Kim Nhất Nam (Jin Yinan), phó giám đốc Nghiên Cứu Chiến Lược trong Ðại Học Quốc Phòng đã nêu lên chủ trương là Trung Quốc phải là một quốc gia vĩ đại, và “khi một quốc gia và một dân tộc bước vào một giai đoạn khẩn trương, quân đội luôn luôn đóng vai trò chủ yếu” để đạt được mục tiêu của mình. Một giáo sư khác tại Ðại Học Quốc Phòng là Phó Ðề Ðốc Dương Nghị (Yang Yi), ông từng viết: “Một quân đội hùng mạnh là điều quan trọng nhất để bảo vệ quyền lợi quốc gia... Hải Quân Trung Quốc là lực lượng mạnh nhất để ngăn không cho các nước khác xâm phạm quyền lợi hàng hải của Trung Quốc.” Ông Dương Nghị cũng cảnh cáo các nước khác, không nêu rõ tên, là họ không nên lầm tưởng rằng Trung Quốc sẽ không dám dùng vũ lực chỉ vì muốn phát triển kinh tế một cách hòa bình. Ông nói hiểu lầm như vậy là rất nguy hiểm! Ông cũng từng nói Nhật Bản và Nga không có khả năng nhưng nước Mỹ là nước duy nhất đe dọa an ninh của Trung Quốc.

Một luận điệu đáng sợ nhất của giới tướng lãnh Trung Quốc là quan niệm về “biên cương quyền lợi quốc gia” mà một nhà bình luận trên nhật báo Quân Ðội Nhân Dân ở Bắc Kinh nêu lên. Ông Hoàng Côn Luân (Huang Kunlun) đã viết rằng quyền lợi của Trung Quốc vượt ra ngoài lãnh thổ, hải phận của họ, mà phải bao gồm cả những vùng biển mà tầu thủy Trung Quốc lưu thông, cũng như trong không gian. “Với sứ mạng lịch sử của chúng ta, quân đội Trung Quốc không những phải bảo vệ lãnh thổ mà còn phải bảo vệ ‘biên cương quyền lợi’ của nước mình.” Nói như vậy là bành trướng nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của quân đội Trung Quốc lên gấp bội, không khác gì ông Robert Gates nói về nhiệm vụ của quân đội Mỹ! Chính quan niệm “biên cương quyền lợi” này đưa tới việc coi Biển Ðông của Việt Nam là vùng quyền lợi cốt lõi của người Trung Hoa.

Với những vị tướng hay lớn tiếng như trên, giới quân sự Trung Hoa đang lấn quyền các người lãnh đạo dân sự. Không những họ thường xuất hiện trên hệ thống truyền thông của nhà nước, mà họ còn viết sách bán rất chạy, khi bàn về các vấn đề quyền lợi quốc gia! Hiện nay trong guồng máy quyền lực Trung Quốc, bộ phận nắm quyền rất lớn là Quân Ủy Trung Ương. Mà trong số 11 người thuộc hội đồng này chỉ có một người dân sự là Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào. Trong tuần này, ông Tập Cận Ðình sẽ được bầu làm phó chủ tịch quân ủy, để chuẩn bị cho ông thay thế Hồ Cẩm Ðào vào năm 2012. Giới lãnh đạo dân sự mải lo các vấn đề kinh tế, xã hội, cho nên không đủ thời giờ và mưu trí mà đặt giới quân nhân vào khuôn khổ, như giới tướng lãnh Mỹ vẫn phải nằm dưới sự chỉ huy của các nhà lãnh đạo chính trị dân sự.

Cho nên, mối đe dọa lớn nhất đối với vùng Ðông Nam Á không phải là tất cả guồng máy chính trị của đảng cộng sản Trung Quốc mà chính là giới tướng lãnh của nước này. Theo nhật báo Wall Street, trong Tháng Chín năm 2010, chính các tướng lãnh Trung Quốc đã yêu cầu giới lãnh đạo phải điều động hải quân để đe dọa Nhật Bản trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, và họ cũng đề nghị Bắc Kinh hãy đẩy đồng Yen của Nhật lên cao để ảnh hưởng trên việc xuất cảng của Nhật. Khi Bắc Kinh đứng ra mua mấy tỷ công trái của chính phủ Nhật, đồng Yen đã lên giá, sau đó bộ trưởng Tài Chánh Nhật phải chính chức đặt câu hỏi Trung Quốc có ý đồ gì khi đem đô la mua Yen, cho nước Nhật vay nợ một cách hào phóng như vậy? Lập tức, chính phủ Nhật đã in thêm đồng Yen để đi mua đô la Mỹ, giảm giá đồng tiền của họ xuống!

Nếu các tướng lãnh gây được ảnh hưởng trên chính sách ngoại giao của Bắc Kinh, thì đó là một mốt đe dọa cho cả vùng Châu Á. Họ có thể thay đổi đường lối ngoại giao từ hòa hoãn sang gây hấn; đặc biệt là đối với một nước nhỏ lân bang như Việt Nam thì từ gây hấn có thể chuyển tới hành động xâm lăng!

21 thg 9, 2010

Trung Hoa khuyến cáo Hoa Kỳ

Jiang Yu phát ngôn viên của bộ Ngoại giao Trung Hoa


Nguyễn việt Việt chuyển ngữ

Trung Quốc vẫn khuyến cáo Hoa Kỳ đừng nên can thiệp vào cuộc tranh chấp địa phương, nhất là về đòi hỏi của họ đối với vùng biển nam Trung hoa (tức vùng biển đông giũa Việt Nam và Phi). Và họ cho rằng sự can thiệp này sẽ làm tình hình thêm phức tạp.

Tuần qua, khi Hoa Kỳ và các quốc gia vùng Đông nam Á có thể thông báo một văn kiện chung vào ngày 24 tháng 9 này nhằm nhấn mạnh với Trung Quốc về những hoạt động gần đây của họ gần những đảo đang trong vòng tranh chấp trong vùng biển Đông.

Trung Hoa đã và đang mạnh mẽ xác quyết chủ quyền lãnh thỗ của họ, nhất là vùng biển liên hệ.

Trong tuần qua, Trung hoa đã hoãn lại mối giao dịch cao cấp với Nhật và đã hứa hẹn có những biện pháp trả đũa mạnh mẽ sau khi tòa án Nhật giữ lại người thuyền trưởng của chiếc tàu Trung Hoa đã va chạm hai chiếc tàu tuần dương của Nhật trong vùng đảo đang tranh chấp giữa hai nước.

" Chúng tôi rất quan tâm bất kỳ lời tuyên bố nào dù từ Hoa Thịnh Đốn hay từ các nước trong khối ASEAN " Người phát ngôn viên của bộ ngoại giao Trung Hoa, bà Jiang Yu lên tiếng trong một cuộc họp báo ngắn. ASEAN là một tổ chức 10 quốc gia quanh vùng dông nam Á".

" Chúng tôi, Trung Quốc, hoàn toàn phản đối bất kỳ quốc gia nào không liên hệ với vùng biển này tham dữ vào cuộc tranh chấp. Chúng tôi cũng phản đối bất kỳ tính chất quốc tế hóa cũng như đa phương hóa vấn đề liên hệ. Tất cả những sự việc trên không thể giải quyết được vấn đề, mà chỉ làm tăng thêm tình trạng phức tạp "Người phát ngôn của bộ ngoại giao Trung quốc lên tiếng.

Hoa Thịnh Đốn đã chỉ trích về những đòi hỏi của Trung Hoa về chủ quyền trên vùng biển mà nhiều nước trong hội ASEAN bao gồm Việt Nam, Maylaysia, Philippines cũng cho rằng họ có chủ quyền trên khu vực biển này.

Trung Hoa nói rằng Trung Hoa có chủ quyền trên các vùng biển này, khu vực đầy hải sản, cũng như tiềm năng dầu hỏa và khí đốt vô tận.
Trung Quốc đã giận dữ vào tháng bảy, 2010 khi Hoa Kỳ đưa vấn đề này ra trong phiên họp khu vực, gây nên sự căng thẳng giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn đồng lúc với những cuộc canh cải về giá trị của đồng bạc Trung Hoa, vấn đề Tây Tạng và vấn đề Đài Loan.
Mặc dù không có nhiều cuộc đụng độ quân sự dữ dội trong nhiều năm qua, trừ hao cuộc hải chiến với Việt Nam vào năm 1974 và 1979 để chiếm quần đảo Hoàng Sa. Hiện nay Trung Hoa và các nước quanh vùng biển Đông đang xây dựng, phát triển lực lượng quân sự của họ.

From Reuters

30 thg 8, 2010

TQ sẽ thực hiện cuộc thao diễn hải quân bắn đạn thật tại Hoàng Hải

Biển Hoàng Hải bao gồm hầu hết là hải phận quốc tế nhưng Trung Quốc coi vùng đó như nằm trong vòng đai an ninh của họ

http://www.voanews.com/vietnamese

Trung Quốc sẽ tổ chức cuộc thao diễn hải quân bắn đạn thật tại Hoàng Hải trong tuần này, sau khi lên tiếng phản đối những cuộc tập trận tương tự được tổ chức tại đó của Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên.

Hôm Chủ Nhật, Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói rằng Hạm Đội Bắc Hải sẽ thực hiện cuộc tập trận từ Thứ Tư tới Thứ Bảy.

Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã hoạch định cuộc tập trận chung tại vùng biển này vào đầu tháng tới, mặc dầu ngày giờ chưa được loan báo rõ.

Biển Hoàng Hải bao gồm hầu hết là hải phận quốc tế nhưng Trung Quốc coi vùng đó như nằm trong vòng đai an ninh của họ.

Ngũ Giác Đài thì nói rằng, các cuộc tập trận giữa Hoa Kỳ với Nam Triều Tiên có ý gởi một cảnh cáo tới Bắc Triều Tiên rằng chính phủ Washington có ý định bảo vệ đồng minh của mình.

Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã thực hiện cuộc thao dượt hải lực và không lực chung tại Biển Nhật Bản trong vùng kế cận sau vụ đánh đắm một chiến hạm của Nam Triều Tiên hồi tháng Ba làm 46 thủy thủ thiệt mạng. Seoul và các đồng minh của họ nói rằng, chiến hạm Cheonan bị tấn công bằng ngư lôi của Bắc Triều Tiên.

24 thg 8, 2010

Hãy vững tay lái khi bẻ ngoặt

Bùi Tín

Có những dấu hiệu cho thấy Bộ Chính trị đảng CS Việt Nam vừa có quyết định quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại, đó là khẳng định mạnh mẽ hơn chủ quyền quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc độc chiếm và một phần trên quần đảo Trường Sa, mà một bộ phận đã bị Trung Quốc chiếm đoạt; những người lãnh đạo Việt Nam bác bỏ mạnh mẽ hơn lời khẳng định của Bắc Kinh là toàn bộ 2 quần đảo này và vùng biển Đông là thuộc về họ, hơn nữa, còn là "vùng quyền lợi cốt lõi" của họ.

Việt Nam cũng tỏ ra cứng rắn hơn khi khẳng định những tranh chấp trong vùng biển Đông cần giải quyết theo con đường thương lượng đa phương giữa những nước liên quan, bác bỏ con đường thương lượng tay đôi, theo sách lược “bẻ từng chiếc đũa”.

Trong khi đó, mối quan hệ Việt - Mỹ có những biểu hiện gần gũi hơn, thân thiện hơn, đặc biệt là về mặt chiến lược, về mặt quốc phòng và an ninh.

Những biến chuyển nói trên đã làm cho chính giới Trung Quốc lo ngại, bất bình và một bộ phận hiếu chiến còn nổi cơn giận dữ xung thiên, với những lời lẽ quá đáng.

Bà Lý Hồng Mai, nhà bình luận chính trị của Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh lu loa là Hoa Kỳ đang lôi kéo Nhật, Úc, Việt Nam và khối Đông Nam Á vào một NATO phương Đông nhằm chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc.

Tướng Lạc Nguyên thuộc Viện Nghiên cứu Quốc phòng gọi chính sách mới của Hoa Kỳ ở biển Đông là “chính sách pháo hạm”, khẳng định Trung Quốc không tấn công trước (!) và sẽ trả đũa đích đáng nếu có ai đụng đến vùng quyền lợi cốt lõi của mình.

Tướng hải quân Dương Nghị lên tiếng huênh hoang rằng Trung Quốc quyết không để uy tín của mình bị tổn hại, Trung Quốc sẽ chống trả đích đáng và Washington sẽ phải trả giá.

Trên báo China Daily ở Hoa Nam còn có cả lời dọa là Trung Quốc cần sớm ngăn chặn Nam Triều Tiên và răn đe kịp thời Việt Nam, không thể để Hoa Kỳ lập vòng bao vây Trung Quốc.

Học giả Sun Zhe, giám đốc trung tâm nghiên cứu quan hệ Trung - Mỹ của Đại học Thanh Hoa viết «Hoa Kỳ dùng bàn tay của Việt Nam để khuấy động bùn lầy vùng Đông Nam Á nhằm khiêu khích Trung Quốc»!

Chưa thấy báo chí Hà Nội, nhất là báo Nhân dân, báo Quân đội Nhân dân lên tiếng trả lời những tiếng nói kích động, đe doạ, cao ngạo đối với nước ta, nhất là những bài báo chính thức trên Nhân dân nhật báo Bắc Kinh là cơ quan ngôn luận của đảng CS Trung Quốc.

Vì sao vậy?

Vậy thì việc xích lại thân thiện với Hoa Kỳ, việc đối thoại cấp cao về chiến lược - quốc phòng giữa 2 nước là thật lòng, thực sự, sau một cuộc xem xét tập thể nghiêm cách, hay chỉ là thủ đoạn chiến thuật, một tính toán nhất thời, một giải pháp tình thế, nhằm đối phó với sự bất ổn xã hội, do sự nhượng bộ quá đáng thế lực bành trướng, xúc phạm lòng tự tôn dân tộc đúng vào các lễ kỷ niệm lớn, như Đại lễ Ngàn năm Thăng Long sắp đến gần?

Vậy thì nhân dân ta hãy tham khảo những ý kiến của Luật sư Cù Huy Hà Vũ, với lời kết luận: “Đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại», nói rõ đó là con đường đúng đắn, cần thiết vì phát triển bền vững, vì an ninh của dân tộc, đang có cơ hội hiếm không thể bỏ qua; hãy tìm đọc bài luận văn vủa Tiến sỹ Bùi Quang Vơm “Công khai chính danh việc kết đồng minh với Mỹ», không phải chỉ vì Mỹ giàu nhất, mạnh nhất, mà vì Mỹ đàng hoàng, không hề có tham vọng gì về đất đai, tài nguyên đối với nước ta. Khi kết thân và có lòng tin nhau, Mỹ cùng châu Âu, Úc, Nhật Bản - cũng đều là đồng minh vững chắc của Mỹ - tất cả sẽ là nguồn đầu tư, viện trợ, kiến thức, kinh nghiệm hùng hậu và vô giá cho nước ta. Nước ta sẽ bước vào thời kỳ phát triển cao hơn hẳn hiện tại.

Hãy nghe về phía Hoa Kỳ, những thông điệp làm phấn chấn nhân dân ta. Trong lễ kỷ niệm 15 năm quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ ngày 29-6-2010, đại sứ Mỹ Michael Michalak cho biết «Hoa Kỳ cam kết tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện với Việt Nam; chúng tôi tin rằng duy trì quan hệ quân sự mạnh mẽ giữa 2 nước sẽ đóng góp cho hòa bình và ổn định của khu vực». Ông cho biết 15 năm qua, thương mại Mỹ - Việt tăng đến 3.300%; năm qua Mỹ đã là chủ đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam, thương mại 2 chiều đạt US$ 13,4 tỷ. Ông cũng báo tin Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates sẽ đến Việt Nam tham dự cuộc họp Bộ trưởng quốc phòng các nước ĐNÁ mở rộng, và chuyến thăm chính thức Việt Nam của tổng thống Hoa Kỳ Barak Obama cũng đang được chuẩn bị.

Thêm một tín hiệu mạnh nữa, ngoại trưởng Hillary Clinton cuối tháng 7 vừa qua khi dự họp tại Hà Nội đã triệu tập riêng 4 nước là Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam trong “Nhóm Sáng kiến về Hạ lưu sông Mêkông” thành lập do sáng kiến của Hoa Kỳ, để thảo luận về sự hỗ trợ của chính phủ Hoa Kỳ cho 4 nước này nhằm đối phó với thay đổi khí hậu trong khu vực, đang bị ảnh hưởng bởi những đập lớn của Trung Quốc ở thượng nguồn.

Những tín hiệu công khai, mạnh mẽ khác của Hoa Kỳ là Lầu năm góc công khai tuyên bố trọng điểm chiến lược quân sự của Hoa Kỳ đã chuyển từ Đại Tây Dương của thời Chiến tranh Lạnh sang Thái Bình Dương, và 3 tàu ngầm nguyên tử là Michigan có bến đậu ở Pusan (Hàn quốc), Ohio có bến đậu ở vịnh Subic (Philippines) và Florida có bến đậu tại hải cảng Diego Gracia ở Ấn Độ Dương, mặc cho Bắc Kinh lu loa là đang bị bao vây, thách thức và không thể để yên. Báo Mỹ không dấu diếm là 3 tàu ngầm nói trên được trang bị tổng cộng 462 tên lửa Tomahawk, mỗi tên lửa này có thể bắn mục tiêu cách xa 1.500 kilômét một cách cực kỳ chính xác.

Cũng nên nhận rõ một biến chuyển rất mới và hệ trọng, đó là thái độ và lập trường của chính quyền Barak Obama thuộc đảng Dân chủ ngày càng rõ ràng đối với Trung Quốc. Nhiều người quan sát thời sự xưa nay cho rằng chính quyền của đảng Dân chủ Mỹ thường bị dư luận chung cho là không mạnh mẽ đối với chính sách bành trướng của Bắc Kinh trong khi đảng Cộng hòa thường được coi là cứng rắn hơn. Thật ra không phải vậy.

Qua những sự kiện gần đây, chính quyền Obama còn tỏ ra có trách nhiệm hơn, sáng suốt hơn, nhìn xa trông rộng hơn các chính quyền tiền nhiệm.

Một số học giả Mỹ cho rằng các chính quyền trước đây ở Washington vì muốn cô lập Liên Xô, ra sức tranh thủ Trung Quốc nên đã quá rộng lượng, nuông chiều, ve vãn Đặng Tiểu Bình, ồ ạt đầu tư, cung cấp kỹ thuật hiện đại cho Trung Quốc suốt từ 1980 cho đến 1989, giúp cho Trung Quốc phát triển mạnh để ngày nay thách thức Hoa Kỳ.

Nay chính quyền Barack Obama đã nhìn ra nguy cơ Trung Quốc; các chuyên gia trên Wall Street Journal và tạp chí Foreign Affairs gọi nguy cơ quốc tế đó là Chủ nghĩa Đế quốc Đại Hán tộc - Ta Han Empire, Ta Han Imperialism. Đảng Dân chủ nêu cao trách nhiệm gìn giữ hoà bình, an ninh, chống bành trướng và chống khủng bố trên toàn thế giới. Hoa Kỳ ngày nay không coi Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm, cùng chia sẻ trách nhiệm với Hoa Kỳ để giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế. Hoa Kỳ ngày nay coi Trung Quốc là một đối trọng chiến lược cần cảnh giác và ngăn chặn thói cao ngạo, bành trướng với tham vọng bá chủ toàn cầu không che dấu.

Không gì rõ hơn là việc bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố mạnh mẽ trước các nhà lãnh đạo Asean và quốc tế rằng biển Đông là vùng giao thông hàng hải quốc tế, quan hệ đến quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ và các nước khác. Tuyên bố này làm cho ngoại trưởng Trung Quốc bị bất ngờ, nổi giận, bỏ ra khỏi phòng họp, để trở lại nói như kẻ mất trí, còn hướng vào đại diện Singapore để trút giận: Trung Quốc là nước lớn, nhà ngươi là nước nhỏ.

Ngay sau đó bà Clinton được ví như Henry Kissinger hồi 1971, trong cuộc đảo ngược liên minh, kết thân của chính quyền Nixon với Bắc Kinh để cô lập Liên Xô, còn nay là kết thân với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là với Việt Nam. Thông điệp của bà Clinton rất rõ: Hoa Kỳ có trách nhiệm trở lại châu Á, và trở lại đàng hoàng trên thế mạnh, với những bạn đồng minh đông.

Hoa Kỳ nhận ra rằng Trung Quốc cần một thời gian khoảng 15 đến 20 năm để phát triển đều đặn kinh tế với tốc độ cao (10-12% / năm), từ đó tăng cường quân sự. Đây là thời kỳ quá độ, với lời trăng trối của Đặng Tiểu Bình là thu mình lại, chớ gây gỗ, hãy nín thở qua sông. Vì nôn nóng, vì kiêu ngạo, Bắc Kinh nay đã quên khuấy lời ông Đặng.

Bắc Kinh huênh hoang tuyên bố biển Đông là vùng quyền lợi cốt lõi, bố trí một nghìn tên lửa hướng vào Đài Loan mà họ coi là đất Trung Hoa, là đồng bào Trung Hoa, để yên cho Bắc Triều Tiên bắn chìm tàu Cheonan của Nam Triều Tiên, để cho Bình Nhưỡng dọa dùng bom nguyên tử, để rồi cuối cùng vẫn phải nhận ngồi vào đàm phán 6 bên. Tất cả những điều trên đây chỉ bộc lộ thế cô, lực yếu ở châu Á, ở ngay Đông Nam Á, khi Hoa Kỳ đã kết liên minh chính trị - quân sự chặt chẽ với Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, còn thắt chặt liên minh quân sự với Philippines, Thái Lan, Indonesia… và đang chìa tay bè bạn với Việt Nam, với việc nâng cao quan hệ chiến lược quốc phòng - an ninh có lợi cho 2 nước.

Việc bẻ lái chiến lược của chính quyền Việt Nam trước tình hình mới, trong sự chìa tay bè bạn đầy thiện chí của Hoa Kỳ vẫn chưa được biểu lộ rõ ràng, minh bạch.

Bộ Chính trị ở Hà Nội có nhất trí đồng thuận về một thay đổi liên minh rất mạnh dạn này hay không? Họ có còn giữ phương châm 16 chữ vàng, coi Trung Quốc là «đồng chí tốt» nữa hay không? Ngày 1 tháng 10 này – đúng ngày quốc khánh của Trung Quốc - vẫn khai mạc Đại lễ Kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long, gắn với Năm hữu nghị Việt – Trung?

Nếu thật sự là một cuộc bẻ lái chiến lược đầy bản lĩnh của lãnh đạo và ắt mang lại hứng khởi trong đồng thuận cao độ của toàn dân, sao không thấy sự hứng khởi ấy bùng nổ khắp nơi trên đất nước ta, như lẽ ra là phải thế.

Hay là nhân dân ta còn hoài nghi, vì thời gian «Bắc thuộc» - theo ngôn từ của cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch - kéo dài đến 20 năm, sự từ bỏ một mối liên minh sâu đậm không hải là dễ dàng êm dịu.

Xin nhớ rằng mỗi cuộc bẻ lái trên con đường gập gềnh trắc trở, đều không dễ dàng đơn giản. Sau khi nhận ra đường lối sáng sủa, hướng ra đại lộ của thế giới văn minh, người cầm lái phải tỉnh táo, tự tin, vững tâm bẻ ngoặt vào hướng đúng. Hoang mang, do dự, không quả đoán, không dứt khoát, ngập ngừng, run tay lái, có thể dẫn đến thảm họa, đưa cỗ xe vào bãi lầy hay xuống vực.

Hay đây là một sự chỉ đạo khôn khéo, cao tay ấn, từ từ, nhẹ nhàng bẻ lái vào xa lộ văn minh, nhưng không ồn ào, lấy thực chất làm trọng, tránh những căng thẳng không cần thiết đối với nước lớn lắm mưu thâm và thù dai?

Còn như nếu các nhà lãnh đạo vẫn ỡm ờ, lo cho phe phái mình hơn là lo cho dân, cho nước, chơi trò dại dột bắt cá 2 tay, một tay vẫn liên minh ma quỷ, một tay vẫn giả liên minh với bè bạn chân thành, tạm tránh búa rìu của công luận, của đông đảo trí thức, của tướng lĩnh, binh sỹ, cựu chiến binhthì hãy coi chừng, sự phẫn nộ của nhân dân và binh sỹ yêu nước bị dồn nén quá lâu,sẽ không có giới hạn khi bùng nổ.

Với thời gian mọi sự sẽ rõ ràng minh bạch. Cầu mong cho sự phán đoán tốt lành nhất là hiện thực hiển nhiên.

20 thg 8, 2010

Hoa Kỳ và Trung quốc xác định thái độ tại Biển Đông

Viết bởi Giáo sư Carl Thayer (Trần Bình Nam phóng dịch)

Lời giới thiệu : Tháng 7/2010 có hai biến chuyển đáng quan tâm tại Á châu. Thứ nhất, hội nghị của Diễn Đàn An Ninh Á châu (Asean Regional Forum – ARF) họp thường niên tại Hà Nội. Tại hội nghị, Hoa Kỳ tuyên bố chính sách mới tại Biển Đông. Thứ hai, Hải quân Hoa Kỳ và Nam Hàn tập trận tại vùng biển chung quanh bán đảo Triều Tiên (1) .

Trước đó cũng trong tháng 7/2010, giáo sư Carlyle Thayer ở Úc viết bài “The United States and Chinese Assertiveness in the South China Sea” (Hoa Kỳ và Trung quốc xác định thái độ tại Biển Đông) với đầy đủ chi tiết về sự tranh chấp Biển Đông giữa Trung quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ. Tài liệu ngắn gọn, nhưng súc tích giúp cho những ai muốn tìm hiểu về các vấn nạn của Biển Đông trong mấy chục năm qua.

Sau đây là bản lược dịch. Gíao sư Thayer bắt đầu bài viết bằng cách nói đến sự quan trọng của căn cứ Hải quân Trung quốc tại Hải Nam và vụ tàu Trung quốc chận đường chiến hạm Impeccable của Hải quân Hoa Kỳ và những lời tuyên bố chủ quyền của Trung quốc trên Biển Đông. Ba động tác này là một thách thức các nước chung quanh vùng Biển Đông và Hoa Kỳ. Gíao sư Thayer đưa ra 3 nguyên nhân gỉải thích tại sao Trung quốc lại có thái độ giành quyền kiểm sóat Biển Đông. Và sau cùng đưa ra 7 đề nghị giúp giải quyết căng thẳng tại đó .

Bối cảnh

Với chính sách chính thức tuyên bố là “hòa bình, hợp tác và phát triển” (peace, cooperation and development) Trung quốc đã theo đuổi chủ thuyết tạo một thế giới “hài hòa” (harmonious world) qua đường phát triển kinh tế và góp phần duy trì hòa bình thế giới.

Trung quốc rất thành công trong chính sách kinh tế nhắm vào xuất cảng là chính, và việc này đòi hỏi năng lượng. Hai nhu cầu, phát triển kinh tế và đầy đủ năng lượng đòi hỏi Trung quốc lo bảo đảm sự lưu thông của các đường biển huyết mạch gần lục địa Trung quốc. (Sea Lines of Communications – SLOCs).

Mặc dù thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng kinh tế của Trung quốc vẫn rất mạnh trong vùng. Trung quốc đặc biệt có vị thế quan trọng vì Trung quốc là chủ nợ 2 trillion mỹ kim mà con nợ là Hoa Kỳ.

Để giúp giải quyết khủng hoảng kinh tế thế giới Trung quốc giải tỏa ngân khoản kích thích kinh tế (stimulus package) trong nước, chính yếu trong ngành xây cất và ngoài nước bỏ nhiều tiền đầu tư làm cho Trung quốc càng có uy thế khi kinh tế thế giới vãn hồi dần.

Nhờ sức mạnh kinh tế, Trung quốc cải tiến trang bị quân đội như tăng cường hỏa tiễn đặt trên đất liền và trên biển đồng thời cải thiện kho vũ khi nguyên tử để đối đầu với kho vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ.

Trung quốc còn phát triển hỏa tiễn tầm ngắn và tầm trung dùng vào việc tấn công Đài Loan trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập. Đồng thời Trung quốc tăng cường sức mạnh của Hải quân để bảo vệ các đường giao thông trên biển và bảo đảm không ai có thể chận eo biển Malacca.

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc châu từng nhận xét rằng sự phát triển quân lực Trung quốc vượt ngoài nhu cầu tự vệ, và ngân sách quốc phòng Trung quốc công bố chỉ là một phần của ngân sách thực chi . Từ năm 1997 đến nay ngân sách quốc phòng Trung quốc tăng 500%. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ nói rằng Trung quốc đặc biệt tăng cường lực lượng Hải quân nhằm có khả năng đối phó với các căn cứ Hải quân Hoa Kỳ trong vùng Á châu.

Các nhà nghiên cứu chiến lược cho rằng Trung quốc đang nới rộng vòng đai phòng thủ tại tây Thái Bình Dương ra vòng đảo ngoài Biển Nhật Bản, Biển Phi Luật Tân và Biển Nam Dương bao gồm cả quần đảo Marianas và Palau tiến sát đến đảo Guam của Hoa Kỳ. Tháng Ba & tháng Tư vừa qua (2010) Hải quân Trung quốc cho tập trận tại phía Nam đảo Okinawa.

Cuộc tập trận đầu tiên trong tháng Ba gồm 6 chiến hạm thuộc Hạm đội Bắc hải tập đánh nhau với Hạm đội Nam hải. Sau đó Hạm đội Bắc hải băng qua eo biển Bashi phía bắc Phi Luật Tân vào neo tại Fiery Cross Reef thuộc quần đảo Trường Sa trước khi tiếp tục tập trận tại phía đông eo biển Malacca.

Cuộc tập trận thứ hai gồm 10 chiến hạm thuộc Hạm đội Đông hải diễn tập tại phía đông bờ biển Đài Loan cùng với máy bay căn cứ trên đất liền tập tiếp tế nhiên liệu trên không, bay đêm, bay tránh radar và thực tập oanh tạc trên biển.

Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương nói sự phát triển lực lượng của Trung quốc làm thay đổi cán cân quân sự trong vùng Thái Bình Dương.

Quan hệ giữa Trung quốc và Hoa Kỳ là quan hệ vừa tranh đua vừa hợp tác, trong đó Đài Loan chiếm một vị trí quan trọng. Trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Bush, quan hệ giữa hai bên có chiều dịu xuống, nhưng trong những tháng 9 & 10/2008 Trung quốc ngưng các chương trình hợp tác quân sự khi Hoa Kỳ quyết định bán 6.5 tỉ mỹ kim vũ khí cho Đài Loan. Sau khi tổng thống Obama đắc cử, Trung quốc tiếp nối lại quan hệ quân sự. Bộ trưởng ngoại giao hai nước thăm viếng qua lại. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc Hồ Cẩm Đào gặp nhau không chính thức qua các buổi họp G-20 tại Luân Đôn và Pittsburgh. Cuối năm 2009 tổng thống Obama chính thức thăm viếng Bắc Kinh. Trước khi lên đường tổng thống Obama nói ông cho rằng sự vươn lên của Trung quốc không có tính đe dọa ai. Tuy nhiên đầu năm 2010, ông Obama chấp thuận một đợt bán vũ khí khác cho Đài Loan và Trung quốc lại ngưng các chương trình hợp tác quân sự.

Ý nghĩa chiến lược của căn cứ Hải quân Yulin

Năm 2007 vệ tinh dân sự của Anh khám phá Trung quốc xây cất gần xong một căn cứ Hải quân lớn tại Yulin gần thành phố Sanya nằm ở cực nam đảo Hải Nam. Khi hoàn tất căn cứ này có khả năng đưa Hải quân Trung quốc vào hoạt động tại Thái Bình Dương và Biển Đông.

Các hình chụp được cho thấy các hầm và cầu tàu tại Yulin có khả năng đồn trú nhiều chiến hạm và tàu ngầm. Các cầu đang xây có khả năng làm chỗ đậu cho các chiến hạm tấn công loại lớn và hàng không mẫu hạm.

Đồng thời Trung quốc cho cải tiến phi trường tại đảo Woody trong quần đảo Paracels và xây một đài radar tại Fiery Cross Reef trong quần đảo Trường Sa, và các đơn vị Hải quân khác hiện diện gần như thường trực tại Mischief Reef ở phía tây Phi Luật Tân. Các căn cứ và cơ sở này cho Trung quốc khả năng bảo vệ quyền “tự biên tự diễn” của mình trên Biển Đông, và sự giao thông qua lại của hai eo biển Malacca và Singapore.

Căn cứ Yulin giúp rút ngắn đường tiếp vận cho hạm đội Trung quốc hoạt động trong Biển Đông và gián tiếp đe dọa sự tự do lưu thông của thương thuyền các nước Nhật, Đài Loan và Nam Hàn.

Một phần căn cứ Yulin nằm dưới hầm không thể chụp hình bằng vệ tinh, nên không thể xác định được khả năng thật sự của nó. Phần chụp được cho thấy căn cứ Yulin đã có khả năng đồn trú tàu ngầm mang hỏa tiễn liên lục địa. Cuối năm 2007 người ta thấy tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ hai thuộc Loại Jin 095 tại căn cứ Yulin. Trước đây loại tàu ngầm này chỉ có mặt trong Hạm đội Bắc hải.

Khi Yulin hoàn tất căn cứ này sẽ là căn cứ tàu ngầm tấn công của Hải quân Trung quốc. Hiện nay Trung quốc chưa đóng xong các tàu ngầm tối tân, nhưng khi xong Trung quốc có tàu ngầm mang 12 hỏa tiễn có khả năng phóng ngoài biển. Và đây là lực lượng đáng quan ngại khi Trung quốc trang bị chúng với hỏa tiễn nhiều đầu đạn nguyên tử. Chung quanh đảo Hải Nam là vùng nước sâu nên tàu ngầm Trung quốc có thể ẩn náu để phóng hỏa tiển một cách kín đáo. Theo Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ Trung quốc sắp hoàn tất 5 tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn (SSBN), một số sẽ được đồn trú tại Yulin.

Căn cứ Yulin như vậy có khả năng thay đổi cán cân lực lượng trên Biển Đông và là một trở ngại cho sự đi lại của Hải quân Hoa Kỳ (theo nhận xét của Đô đốc Willard) cũng như của Hải quân các nước chung quanh Biển Đông như Việt Nam và Phi Luật Tân.

Trung quốc quấy nhiễu tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ

Tháng Hai-Ba 2009 chiến hạm Hoa Kỳ USNS Impeccable đang làm công tác dò đáy biển tại một vùng cách mũi nam đảo Hải Nam 75 hải lý để đo lường khả năng hoạt động của tàu ngầm Trung quốc xuất phát từ căn cứ Yulin thì ngày 5/3 một chiến hạm nhỏ của Trung quốc chạy chận đầu không quá 100 mét mà không báo trước bằng vô tuyến. Hai giờ sau một máy bay quân sự Trung quốc lọai Y-12 bay thật thấp trên chiếc Impeccable, và chiến hạm Trung quốc trở lại chận đầu chiếc Impeccable lần này cách xa khỏang từ 400 đến 500 mét.

Ngày 7/3 một chiến hạm thu thập tin tức tình báo của Hải quân Trung quốc đến sát chiếc Impeccable dùng vô tuyến liên lạc với đài chỉ huy yêu cầu chiếc Impeccable rời vùng hoạt động nếu không “sẽ lãnh hậu quả”. Hôm sau 8/3 Trung quốc cho 5 chiếc tàu bám theo chếc Impeccable (một chiếc thuộc sở kiểm ngư, một chiếc thuộc Viện hải học, một chiến hạm tuần duyên và hai chiếc giả cào (trawler) (2). Hai chiếc trawler tiến sát chiếc Impeccable 15 mét phất cờ Trung quốc bảo Impeccable rời khỏi khu vực tức khắc. Chiếc Impeccable dùng vòi phun nước đuổi tàu Trung quốc. Sau đó chiếc Impecable yêu cầu tàu Trung quốc tránh đường để rời khu vực an toàn tránh tạo khủng hoảng. Có lúc chiếc Impeccable phải ra lệnh lùi máy để tránh húc vào hai chiếc trawler. Khi Impeccable rời vị trí, ngư phủ các chiếc trawler dùng câu móc định cắt đứt dây kéo máy dò đáy biển (Sonar) của tàu Impeccable.

Ngày 11/6 Hải quân Trung quốc lại gây sự với Hải quân Hoa Kỳ khi cho tầu ngầm tìm cách cắt máy Sonar của chiếc USS John S. McCain khi chiếc tàu này đang thao dượt với hải quân Nam Dương và Phi Luật Tân .

Hai cuộc đụng chạm này cho thấy với thái độ của Trung quốc Biển Đông có thể là nơi bùng phát những sự cố bất ngờ.

Trung quốc xác định thái độ chủ quyền tại Biển Đông.

Từ năm 2007 Trung quốc đã làm một số hành động đụng chạm chủ quyền của Việt Nam.

Thứ nhất: Trung quốc áp lực các hãng dầu Hoa Kỳ ngưng tiến hành các giao kèo khai thác dầu khí ký với Việt Nam trong vùng “gọi là tranh chấp” trong Biển Đông.

Thứ hai: Trung quốc đơn phương cấm đánh cá trong Biển Đông.

Thứ ba: Trung quốc phản đối với Liên hiệp quốc khi Việt Nam và Mã Lai Á nộp hồ sơ xác định “vùng biển nối dài” chung của hai nước. Đồng thời Trung quốc đòi chủ quyền trên Biển Đông bằng cách đơn phương công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm (họp lại thành hình thù như một cái lưỡi bò) choán trọn 80% Biển Đông.

Năm 2007 Việt Nam vạch kế hoạch phát triển vùng biển, dự kiến đến năm 2020 vùng này sẽ đóng góp 55% GDP quốc gia và 55-60% hàng hóa, phẩm vật xuất cảng. Trung quốc âm thầm áp lực các công ty Hoa Kỳ đang tính toán đầu tư vào vùng biển Việt Nam, trong đó có công ty ExxonMobil, rằng nếu ký giao kèo với Việt Nam các công ty này sẽ mất quyền lợi làm ăn với Trung quốc.

Năm 2009 và 2010 Trung quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trên vĩ tuyến 12 từ 15-5 đến 1-8. Trung quốc nói mục đích cấm để cho cá sinh đẻ, để chận nạn đánh cá lậu và bảo vệ quyền lợi của ngư dân Trung quốc. Thời gian cấm là mùa đánh cá hằng năm của ngư dân Việt Nam.

Năm 2009 Trung quốc phái 9 chiếc tàu thuộc sở Bảo vệ Ngư nghiệp chạy tuần tra để thi hành lệnh cấm. Tàu Trung quốc chận bắt, lấy cá và đuổi thuyền bè ngư dân Việt Nam ra khỏi khu cấm. Có một lần tàu Trung quốc húc chìm một thuyền đánh cá Việt Nam. Ngày 16/7 Trung quốc bắt giữ 3 thuyền đánh cá của Việt Nam và 37 ngư dân gần đảo Paracels. Sau khi thả 2 thuyền, Trung quốc giữ lại thuyền thứ ba với 12 ngư dân đòi 31700 mỹ kim tiền phạt. Chính quyền tỉnh Quảng Ngãi (nơi xuất phát các thuyền đánh cá bị bắt) không chịu đóng tiền phạt. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối qua tòa đại sứ Trung quốc tại Hà Nội.

Lợi dụng hai bộ Thương Mãi Việt Nam và Trung quốc có chung một Trang Nhà, Trung quốc cho đăng một bản tin phản đối chính quyền Việt Nam (TBN: làm như Việt Nam tự chữi mình!). Khi nhận ra việc dối trá này của Trung quốc, Bộ Thương Mãi Việt Nam cho đóng trang nhà chung.

Chưa hết, tháng 8 khi hai thuyền đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam chạy vào tránh bảo tại Paracels, Trung quốc giam thuyền và giam giữ các ngư dân. Lần này Việt Nam phản ứng mạnh mẽ đòi hủy bỏ các phiên họp chung để thảo luận về các vấn đề khai thác ngoài biển đã lên lịch. Trung quốc thả các ngư dân.

Tháng 4/2010 Trung quốc lại ban hành lệnh cấm như năm trước và hai chiếc tàu Yuzheng 311 và tàu tuần duyên 202 của Hải quân Trung quốc đã được phái đến bênh vực cho ngư dân Trung quốc nói là bị lực lượng Hải quân Việt Nam xách nhiễu. Các thuyền đánh cá Việt Nam dùng chiến thuật bao vây gây trở ngại vận chuyển cho tàu Yuzheng 311. Khi Trung quốc gởi thêm chiến hạm tới, các thuyền đánh cá Việt Nam rút đi.

Ủy ban Liên hiệp quốc về Thềm Lục Địa nối dài (Commission on the Limits of the Continental Shell –CLCS) đã định ngày 13/5/2009 là ngày cuối cùng để các quốc gia ven biển trên thế giới nộp bản khai Thềm Lục Địa Nối Dài theo một điều khoản của Luật Biển (UN Convention of Law of the Sea – UNCLOS). Ngày 6/5 Việt Nam và Mã Lai nộp một bản khai cho vùng chung phía Nam, và ngày 7/5 Việt Nam nộp một bản riêng trong vùng phiá Bắc (3).Trung quốc lập tức gởi một văn thư phản kháng đến Liên hiệp quốc (nhưng không nộp bản khai của mình theo tinh thần Luật Biển). Việt Nam gởi văn thư phản đối văn thư của Trung quốc.

Ngay sau đó Trung quốc (như đã nói ở trên) cho công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm mơ hồ họp thành một hình chữ U bao trọn Biển Đông nói là vùng biển chủ quyền. Trong 3 bản tuyên bố trước đây (9/1958 về lãnh hải, 1992 về lãnh hải và vùng lân cận, 1996 về đường chuẩn cho lãnh hải) và một bộ luật ban hành năm 1998 về thềm lục địa Trung quốc chưa bao giờ có một đòi hỏi có tính tự tác tự thọ như vậy.

Những hành động của Trung quốc làm Hoa Kỳ quan tâm và thấy cần điều chỉnh thái độ để bảo vệ quyền thương mãi và uy tín của mình. Thái độ của Hoa Kỳ trước đây là không can thiệp vào việc tranh chấp biển đảo giữa các nước trong vùng, và chỉ đặt quan tâm chính vào việc an toàn và tự do lưu thông trên biển.

Những tháng đầu của chính quyền Obama, Trung quốc và Phi Luật Tân bất hòa khi Phi vạch đường căn bản qua các hải đảo Trung quốc gởi chiến hạm tới có ý đe dọa, tổng thống Obama đã ủng hộ Phi bằng cách điện thoại cho bà tổng thống Phi Gloria Macapagal Arroyo xác định rằng Hoa Kỳ vẫn tôn trọng thỏa ước về tàu bè thăm viếng (Visiting Forces Agreement) giữa Hoa Kỳ và Phi.

Tháng 7/2009 Hoa Kỳ xác định quan điểm tại Biển Đông trước quốc hội. Chính phủ gởi hai ông Scot Marciel (Phụ tá bộ trưởng ngoại giao) và Robert Scher (Phụ tá bộ trưởng quốc phòng) đến điều trần trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương. Ông Marciel tuyên bố một cách dứt khoát rằng những tuyên bố về biển của Trung quốc tại Biển Đông không có một cơ sở quốc tế nào cả.

Ông Marciel nói với quốc hội rằng Hoa Kỳ có “lợi ích thiết yếu” (vital interest) khi duy trì sự ổn định, tự do lưu thông và bảo vệ quyền buôn bán của mình tại Đông Á. Ông Marciel sau khi tóm tắt cho quốc hội biết việc Trung quốc de dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam đã khẳng định: “Chúng ta cương quyết chống lại mọi de dọa các công ty Hoa Kỳ.”

Về việc tàu Trung quốc quấy nhiễu hoạt động của Hải quân Hoa Kỳ ngoài khơi đảo Hải Nam ông Scher xác định thái độ 4 điểm của Hoa Kỳ:

1.Bằng lời và bằng hành động Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện trong vùng.

2.Hải quân Hoa Kỳ quả quyết duy trì quyền lưu thông trên biển.

3.Quan hệ an ninh với các nước trong vùng qua các cuộc nói chuyện về chính sách và chiến lược và hợp tác bảo đảm an toàn trên biển.

4. Tăng cường quan hệ ngoại giao – quân sự với Trung quốc để tránh đụng chạm do sự hiểu lầm.

Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc căng thẳng Việt Nam trở nên gần gũi với Hoa Kỳ hơn. Tháng 6/2008 thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Hoa Kỳ và hội kiến với tổng thống Bush. Thủ tướng Dũng là vị thủ tướng Việt Nam đầu tiên đến viếng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sau năm 1975. Trong một thông cáo chung sau chuyến viếng thăm hai bên đồng ý duy trì các cuộc gặp gỡ cao cấp về an ninh và chiến lược. Ngoài ra tổng thống Bush còn tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ “chủ quyền, an ninh và sự tòan vẹn lãnh thổ của Việt Nam” (nguyên văn: the US supports “Vietnam’s national sovereignty, security and territorial integrity”.

Lời tuyên bố của tổng thống Bush không nói đến Biển Đông. Tuy nhiên người ta hiểu rằng đấy là một cách nói tiếp theo lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates trước đó vào đầu năm tại Singapore rằng: “Trong chuyến đi Á châu, tôi nghe nhiều quốc gia nói vê` tình trạng an ninh trong vùng do nhu cầu tài nguyên thiên nhiên và than phiền những chính sách ngoại giao có tính áp lực làm cho tình hình trong vùng trở nên phức tạp … Chúng ta nên tránh thái độ có tính áp lực mặc dù được che dấu dưới lớp vỏ hợp tác”. (TBN: Ai cũng biết bộ trưởng Robert Gates nói tới Biển Đông và thái độ đại hán của Trung quốc)

Các lời tuyên bố của Bộ trưởng Gates, của tổng thống Bush và của ông phụ tá ngoại giao Marciel là những lời nhắn nhủ Trung quốc rằng họ không nên đe dọa các công ty Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam trên Biển Đông.

Quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng được cải thiện hơn từ năm 2008. Tháng 10/2008 bộ Ngoại giao Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện cấp cao về chính trị - quân sự. Tháng 4/2009 một số sĩ quan cao cấp Việt Nam được máy bay Hoa Kỳ chở đến mẫu hạm USS John Stennis để quan sát lực lượng Hải Không Quân thao dượt. Tháng 8/2009 và tháng 3/2010 cơ sở sửa tàu của Việt Nam sửa chữa các tàu hải quân Hoa Kỳ thuộc lực lượng vận tải đường biển (US Navy Military Sealift Command). Cuối năm 2009 bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh viếng thăm Hoa Thịnh Đốn và gặp bộ trưởng Gates tại Bộ quốc phòng. Trên đường đi tướng Thanh ghé Hawai thăm Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Thái bình Dương. Theo chương trình, trong những tháng cuối năm 2010 này các giới chức quân sự cao cấp Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ gặp nhau. Tờ Quadrennial Defence Review năm 2010 viết rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam và Indonesia là hai đối tác chiến lược quan trọng.

Những trở lực trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung quốc

Sau khi nhậm chức chính quyền Obama mở đầu quan hệ với Trung quốc qua cuộc họp song phương bàn về Chiến lược và Kinh tế (Strategic and Economic Dialogue - SED) trong tháng 7/2009 tại Hoa Thịnh Đốn. Buổi họp sau đó tổ chức tại Bắc Kinh tháng 5/2010.

Tháng 8/2009 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tiếp tướng Xu Caihou, Phó chủ tịch Quân ủy trung ương của quân đội Trung quốc tại Pentagone. Tướng Xu Caihou còn gặp Cố vấn an ninh quốc gia James Jones, Tham mưu trưởng Liên quân Đô đốc Michael Mullen, thứ trưởng ngoại giao James Steinberg và thăm xã giao tổng thống Obama.

Ông Gates và tướng Xu đồng ý một chương trình 7 điểm:

1. Thăm viếng cấp cao.
2. Hợp tác nhân đạo và giúp đỡ nhau khi có thiên tai.
3. Trao đổi hiểu biết y học quân sự.
4. Trao đổi để hiểu nhau hơn giữa các sĩ quan cấp Tá và cấp Úy
5. Trao đổi văn hóa và thể thao giữa hai quân đội.
6. Tăng cường các cuộc thăm viếng ngoại giao.
7. Trao đổi hiểu biết về cách thức tăng cường an toàn trên biển.

Tuy nhiên tướng Xu nêu ra 4 trở lực chính trong mối quan hệ Mỹ Trung gồm:

1. Quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Đài Loan. Nếu Hoa Kỳ khắng khít quân sự với Đài Loan thì quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung quốc khó được cải thiện.

2. Tàu bè và máy bay của Hoa Kỳ không nên vào khu đặc quyền kinh tế của Trung quốc. Hoa Kỳ nên tôn trọng Luật Biển và các luật về biển của Trung quốc

3. Một số luật của Hoa Kỳ làm trở ngại quan hệ Hoa Kỳ-Trung quốc như Luật “Defense Authorization Act” thông qua năm 1999

4. Hoa Kỳ còn nghi ngờ thiện chí chiến lược của Trung quốc.

Tháng Ba/2010 Trung quốc nói với hai viên chức Hoa Kỳ thăm viếng Trung quốc rằng Trung quốc xem Biển Đông là vùng có “quyền lợi thiết yếu” (core interest) của Trung quốc. Đây là lần đầu tiên Trung quốc đưa Biển Đông lên hàng “quyền lợi thiết yếu” như Đài Loan và Tây Tạng với ý nghĩa nếu bị xâm phạm Trung quốc sẽ dùng vũ lực để bảo vệ.

Có nhiều lý do giải thích tại sao gần đây Trung quốc khẳng định lập trường đòi chủ quyền của mình trên Biển Đông.

Thứ nhất, Trung quốc muốn áp lực Việt Nam cùng với Trung quốc khai thác dầu khí chung trong vùng biển ngoài khơi trên nguyên tắc thuộc Việt Nam. Nếu quả thật vậy thì Trung quốc khó đạt được ý đồ của mình vì Việt Nam không dễ gi để Trung quốc hưởng lợi những gì nằm trong (hay sát với) vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình. Trước đây Trung quốc áp lực các công ty nước ngòai không ký giao kèo khai thác dầu khí với Việt Nam cũng trong mục đích này (và tạm thời thành công). Hai công ty BP của Anh và ExxonMobil của Mỹ đã tạm ngưng khai thác theo giao kèo, nhưng gần đây cho biết sẽ tiếp tục tiến hành giao kèo đã ký. Hoa Kỳ đã cho Trung quốc biết Hoa Kỳ không chấp nhận ai làm áp lực với các công ty Hoa Kỳ làm ăn hợp luật lệ quốc tế .

Thứ hai, Trung quốc muốn cho Việt Nam thấy sự bất mãn khi biết Việt Nam hình như đang chuẩn bị mang việc xích lại với Hoa Kỳ ra bàn thảo trong đại hội 11 của đảng vào năm 2011. Từ năm 1995 sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ Việt Nam vẫn rất dè dặt trong quan hệ với Hoa Kỳ vì ngại làm mất lòng Trung quốc. Nhưng từ năm 2003 về sau áp lực trên Biển Đông của Trung quốc càng mạnh thì Việt Nam càng bớt dè dặt khi xích lại với Hoa Kỳ.

Cuối năm 2007 khi Trung quốc thành lập quận huyện bao gồm cả Trường Sa, sinh viên Việt Nam tại Sài gòn và Hà Nội đã biểu tình phản đối và Trung quốc đã mạnh mẽ áp lực Việt Nam ngăn cấm các cuộc biểu tình. Qua năm 2008 sự chống đối của nhân dân trong nước trước ý đồ lấn chiếm của Trung quốc lên cao và cao điểm là năm 2009 khi tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng cho rằng vụ Trung quốc khai thác mỏ Bauxite ở cao nguyên Việt Nam là có hại cho an ninh quốc gia. Đảng cộng sản Việt Nam nhận ra rằng khuynh hướng chống Trung quốc trong nước là một đe đọa cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản nếu họ không có chương trình đáp ứng.

Những nhà quan sát tình hình Việt Nam đồng ý rằng nội bộ lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng. Một muốn mở rộng quan hệ quốc tế để hội nhập rộng rãi. Một muốn thắt chặt quan hệ với Trung quốc. Và Trung quốc tỏ thái độ cứng rắn trên Biển Đông để cảnh cáo Việt Nam rằng theo họ thì có lợi hơn là chống họ. Nhưng hình như trước tình cảm chống Trung quốc của nhân dân nhóm thứ hai chủ trương thân Trung quốc cũng phải đồng ý cần tìm một con đường quốc phòng khác hơn là dựa vào Trung quốc.

Thứ ba, chính sách Biển Đông của Trung quốc có thể do nhu cầu năng lượng. Làm chủ được Biển Đông có nghĩa là làm chủ một kho dầu khổng lồ và bảo đảm một đường lưu thông quan trọng trên biển. Trung quốc đã cải tiến thiết bị Hải quân và thiết lập căn cứ ở Yulin trong mục đích này.

Năm 2002 khối Asean và Trung quốc ký bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea) đồng ý “tự chế và thận trọng trong các hoạt động để tránh gây ra tranh chấp” (self restraint in the conduct of activities that would complicate or escalate disputes). Tuy nhiên tình hình an ninh trên Biển Đông càng căng thẳng và trở nên cấp bách trong ba năm qua. Sự đụng chạm giữa Hải quân Trung quốc và Hải quân Hoa Kỳ tại phía Nam đảo Hải nam cho thấy Biển Đông có thể là nơi “tóe ra lửa” nếu các bên liên hệ thiếu thận trọng.

Để kết thúc bản Tài liệu về tranh chấp Biển Đông, giáo sư Thayer đề nghị một giải pháp 7 điểm để giảm căng thẳng trên Biển Đông:

1. Trung quốc cần thảo luận với các nước trong vùng về quyền đánh cá và chấm dứt việc đơn phương cấm đánh cá vùng này vùng khác hằng năm một cách tùy tiện.

2. Cần chi tiết hóa việc thi hành bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” ký năm 2002.

3. Trung quốc và Hoa Kỳ cần có một bản văn Thỏa Thuận về đụng chạm trên biển (Incidents At Sea Agreement) để tránh đụng chạm trên biển ngoài ý muốn.

4. Các nước có vũ khí nguyên tử, nhất là các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cần tham gia vào “Hiệp Định Xác lập vùng Phi nguyên tử Đông Nam Á” (Southeast Asia Nuclear Free Weapons Zone Treaty). Trung quốc hứa sẽ tham gia (nhưng chưa ký). Hiệp hội Asean cần xác định vùng nam đảo Hải Nam có nằm trong vùng địa lý áp dụng của Hiệp Định này không ?

5. Các nước trong vùng chung quanh Biển Đông cần thảo luận ở cấp cao cách thi hành Luật Biển để tránh sự tranh chấp về nội dung các bản khai nộp Liên hiệp quốc liên quan đến thềm lục địa nối dài và xác định rõ ràng Hải quân các nước có quyên hoạt động gì trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác.

6. Hội nghị các bộ trưởng quốc phòng khối Asean + tại Hà Nội sắp đến cần tạo sự tin cậy và đề ra các biện pháp đề phòng tại Biển Đông.

7. Các nước trong vùng cần thảo luận để thành lập một cơ chế gặp nhau thường xuyên giữa các lãnh tụ quốc gia để thảo luận những vấn đề còn cấn cái giữa các nước liên quan đến an ninh trong vùng./.

Trần Bình Nam
August 15, 2010

NGŨ GIÁC ĐÀI CHÍNH THỨC ĐẶT TRUNG CỘNG VÀO VỊ THẾ ĐỐI TRỌNG CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ


LÝ ĐẠI NGUYÊN

Bản phúc trình của bộ Quốc Phòng Mỹ đưa Quốc Hội ngày 16/08/10, về: “Các diễn biến quốc phòng và an ninh của Trung quốc”. Cho rằng: “Việc bí mật nâng cao năng lực quốc phòng của Trung quốc là điều nguy hiểm, vì có thể gây ra hiểu lầm và tăng cường nguy cơ xung đột”. “Hiện nay Trungquốc đã có khả năng tấn công trên một diện rộng cho tới đảo Okinawa của Nhật và quần đảo Trường Sa của Việt Nam”.

Bản phúc trình của Ngũ Gìác Đài đánh gía: “Trung quốc sẽ tăng cường tuần tiễu tại Biển Đông. Một điểm nóng trong khu vực”. “Trung quốc đang nâng cấp hệ thống hỏa tiễn, mở rộng các căn cứ tàu ngầm và hiện đại hóa hạt nhân”. “Bắc kinh hiện có trong tay 1.150 hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn, và một số lượng không xác định tên lửa tầm trung". Bộ Quốc Phòng Mỹ còn cảnh giác: “Trung quốc chi ra hàng tỷ Mỹ kim để nâng cấp quân đội mà không cho thế giới biết”. “Việc thiếu minh bạch trong lãnh vực quốc phòng của Trungquốc đang làm gia tăng sự không rõ ràng, gây nguy cơ hiểu lầm và tính toán lầm”.

Ngũ Giác Đài cảnh báo:“Biển Đông nằm trong tầm ngắm của quân đội Trungquốc”. Điều làm cho Mỹ quan ngại bậc nhất là dự án của Trungcộng nhằm phát triển một loại tên lửa tầm xa đủ sức tấn công các hàng không mẫu hạm của Mỹ ở Thái Bình Dương. Việc xây dựng hệ thống hải quân tác chiến xa bờ, thể hiện học thuyết quân sự mới của Trungcộng. Bản phúc trình ghi nhận “Quân đội Trungquốc đang phát triển cơ sở và phương tiện cho phép họ tung lực lượng đến vùng biển Hoa Đông -Biển Nhậtbản- và biển Hoa Nam - tức Biển Đông Việtnam, còn có thể qua cả Ấn Độ Dương và vượt quá dãy đảo thứ 2 tại Tây Thái Bình Dương”. Theo Ngũ Giác Đài: “Tình hình Biển Đông đã bắt đầu căng thẳng trở lại kể từ năm 2007, bởi các cuộc tranh chấp chủ quyền”. Trungquốc muốn bảo đảm các đòi hỏi chủ quyền rộng khắp Biển Đông, hành xử việc khai thác tài nguyên của khu vực mà họ nhận chủ quyền. Ngoài ra, một sự hiện diện quân sự hùng hậu sẽ cho phép Trungquốc tung lực lượng phong toả hay kiểm soát các tuyến hàng hải trọng yếu trong vùng, vốn là nơi qua lại của 50% lượng hàng vận tải đường thủy trên toàn cầu”.

Rõ ràng là Bộ Quốc Phòng Hoakỳ đã công khai, chính thức đặt Trungcộng vào vị thế ‘Đối Trọng Chiến Lược Quân Sự’ với Mỹ. Mà nưóc Mỹ lại vẫn duy trì Trungquốc trong thế ‘Đối Tác Chiến Lược Kinh Tế’ của mình. Chính nhờ thế mà Trungcộng không dám đánh liều hất đổ chén cơm của mình đi trong lúc này, như kiểu Phát Xít Nhật vào ngày 07/12/1941, bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng, mở đầu cuộc Đệ Nhị Thế Chiến tại Á châu. Bởi vậy, trong 50 năm trở lại đây, cuộc chiến tranh nóng giữa Mỹ và Tầu khó có thể xẩy ra. Trừ khi, nền kinh tế Trunghoa không còn cần tới thị trường Mỹ và thế giới Tự do Dân Chủ nữa. Cho nên đây chỉ có thể là hình thái chiến tranh ‘hâm hấp’ không nóng, chẳng lạnh, mà vừa đủ có tác dụng để cho các nước láng giềng Hoalục phải mua vũ khí, tăng cường phòng thủ dưới chiếc dù chiến lược toàn cầu của Mỹ thôi. Cụ thể là ngày 17/08/2010, bộ Quốc Phòng Đàiloan một lần nữa kêu gọi Hoakỳ nhanh chóng cung cấp máy bay F16 CD đời mới, tàu ngầm và trang thiết bị quân sự. Phát ngôn viên bộ Quốc Phòng Đàiloan cho biết: “Chính phủ theo dõi chặt chẽ động thái gia tăng vũ trang của Hoalục”. Các nước Đông Nam Á cũng đổ xô đi trang bị vũ khí, gia tăng quân lực và thiết lập quan hệ quốc phòng với Hoakỳ.

Về phía Nhậtbản thì hầu như tất cả đã quên việc họ muốn quân đội Mỹ phải rời khỏi Okinawa, sau khi thủ tướng Nhật, Hatoyama phải từ chức. Kỷ niệm 65 năm ngày VJ Day, kết thúc chiến tranh thế giới 15/08//1945, lần đầu tiên toàn thể nội các chính phủ cánh tả Nhậtbản đã không tham gia nghi lễ tại đền Yasukuni, tôn thờ tử sỹ Nhậtbản, trong đó có thờ một số tướng lãnh Quân Phiệt. Thủ tướng Naoto Kan đã tới thăm nghĩa trang quốc gia Tokyo, trước khi tham gia lễ tưởng niệm cùng với Nhật Hoàng Akihito, con trai của Hoàng Đế Hirohito của thời chiến tranh Nhật-Mỹ. Thủ tướng Naoto Kan tuyên bố: “Chúng tôi cảm thấy hết sức hối tiếc và bày tỏ sự cảm thông chân thành tới những người bị thiệt hại và gia đình của họ”. Hành động không đến lễ tại đền Yasukuni của nội các, và lời xin lỗi của thủ tướng Nhật đã làm cho Nam Hàn và các nước bị Phátxít Nhật chiếm đóng có thiện cảm, trừ Trungcộng chưa có biểu lộ thái độ.

Trước đây, thường thì những hành động ngang ngược không ai lường trước được của Hàncộng, với một số nhỏ bom nguyên tử, và hỏa tiễn làm cho Nam Hàn, Nhậtbản và Hoakỳ phải lo đề phòng, nhưng cho đến nay, sau những cuộc tập trận đại quy mô của Mỹ và Nam Hàn ngay bên hông Bắc Hàn. Hiện nay với 56 ngàn lính Nam Hàn và 30 ngàn lính Mỹ tập trận từ ngày 16/08/10, nhằm cải thiện hợp tác giữa 2 quân đội Nam Hàn và Mỹ, mà Hàncộng và Trungcộng cũng phải nhắm mắt cho qua, thì sự hù doạ của Bắc Hàn đã hết hiệu lực. Nhất là thái độ của giới chức quân sự Nam Hàn đã tuyên bố: “Sẵn sàng đáp trả, nếu Bắc Triều Tiên thực hiện lời đe dọa tấn công trong các cuộc diễn tập quân sự”. Với chủ trương tái thống nhất Triều Tiên của tổng thống Nam Hàn, Lee Myung-bak đưa ra trong bài diển văn kỷ niệm 65 năm bán đảo này được giải phóng khỏi ách đô hộ của Nhậtbản, cho thấy Nam Hàn đã sẵn sàng thống thất Triều Tiên. Từ trước tới nay Nam Hàn thuờng tỏ ra không muốn thống nhất với Miền Bắc nghèo đói lạc hậu này, để cho đàn anh Trungcộng của Hàncộng phải đeo cái bao phục rách mướp đó. Chính vì vậy mà vai trò của Bắc Hàn không còn gía trị trong mặt trận Á châu nữa, mà chính Trungcộng giờ đây đã trở thành đối trọng chiến lược quân sự của Hoakỳ và cũng là mối đe dọa an ninh hòa bình của Nam Hàn, Nhậtbản, Asean, kể cả Ấn độ.

Khi Trungcộng trở thành đối trọng quân sự của Hoakỳ, thì việc Hoakỳ trở lại Á châu. Coi sự tự do lưu thông trên biển Đông và việc giải quyết hoà bình tranh chấp Biển Đông nằm trong quyền lợi quốc gia của Hoakỳ. Chủ trương của Mỹ được các nước Asean tán thành. Mỹ đưa hàng không mẫu hạm USS George Washington vào biển Việtnam, cho khu trục hạm USS John S. McCain viếng Đànẵng cùng diễn tập phi tác chiến với quân Việtnam. Hạm đội 7 Hoakỳ tuyên bố hợp tác với hải quân Việtnam là chuyện đương nhiên. Ngày 17/08/2010, Hoakỳ và Việtnam mở ra các cuộc hội thảo đầu tiên về quốc phòng ở cấp thứ trưởng quốc phòng. Phía Mỹ, cầm đầu bởi ông Robert Scher phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng đặc trách khu vực Đông và Đông Nam Á. Phía Việtcộng là thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh, nhân vật này được dư luận cho là cật ruột của Trungcộng từ trước nay. Đối với Mỹ đó không là vấn đề, dù Nguyễn Chí Vịnh có vẫn còn là tay sai thân tín hàng đầu của Trungcộng ở Việtnam thì việc Mỹ gắn bó quốc phòng với Việtnam cũng cần để cho Trungcộng phải được biết, nên Hoakỳ: “Hoan nghênh cuộc thảo luận cấp cao về phòng thủ với Việtnam, như là dấu hiệu của một quan hệ quốc phòng ngày càng lớn mạnh”. Thực sự, những hành động xâm lăng, tham lam, hung bạo của Trungcộng đối với Việtnam, và toàn vùng Biển Đông đã đẩy quân, dân Việtnam và các nước Áchâu về phía Hoakỳ, giới cầm đầu Việtcộng nếu kẻ nào còn ngu si đi ngược lại chiều hướng đó thì sớm, muộn đều không tránh khỏi bị trả giá, nặng, nhẹ tùy hành vi của mỗi cá nhân. Little Saigon ngày 17/08/2010.

14 thg 8, 2010

Tướng Trung Quốc cảnh báo Việt Nam

BBC Vietnamese

Một lãnh đạo hải quân Trung Quốc nói trên truyền hình rằng Việt Nam "sẽ hối tiếc" về việc hoạt động hải quân chung với Mỹ tại Biển Đông.
Trong cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Phượng Hoàng, một kênh thân Bắc Kinh đặt tại Hong Kong, Đô đốc Dương Di nói Việt Nam "đang chơi trò chơi nguy hiểm là kích động hai cường quốc đối đầu nhau nhằm hưởng lợi".

Việt Nam và Hoa Kỳ hiện đang có các hoạt động hợp tác hải quân, diễn ra trong một tuần nhằm kỷ niệm 15 năm thiêt lập quan hệ ngoại giao.

Thiếu tướng Dương nói trên kênh Phượng Hoàng: "Việt Nam là nước đang có tranh chấp lãnh thổ rất gai góc với Trung Quốc tại Biển Đông".

"Việt Nam muốn dùng quyền lực của Mỹ để đối trọng với Trung Quốc. Thế nhưng nói cho cùng thì (Việt Nam) sẽ chỉ là quân tốt thí trong ván cờ của Mỹ."

Ông nói: "Tôi sợ rằng Việt Nam trong tương lai sẽ phải hối tiếc về việc này".

Tướng Dương Di nhắc lại chính sách ngoại giao thời kỳ Chiến tranh lạnh của Hoa Kỳ, trong đó Mỹ lôi kéo Trung Quốc về phía mình để đối trọng với Liên Xô.

"Cả thế giới đều biết tính thực dụng của người Mỹ."

Ông nói Pakistan từng là một trong các đồng minh thân cận nhất của Mỹ trong Chiến tranh lạnh, nhưng rồi bị Mỹ bỏ rơi.
Tránh ra khỏi Biển Đông

Bắc Kinh đã cảnh báo Washington tránh xa ra khỏi các vùng biển gần Trung Quốc, đặc biệt là khu vực Biển Đông đang tranh chấp.

Tuy nhiên, Mỹ vẫn có mặt tại các vùng biển Đông Hải, Biển Nhật Bản, và Biển Đông. Phát ngôn viên Lầu Năm góc Geoff Morrell tuần trước còn khẳng định hàng không mẫu hạm USS George Washington sẽ tham gia một cuộc tập trận nữa với hải quân Nam Hàn tại Hoàng Hải ngoài khơi bán đảo Triều Tiên.

Một vị thiếu tướng khác của Trung Quốc, ông La Nguyên, chỉ trích việc Hoa Kỳ cương quyết điều hàng không mẫu hạm tới khu vực này, cho rằng Mỹ không biết tôn trọng quyền lợi quốc gia của các nước khác.

Ông La viết trong bài bình luận trên tờ nhật báo của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc: "Nước nào cũng cần được tôn trọng, quân đội nào cũng phải oai phong... có ăn miếng trả miếng thì cũng cần sòng phẳng."

Tướng La cũng cho rằng áp lực quân sự đang đè nặng lên các nhà hoạch định chính sách của Bắc Kinh.

Nói chung dư luận Trung Quốc cho rằng việc hàng không mẫu hạm USS George Washington tới neo đậu gần biển Đà Nẵng cho đoàn cán bộ Việt Nam ra thăm quan, cũng như hoạt động trao đổi giữa hải quân Mỹ-Việt, đều là các động thái thách thức Trung Quốc.

12 thg 8, 2010

Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ Tuyên Cáo Về Diễn Biến Mới Tại Biển Đông

Viết bởi Đại diện: GS Nguyễn văn Canh

Tháng 5 năm 2009, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (TC) gửi văn thư cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc chống lại CHXHCNVN (VC) và Mã Lai Á nộp hồ sơ nới rộng thềm lục địa tại Ủy Ban Thềm Lục, Liên Hiệp Quốc vào này 6 và 7 tháng 5. Trong văn thư, TC xác nhận chủ quyền của chúng trên Biển Đông, có kèm theo Bản Đồ hình lưỡi bò. Đây là hành vi chính thức trước Liên Hiệp Quốc để xác nhận chủ quyền của TC trên Biển Đông của Việt nam.

Trong những năm gần đây, TC đã có nhiều hành vi khác nhau, hoặc liên tục báo cho thế giới hoặc dằn mặt các quốc gia khác về cái mà chúng coi là xâm phạm đến chủ quyền của chúng trên Biển Đông của Việt nam.

Các hành vi này càng ngày càng tích cực và trực tiếp hơn, vì lẽ chúng nghĩ rằng chúng đã có cơ sở quân sự vững chãi trên Biển Đông và lực lượng hải quân hùng hậu đối đầu với bất cứ kẻ địch nào kể cả Hoa kỳ để bảo vệ quyền lợi của chúng, gồm cả vủng biển ngoài Biển Đông.

Trước hết, ngoài phạm vi Biển Đông:

Năm 2008, một viên tướng thuộc Bộ Quốc Phòng TC đề nghị với Đô Đốc Keating, tổng tư lệnh quân đội Mỹ vùng Thái Bình Dương rằng Mỹ và TC nên chia đôi Thái Bình Dương làm 2: phía Tây, thuộc Mỹ và phía Đông, thuộc TC.

TC cho mọi người hiểu rằng quốc phòng của chúng trên mặt biển ngày nay là có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi”viễn dương”. Có hai chuỗi đảo là giới hạn địa lý đề phòng thủ: 1) từ Nhật bản xuống Phi Luật Tân; 2) từ Nam Dương qua Guam xuống Úc Châu.

Rồi đến trong phạm vi Biển Đông:

Năm 2007, TC đòi hỏi với lời lẽ đe dọa các công ti dầu BP ngưng khai thác dầu trong vùng Côn sơn dù đã có khế ước với VC và đang thi hành khế ước ấy, Exxon Mobil không được ký khế ước với Việt nam để khai thác dầu trong thềm lục địa của Việt nam.

Trong nhiều năm qua, từ tháng 5 đến tháng 8 mỗi năm, TC thông cáo cấm ngư dân Việt đánh cá trong một khu vực trên vĩ tuyến 15 thuộc vùng Biển của Việt nam với lý do bảo vệ tài nguyên về hải sản của chúng. Chúng liên tục cho các tàu tuần tra kiểm soát vùng Hoàng Sa và Trường Sa, lùng bắt ngư dân Việt vì “vi phạm lãnh hải “ của chúng, mang về đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa xét xử, phạt tù, phạt tiền đòi chuộc mạng. Ngoài việc cướp đoạt, tài sản, thuyền bè, tịch thu ngư cụ, chúng còn bắn giết hay đánh chìm thuyền đánh cá ngư dân Quảng Ngãi.

Hồi tháng 3, 2009, TC quấy nhiễu tàu của Mỹ như vụ cho vây xung quanh, cản trở tàu Impeccable của Mỹ hoạt động cách đảo Hải Nam 70 dận về phía Nam.

Hồi tháng 9, 2009, hải quân TC tổ chức một cuộc tập trận bắn đạn thật, có đổ bộ, nhảy dù trên đảo thuộc vùng đá Ngầm Chữ Thập, sâu xuống phía Nam của Trường Sa của Việt nam, để “bảo vệ biên cương của tổ quốc”. Tại khu vực này, chúng đã xây sẵn một số kiến trúc kiên cố trên nhiều bãi đá ngầm khác nhau làm bộ chỉ huy quân đội, kho tiếp vận, bãi đáp trực thăng, hệ thống viễn thông, văn phòng…

Tháng 3 năm 2010, Phụ tá Bộ trưởng Ngoai Giao Trung cộng, Cui Tiankai nói cho hai viên chức cao cấp của chính quyền Obama biết rằng TC hiện “ xếp lời tuyên bố chủ quyền của TC trên Biển Đông ngang hàng với chủ quyền của TC ở Đài Loan và Tây tạng, Tân cương.” Đó là “quyền lợi cốt lõi” mà TC sẽ bảo vệ.

Với các căn cứ hải quân đã được bố trí và phối trí khắp Biển Đông từ các đảo Phú Lâm, Quang Hòa, Lincoln, Tri tôn bao trùm cả khu vực xuống mãi phía Nam: vùng đá Chữ Thập và vùng đá ngầm Vành Khăn, với các hoạt động kể cả quân sự của hải quân dưới sự chỉ đạo từ căn cứ Tam Á ở Hải Nam, TC tự cho rằng chúng đã xây dựng được đủ sức mạnh hải quân trong vòng hơn hai thập niên qua. Chúng đã công khai thách thức Mỹ về việc bảo vể chủ quyền này, ngụ ý chúng sử dụng võ lực để bảo vệ. Lời thông báo chính thức của Tiankai kể trên của TC cảnh báo, nếu không nói là thách thức, cho Mỹ biết rằng Biển Đông là ao hồ của chúng, rằng chúng có quyền lợi sinh tử trên Biển Đông và rằng chúng phủ nhận quyền lợi của Mỹ, cũng như sẽ không chấp nhận sự hiện diện của Mỹ trong khu vực này.

Tóm lại hành động của Trung cộng đã trắng trợn, trực tiếp đối đầu với Mỹ, một kẻ thù “nguy hiểm” đang thống trị thế giới. Trung cộng cho rằng nay Mỹ đang sa lầy ở A Phú Hãn và khu vực Trung Đông và suy yếu. Chúng nghĩ rằng cần nắm lấy cơ hội để thay thế Mỹ và tiến vào địa vị thống trị toàn cầu, nhất là giải quyết vấn đề dân số: 800 triệu dân Trung Hoa cần phải di chuyển đến nơi khác, vì lãnh thổ Trung Hoa chỉ đủ cho 500 triệu mà thôi. Đây là ưu tiên nhất của chúng. Và như thế, chúng sẽ đạt được tham vọng bá chủ thế giới.

Thái độ và phản ứng của Mỹ như thế nào?

Tại Hội Nghị Đối Thoại Shangri-la vào 29 tháng 5, 2010, Robert Gates Bộ trưởng quốc phòng Mỹ tuyên bố: “nói về tự do trên biển và tuân thủ luật quốc tế, Hoa Kỳ ủng hộ ‘tự do lưu thông’, thay vì giữ độc quyền, và Hoa Kỳ cũng ủng hộ quyền mọi người sử dụng không phận.” Ngoài ra, Gates nói rằng “ chính sách an ninh tương lai của Mỹ sẽ dựa trên “quyền lợi thiết yếu và lâu bền trong vùng.” Với chính sách trên, Hoa Kỳ nói rõ là 1) tất cả mọi quốc gia được tự do lưu thông trên Biển Đông và Thái Bình Dương theo luật quốc tế, như vậy phủ nhận tuyên bố đòi độc quyền của TC và, 2) Gates nối liền quyền lợi thiết thân và lâu bền của Mỹ với an ninh quốc gia.

Có nghĩa là Mỹ sẽ bảo vệ các quyền lợi ấy bằng sức mạnh.

Rồi tại Hội Nghị An Ninh Khu Vực do ASEAN tổ chức ở Hà nội, ngày 24 tháng 7, 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng với tinh thần mà Bộ trưởng Gates nêu ra đã công khai, nhưng trực tiếp và cứng rắn bác bỏ lời tuyên bố hung hăng của Trung Cộng:

Khi nói về chủ quyền trên Biển Đông mà Trung cộng đòi hỏi, Clinton tuyên bố tại hội nghị rằng cần phân chia ra hai loại: Chủ quyền trên toàn vùng Biển Đông và Chủ quyền trên các quần đảo.

1) Về chủ quyền trên toàn thể Biển Đông, Mỹ có lợi ích quốc gia đòi hỏi là phải có tự do lưu thông trên vùng biển, vùng trời theo luật biển quốc tế. Một viên chức của chính quyền Obama biện luận rằng Trung cộng không có căn cứ khi tuyên bố chủ quyền như vậy, vì không có người nào sinh sống trên đảo đá và đảo san hô.

Clinton đã thẳng thừng bác khước tuyên bố chủ quyền của Trung cộng.

2) Về chủ quyền trên các quần đảo, Mỹ đòi hỏi tất cả các bên tranh chấp trong vùng biển phải giải quyết các bất đồng, không bằng bạo lực, mà bằng thương thuyết như các bên đã đồng ý và ký kết trong bản Qui Tắc Hành Sử vào năm 2002 tại Cao Miên, và Mỹ không đứng về phía tương tranh nào.

Để giúp giải quyết các tranh chấp về chủ quyền , Mỹ kêu gọi các quốc gia ASEAN hợp tác với nhau vào một phía và thương thảo với phía bên kia là TC.

Trước lời tuyên bố này, Dương Khiết Trì, Bộ trưởng Ngoai Giao Trung cộng phẫn nộ, bỏ phòng họp đi ra ngoài. Một tiếng đồng hồ sau, Trì lại trở lại phòng họp, đọc một bản tuyên bố trong vòng 30 phút- mà một người tham dự gọi là thiếu mạch lạc, tố cáo Mỹ can thiệp vào quyền lợi của Trung cộng như bác bỏ chủ quyền mà Trung cộng tuyên bố về Biển Đông; như quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông mà Trung cộng chỉ muốn giải quyết tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo này bằng cách song phương, nghĩa là chia các quốc gia Đông Nam Á ra để trị, bằng cách mua chuộc, hù dọa từng quốc gia một; như Trung cộng trước đó đã vận động không đưa vấn đề an ninh vào chương trình nghị sự, nay lại xảy ra tại Hội Nghị ASEAN.

Bản tuyên bố ấy của Dương Khiết Trì còn đi ra ngoài đề tài ở điểm là Trì chỉ trích, có tính cách miệt thị, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không biết có phải vì với tư cách Chủ Tọa, CHXHCNVN không đủ khả năng kiểm soát buổi họp theo lệnh của TC hay không?

Và cuối cùng Trì còn đe dọa Singapore khi quay mặt vào Bộ trưởng Ngoai Giao George Yeo của nước này mà đe dọa ( không phải sỉ nhục): “Trung quốc là nước lớn và các nước khác là nước nhỏ. Đó là một thực tế.”

Để cụ thể hóa cam kết trên, ngay sau Hội nghị ASEAN kết thúc ở Hà nội, Mỹ gửi hàng không mẫu hạm nguyên tử George Washington từ Nhật đến vùng biển Đông hải trong một cuộc tập trận với hải quân Hàn quốc nhân vụ Bắc Hàn đánh đắm tàu ngầm Cheonan của nước này hồi tháng 3, 10, mặc dù Trung cộng phản đối dữ dội cuộc tập trận này và Bắc hàn đe dọa dùng võ khí nguyên tử tấn công cuộc tập trận.

Sự hiện diện của George Washington là hành động để biểu dương sức mạnh đối với thách đố của Trung cộng.

Để phản ứng với cuộc tập trận của Mỹ và Nam hàn, Trung cộng cũng tổ chức vội vã một cuộc tập trận ở “Nam Hải”để phô trương sức mạnh.

Cần phải thêm rằng một số quốc gia trong Khối ASEAN đã có một thái độ tích cực hơn, quyết tâm hơn trong việc bảo vể chủ quyền và độc lập chống lại âm nưu bá quyền của Bắc kinh. Nam Dương trong văn thư ngày 8 tháng 7, 10 có gửi một văn thư cho Tổng Thư Ký LHQ phản bác lập luận của Trung cộng viện dẫn với bản đồ lưỡi bò mơ hồ để biện minh chủ quyền của chúng trên Biển Đông. Là một quốc gia không nằm trong nhóm có tranh chấp chủ quyền, và cũng là một quốc gia mạnh, đông dân trong khối ASEAN, Nam dương như vậy đã đứng về lập trường của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn âm mưu bành trướng của Băc Kinh. Hành vi đó trực tiếp giúp sức cho dân tộc Việt nam bảo vệ lãnh hải và chủ quyền dân tộc.

Nam Dương cũng đã đặt mua thêm tìềm thủy đỉnh để bảo vệ lãnh hải. Mã Lai Á mua 2 tầm ngầm của Pháp. Úc mua/xây thêm 9 tàu ngầm nữa và cũng đăt mua thêm 100 chiếc F.35 của Mỹ.

Hiện nay Trung cộng rất phẫn nộ với Mỹ vì rõ rệt làm tiêu diệt âm mưu bá quyền truyền thống của nhà Hán, dù Trung cộng có tuyên bố sẽ có cuộc tập trận thứ hai để cảnh giác Mỹ về chống phá các quyết tâm của chúng. TC đã làm cho đối phương hiểu rằng chúng có hoả tiễn Dong Feng 21 D với tầm xa 1,500 cây số có thể bắn chìm hàng không mẫu hạm của Mỹ từ xa, dù đã phát triển hỏa tiễn bắn hạ vệ tinh của Mỹ để làm “mù” vệ tinh, không còn điều khiển các hàng không mẫu hạm, cũng như không theo dõi được các tàu ngầm nguyên tử 094 ( Jin Class) hay tàu ngầm Song S20 trang bị hỏa tiễn Yingji-8 di chuyển sâu dưới nước để bắn hạ hàng không mẫu hạm của Mỹ hoạt động trên mặt nước, và với một dàn phóng đã xây sẵn trên một bãi đá ngầm thuộc khu vực Chữ Thập của Việt nam, sức mạnh ấy sẽ không là gì với sức mạnh của quân đội Hoa Kỳ. Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ George Washington đồ sộ như một thành phố dài 333 thước tây, với 6250 thủy thủ được trang bị đủ võ khí tối tân có thể tiêu diệt đối phương tại chỗ ngay khi kẻ thù mới khai hỏa.

UBBVSVTLT chưa nói tới hệ thống phòng thủ SDI với các võ khí laser (beamery weapons) nằm trên vệ tinh thường trực bay quanh quĩ đạo, mỗi ngày 24 giờ. Chính võ khí này nếu đối phương khởi động hàng loạt tấn công trước, sẽ tiêu diệt hết toàn bộ các cứ điểm quân sự, dàn phóng hỏa tiễn tại chỗ, ngay khi bắn, trước khi hỏa tiễn bay đến mục tiêu, nghĩa là trước khi đến Hoa Kỳ để gây thiệt hại. Hình ảnh hỏa tiễn ‘patriots’ trong trận chiến vùng Vinh ở trung Đông là thí dụ. Với tình thế đó, chính võ khí của mình giết mình. Võ khí này đã làm cho Liên Bang Sô Viết thay đổi chiến lược từ giữa thập niên 1980 và đưa đến chế độ Công Sản Liên Sô sụp đổ. Cần nói thêm rằng sức mạnh của Liên Bang Sô Viết vào thời kỳ đó rất ghê gớm với từ 7000 tới 8000 dàn phóng hỏa tiễn, cố định hay di động, công khai hay che dấu, gồm cả tầu ngầm thường trực nắm dưới đáy biển, để dùng cho khoảng 40,000 đầu đạn nguyên tử. Hoa Kỳ còn nhiều võ khí khác.

Vài chục quả bom nguyên tử, 5 chiếc tàu ngầm 094, hỏa tiễn DF 21D của Trung cộng có nghĩa gì?

Với mưu đồ áp dụng chiến tranh nhân dân của Mao, bằng cách mua chuộc các nhà cầm quyền các quốc gia, kể cả Phi châu và với cung cách đầu tư khắp nơi trên thế giới làm cơ hội/phương tiện để cho dân Trung Hoa xâm nhập làm hậu thuẫn cho công tác thống lãnh thế giới về sau, Trung cộng cũng không thể đối đầu được với Hoa Kỳ dù chúng đã ước tính rằng chúng sẵn sàng hi sinh ½ dân số cho âm mưu này, chung cuộc chúng nghĩ rằng vẫn còn 6 hay 700 triệu người.

Chúng sẽ chờ đến khi mà chúng chuẩn bị xong một tránh đánh cuối cùng bằng các phương tiện khác ngay tại Hoa Thịnh Đốn như chúng tính toán, với sự yểm trợ của dân Trung Hoa đã xâm nhập vào nhiều nơi trên thế giới. Như thế, còn phải chờ nhiều chục năm nữa.

Tập trận lần 2 của TC được loan báo để cảnh giác Hoa Kỳ chỉ là trò chơi hù dọa những kẻ tay sai của chúng để tay sai không bỏ chạy. Đây là trường hợp VC và vài quốc gia đông Nam Á. Sỉ nhục CHXHCNVN một cách không nương tay trước sự hiện diện của các nhà lãnh đạo thế giới cũng nhằm mục đích này. Rồi, chung cuộc, chúng sẽ rút lui. Rồi nữa, mọi việc sẽ qua đi.

Với Hoa Kỳ chính thức “ nhập cuộc” như trường hợp này là một dịp may hiếm có và tạo một tình thế thuận lợi để Việt nam có thể bảo vệ chủ quyền của Việt nam trên Biển Đông, cũng như bảo vệ độc lập và bảo toàn lãnh thổ.

Vì ĐCSVN đã sai lầm chấp nhận làm thái thú người bản xứ cho Trung Cộng, làm tay sai cho kẻ thù của dân tộc để bành trướng thế lực tại Việt nam, UBBVSVTLH đòi hỏi

1. ĐCSVN, phải ra lệnh cho CHXHCNVN gấp rút nắm bắt cơ hội này bằng cách lên tiếng công khai đứng vào hàng ngũ của thế giới tự do, kêu gọi các quốc gia thấy được nguy cơ do Trung cộng gây ra, giúp chống lại bọn bá quyền Bắc Kinh xâm chiến Biển Đông, vì đã có các hậu thuẫn cần thiết.

2. ĐCSVN phải chấm dứt vai trò thừa sai cho Trung cộng. Một mặt, phải chấm dứt đàn áp dã man bất cứ ai lên tiếng hô hào Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt nam. Mặt khác phải có hành động cụ thể bảo vệ ngư dân Việt đánh cá trên vùng biển của cha ông để lại khi Hải Quân Trung cộng bắn giết, bắt bớ tù đầy ngư phủ hay đòi tiền chuộc mạng. Còn nữa, phải nhân danh là chủ nhân ông, lên tiếng tố cáo trước quốc tế và tích cực chống lại các công tác xây dựng thêm các căn cứ quân sự trên các bãi đá ngầm quanh vùng Hoàng Sa và Trường Sa. Chúng đang xây cất thêm các kiến trúc tại đảo Tri tôn, một đảo gần Đà nẵng, và đang mở rộng thêm hải cảng thuộc đảo Phú lâm. Hơn thế nữa, ĐCSVN phải chấm dứt các khế ước cho thuê rừng dài hạn và thu hồi đất đã cho thuê tại 18 tỉnh, tại những nơi đây quân xâm lược phương Bắc sẽ xây dựng căn cứ địa ngõ hầu kiểm soát lãnh thổ Việt nam.

3. Thái Độ và hành động của CHXHCNVN chống lại chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh trước tình thế này phải thể hiện công khai, minh bạch. Đó là đều cần thiết và bắt buộc để có đồng minh giúp bảo vệ lãnh hải, được sự ủng hộ của dân chúng, một yếu tố phải có, để bảo vệ độc lập quốc gia, bảo vệ lãnh thổ. Việc mua 6 chiếc tàu ngầm “kilo” và một tá máy bay Sukhoi của Nga, mua radar và một số thiết bị quân sự của Pháp tự mình CHXHCNVN không thể đọ sức với hay chiếm lại các đảo đã mất được, nghĩa là các phương tiện ấy không là một cái gì so với sức mạnh của đối phương. Vì thái độ mập mờ dấu giếm, với các hành động mà ĐCSVN đã làm một cách công khai với tư cách là tay sai của Trung cộng trong nhiều năm qua , quốc dân Việt nam có thể nghi ngờ rằng nếu có chiến tranh xảy do Trung cộng chủ mưu để chiếm Đông Nam Á , và ĐCSVN đã bị ĐCSTH khống chế như hiện nay thì với các phương tiện quân sự kể trên CHXHCNVN sẽ sử dụng chúng với vai trò của một tên lính tiền phong đánh thuê trong âm mưu bành truớng của Bắc Kinh.

4. UBBVSVTLT nghiêm trọng cảnh giác ĐCSVN rằng dù tự nguyện hay bị lôi cuốn vào vị trí làm lính tiền phong của kẻ thù của dân tộc trong âm mưu Hán hóa vùng Đông Nam Á và cả thế giới thì hiểm họa gây ra cho dân tộc rất to lớn: dân Việt có thể đi tới bị tàn sát trước võ khí hiện đại có sức hủy diệt tập thể lớn của Hoa Kỳ. Ngay cả tính mạng của các lãnh đạo ĐCSVN sẽ bị tiêu diệt trước khi quân xâm lăng TC có hành động khởi động thôn tính các quốc gia Động Nam Á. Đừng tưởng rằng với 16 chữ vàng mà lãnh đạo VC luôn xưng tụng mà được TC bao che hay bảo vệ. Chúng rất thâm độc, với kiến thức khoa học và với phương tiện hiện đại,chúng có thể dàn cảnh để mượn tay Hoa kỳ tận diệt dân tộc Việt, thừa cơ hội chúng sẽ chiếm tòa thể lãnh thổ Việt nam. Bằng cớ vừa mới xảy ra là nếu Dương Khiết Trì, đại diện chính thức của Đảng CSTH coi trọng VC như một đồng chí “tốt”,láng giềng “tốt”, dù đã được các lãnh đạo VC nhiều lần hô hán rằng mối liên hệ giữa 2 đảng và hai quốc gia đã lên được ‘các’ tầng cao mới, đã không sỉ nhục công khai lãnh đạo CHXHCNVN trước mặt các nhà lãnh đạo thế giới như trong kỳ họp Hội Nghị An Ninh Khu Vực tháng 7 vừa qua là một thí dụ. Lãnh đạo Việt cộng nên nhớ kỹ rằng tự mình đã có đóng góp vô giá cho Trung Cộng trong thập niên vừa qua như hiến đất, dâng vịnh qua các hiệp định 1999, 2000 lại còn không nể mặt, không được coi là một đấy tớ trung thành và bị đối xử tệ bạc như thế. Hoàng văn Hoan trong thời gian lưu vong ở Bắc Kinh bị đối xử như thế nào, thì lãnh đao Việt cộng biết rõ hơn người ngoài. Rồi, Pol Pot trước đây là được Trung cộng che chở như thế nào, rồi cũng bị bỏ rơi, một cách nhục nhã là thí dụ khác.

Nên học các bài học này để có thể sống với cộng đồng dân tộc và quốc tế./.

Làm tại California ngày 10 tháng 8 năm 2010

Đại diện: GS Nguyễn văn Canh

12 THÁNG ANH ĐI