Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoa kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

6 thg 7, 2013

Mỹ - Trung Quốc đang tiêu lòn ?



Bài "Biển Đông : Mỹ - Trung hòa dịu, nhiều nước Đông Nam Á quan ngại"do đài RFI cho phổ biến ngày 1/7/2013 đã làm nhiều người Việt chống cộng ngạc nhiên, vì nó hoàn toàn khác với những gì các bình luận gia chống cộng ở hải ngoại đang rao truyền trên các các cơ quan truyền thông, đó là Mỹ đang xoay trục về Đông Nam Á để bao vây Trung Quốc về cả quân sự lẫn kinh tế.

Những điều đáng lo ngại

Bài báo nói trên đã nhận định :

"Sự chú ý muộn màng của người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ đến một khu vực từng được người tiền nhiệm ưu tiên đã làm dấy lên quan ngại từ nhiều nước nhỏ trong vùng, vốn chờ đợi hậu thuẫn mạnh mẽ hơn của Hoa Kỳ để giải tỏa sức ép ngày càng mạnh của Trung Quốc trên vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

"Mối quan ngại tại Đông Nam Á lại càng tăng vào lúc Washington - bị phân tâm vì hồ sơ Trung Đông - đang cố gắng tìm kiếm một quan hệ hòa dịu hơn với Bắc Kinh, mà biểu hiện nổi bật là cuộc họp thượng đỉnh Obama-Tập Cận Bình tại California hồi tháng 6/2013".

Tổng thống Obama và chủ tịch Tập Cận Bình đã nói với nhau những gì khiến các quốc gia Đông Nam Á lo ngại ?

Chúng tôi xin nhắc lại,trong cuộc gặp gỡ hôm 7/6/2013, tổng thống Obama nói : "Mỹ hoan nghênh sự vươn lên của Trung Quốc. Trên thực tế, sự phát triển của Trung Quốc cũng là lợi ích của Mỹ. Mỹ tin tưởng rằng, một Trung Quốc hòa bình, thịnh vượng và ổn định không chỉ tốt cho Trung Quốc mà còn cho cả Mỹ và cộng đồng quốc tế".

Ông Tập Cận Bình trả lời : "Tôi và tổng thống Obama gặp nhau để vạch ra tương lai cho quan hệ Trung-Mỹ và thiết kế kiểu quan hệ mới. Năm ngoái khi tới thăm Mỹ tôi đã từng nói, Thái Bình Dương rộng lớn đủ không gian dung nạp cả hai nước lớn Trung - Mỹ chúng ta, và bây giờ tôi vẫn cho là như vậy" (Tân Hoa Xã ngày 8/6/2013).

Qua hai lời tuyên bố này,một số nhà phân tích đã đặt ra hai câu hỏi:

(1) Phải chăng đã có một sự thỏa thuận ngầm giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về vấn đề Biển Đông và Biển Hoa Đông ? Nếu Trung Quốc từ bỏ việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông và tôn trọng quyền tự do hàng hải trên Biển Đông,Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào vấn đề Biển Đông?

(2) Phải chăng việc Trung Quốc đẩy mạnh cuộc tranh chấp về quần đảo Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông trong những tháng đầu năm nay là để làm vật đối chác với Mỹ khi chủ tịch Tập Cận Bình gặp tổng thống Obama?

Nhiều nhà quan sát tin rằng các cuộc thao diễn quân sự giữa Mỹ với một số nước Á Châu trên Thái Bình Dương vừa qua và lời tuyên bố triển khai "Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương" của Hoa Kỳ chỉ là một cách trấn an.

Con đường Hoa Kỳ đi tới

Trong bài "The Future of US - Chinese Relations, Conflict Is a Choice, Not a Necessity" (Tương lai của quan hệ Mỹ - Trung Quốc, xung đột là một sự lựa chọn, không phải là một điều cần thiết) được đăng trên tạp chí Foreign Affairs tháng 3 và tháng 4 năm 2012, tiến sĩ Henry A. Kissinger đã bàn về sự hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc. Trước hết ông nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Obama và chủ tịch Hồ Cẩm Đào ngày 19/1/2011. Trong cuộc gặp gỡ này hai bên đã đưa ra một bản tuyên bố chung cam kết chia sẻ "một mối quan hệ Mỹ-Trung tích cực, hợp tác và toàn diện".Hoa Kỳ đã nhắc lại rằng Hoa Kỳ "hoan nghênh một Trung Quốc phú cường và thành công và đóng một vai trò lớn hơn trong các vấn đề thế giới". Trong khi đó, Trung Quốc "hoan nghênh việc Hoa Kỳ là một quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương đóng góp cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực".

Nếu so sánh lời cam kết giữa Obama và Hồ Cẩm Đào năm 2011 và lời cam giữa Obama với Tập Cận Bình năm nay, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã xích lại với nhau gần hơn.

Khác với khi xâm nhập vào các quốc gia nhược tiểu, Kissinger cho rằng khi xâm nhập vào Trung Quốc, chính quyền Mỹ đã không bao giờ tìm cách làm thay đổi thực tế của Trung Quốc như một trong những quốc gia lớn trên thế giới, về nền kinh tế và văn minh. Tại sao?

Tại vì tại các nước nhược tiểu như Việt Nam Cộng Hòa trước đây hay Iraq, Lybia, Ai-cập... hiện nay, Hoa Kỳ có thể dùng viện trợ, hệ thống tình báo và quân sự để thay đổi chính thể ở các nước đó theo ý muốn của Hoa Kỳ, nhất là đưa bọn tay sai lên cầm quyền và chi phối toàn bộ, còn Trung Quốc quá to lớn về cả lãnh thổ, văn hóa lẫn kinh tế, nên Hoa Kỳ khó làm được chuyện đó. Nhưng cũng có thể Kissinger đưa ra nhận định như vậy là để trấn an Trung Quốc.

Kissinger nói thêm : "Mỹ sẽ làm tốt để nhớ rằng ngay cả khi GDP của Trung Quốc là tương đương với Hoa Kỳ, nó sẽ cần phải được phân bố trên một dân số gấp bốn lần lớn, lão hóa,và tham gia vào các biến đổi trong nước phức tạp gây ra bởi sự tăng trưởng và đô thị hóa của Trung Quốc".

Do đó, Hoa Kỳ không lo sợ Trung Quốc có thể vượt lên trên Hoa Kỳ.

Kissinger khuyên : "Cả hai bên nên mở cửa cho việc nhận thức các hoạt động của nhau như là một phần bình thường của đời sống quốc tế và không phải chính nó là một nguyên nhân để báo động".

Bài này rất dài, chúng tôi chỉ mới tóm lược một số nét chính.

Hà Nội phản ứng nhanh

Theo dõi chuyến đi của Tập Cận Bình, Hà Nội tiên đoán được số phận của các quốc gia nhược tiểu trong vùng Biển Đông trong những ngày sắp tới, nên đã cố gắng tìm một lối thoát.

Ngày 19/6/2013, chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã sang Bắc Kinh và chiều hôm đó, 10 "văn kiện hợp tác" đã được ký kết giữa Hà Nội và Bắc Kinh, trong đó có thỏa thuận thăm dò dầu khí chung trong Vịnh Bắc Việt : mở rộng khu vực xác định từ 1.541 km2 lên thành 4.076 km2.

Ông Đỗ Văn Hậu, tổng giám đốc Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam cho biết : "Theo dự báo, khu vực này có cấu tạo địa chất liền nhau, có khả năng có dầu khí, nên hai bên xác định để có lợi cao nhất, thì cùng hợp tác thăm dò và tiến tới khai thác. Điều này chỉ phục vụ lợi ích kinh tế hai nước, không liên quan đến nước thứ ba".

Ngày 21/6/2013, hai bên đã đưa ra một thông cáo chung nói rằng hai bên nhất trí cùng nhau thực hiện tốt "Chương trình hành động triển khai Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc" được ký kết trong chuyến thăm này, thúc đẩy hợp tác thực chất giữa hai nước đạt được tiến triển mới.

Đầu tháng 7 này, ông Vương Đình Huệ, trưởng ban Kinh tế trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam lại dẫn một phái đoàn qua Trung Quốc để "tìm hiểu kinh nghiệm quản lý kinh tế của nước láng giềng".
Tưởng cấn nhắc lại, theo bản tin của hãng thông tấn Kyodo ngày 21/1/2012, trong cuộc viếng thăm Việt Nam vào tháng 12/2011, ông Tập Cận Bình, lúc đó còn là phó chủ tịch nước, đã cảnh cáo nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam "không được dựa vào Mỹ trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông". Thế nhưng trong khi chủ tịch Trương Tấn Sang qua Trung Quốc, Hà Nội cho thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, đến Washington gặp tướng Martin Dempsey, chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Mỹ. Phát ngôn viên của tướng Dempsey cho biết "ngoài các vấn đề khu vực [Châu Á-Thái Bình Dương], hai ông Dempsey và Đỗ Bá Tỵ còn thảo luận về chính sách chuyển dịch trọng tâm về khu vực của chính quyền Obama".

Như vậy, mặc dầu có sự cảnh cáo của Bắc Kinh, Hà Nội vẫn tiếp tục chơi trò đu dây.

Mỹ không chọn xung đột

Chúng ta nhớ lại, ngày 10/1/2012 một nhóm tác giả thuộc Trung tâm An ninh Hoa Kỳ Mới đã đưa ra một tài liệu có đề tựa là "Hợp tác từ Sức mạnh : Hoa Kỳ, Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa". Trong tài liệu này, các tác giả đã kêu gọi Washington thi hành chính sách hợp tác trong thế mạnh trên Biển Đông để tránh xung đột và bảo vệ tự do đi lại cùng độc lập của các nước nhỏ hơn.

Nhiều người tin rằng tài liệu này được đưa ra là nhắm ngăn chặn Hoa Kỳ bỏ rơi các nước trong Biển Đông, nhầt là Philippines và Việt Nam. Vấn đề được đặt ra là Hoa Kỳ đang tiến tới hợp tác với Trung Quốc "trong thế mạnh" hay bằng "quan hệ hòa dịu" ?

Hiện nay, ngoài những lời tuyên bố suông, chúng ta chưa thấy Washington có hành động cụ thể nào cho thấy Hoa Kỳ quyết tâm ngăn chặn sự lộng hành của Trung Quốc trên Biển Đông. Ngày 1/7/2013 khi đến dự hội nghị ASEAN tại Brunei, ngoại trưởng Mỹ John Kerry chỉ nói một cách vu vơ : "Với tư cách là một quốc gia ở Thái Bình Dương và là cường quốc trong khu vực này, Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì hòa bình và an ninh, tôn trọng luật pháp quốc tế, trao đổi thương mại không bị ngăn cản và tự do hàng hải tại Biển Đông".

Ông còn tái khẳng định : "Hành động chúng tôi không nhằm làm chủ hoặc chống lại một nước nào".

Ngoài việc bận lo vấn đề Trung Đông và xây dựng lại sự hợp tác với Âu Châu, Hoa Kỳ còn nhận thấy rằng những quyền lợi của họ tại Trung Quốc còn lớn hơn gấp nhiều lần quyền lợi của 10 nước ASEAN cộng lại, nên xung đột với Trung Quốc về Biển Đông không có lợi gì. Còn vấn đề khai thác dầu lửa tại Biển Đông, các chuyên gia ước tính Trung Quốc phải cải tiến kỹ thuật ít là 20 năm nữa mới khai thác được. Vì vậy, trong hiện tại, Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào Biển Đông trừ khi Trung Quốc ngăn chặn hải lộ quốc tế trên biển này, một điều ít ai tin rằng có thể xảy ra.

Lời nhận định của ôngEllen Tordesillas, một nhà phân tích kỳ cựu của Philippines, được coi là chính xác : "Mặc dù Mỹ muốn ngăn chặn thế lực của Trung Quốc, nhưng nước này sẽ không muốn làm kẻ thù của người khổng lồ Châu Á. Họ cũng không muốn bị lôi kéo vào cuộc chiến giữa Philippines và Trung Quốc".

Hà Nội chắc chắn cũng đã có nhận định như thế đối với Việt Nam, vì Hoa Kỳ đã có cam kết bảo vệ Philippines chứ chua hề có cam kết như thế đối với Việt Nam.

Lữ Giang (4/7/2013)

13 thg 7, 2011

GIỌT NƯỚC MẮT


GIỌT NƯỚC MẮT
SAPY Nguyễn Văn Hưởng

Tác giả Nguyễn Văn Hưởng 54 tuổi, định cư tại San Diego, đã được trao tặng giải Viết Về Nước Mỹ 2001 với bài viết "Hoa Ve Chai". Sau đây là bài viết mới nhất của ông, một bút ký sâu sắc, đầy ý nghĩa về Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại tiểu bang New Jersey, do một kiến trúc sư Việt Nam vẽ kiểu.

Sau chuyến du hành sang thăm miền Đông nước Mỹ vào mùa Thu năm 2002, lúc giở xấp bản đồ ra nghiên cứu lộ trình trở lại Cali, thấy mình đang ở gần thành phố Atlantic, tôi bàn với nhà tôi: "Hay mình đến Atlantic viếng thành phố cờ bạc miền Đông Hoa Kỳ, xem thử có to lớn như Las Vegas bên miền Tây hay không?" Nhà tôi gật đầu đồng ý. Thế là tôi ngồi ghi lại chi tiết đường đi xuống một mảnh giấy, để cho bà xã nhìn vào đấy chỉ đường cho tôi đi.
Trên đường đến Atlantic, không biết bao nhiêu lần, tấm bảng chỉ lối vào Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam Bang New Jersey đập vào mắt tôi. Mỗi lần nó xuất hiện tôi lại nhủ thầm: "Mình sẽ đến viếng Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại thủ đô Washington DC, thì chắc không cần dừng lại thăm Đài Tưởng Niệm địa phương nhỏ bé này làm gì!". Rồi càng đến gần, sự mời gọi càng tăng thêm. Cuối cùng tôi tìm ra được lý do dừng xe, bởi trời đã quá trưa, tôi cần nghỉ ngơi trong chốc lát và để bà xã lo bữa cơm trưa. Thế là tôi đã đến Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam Bang New Jersey cách San Diego nơi tôi cư ngụ gần 3.000 dặm đường. Tuy không ai bảo ai, nhưng chắc nhà tôi cũng chẳng tha thiết vào viếng thăm Đài Tưởng Niệm này.
Trong lúc nhà tôi ở lại trên xe nấu bữa cơm trưa, tôi thong thả tản bộ cho giãn gân cốt. Bầu không khí nơi đây thật trong lành yên tĩnh, có thảm cỏ xanh sạch đẹp, có hàng cây cao đầy bóng mát. Giữa khung cảnh nên thơ ấy mọc lên một kiến trúc trang nhã mang tên Trung Tâm Học Viện Thời Chiến Việt Nam Bang New Jersey đã quyến rũ tôi bước chân đến.
Đưa tay đẩy cánh cửa để vào bên trong, tôi bị khựng lại khi nhìn thấy một tấm bảng giá treo trên khung cửa kính ngay lối vào: "Trẻ em 2$. Người lớn 4$. Cựu quân nhân và gia đình miễn phí". Tôi không tiếc mấy đồng bạc vào cửa, nhưng phải trả tiền cho cái mà tôi nghĩ không cần xem thì nó phí đi. Nhưng tôi vẫn đẩy cửa bước vào.
Khung cảnh bên trong vắng lặng, tiếng xì xào của vài người trung niên đứng trò chuyện bị tan loãng trong không gian cao rộng của tòa nhà. Bầu không khí trang nghiêm êm đềm cùng nhiều hình ảnh Việt Nam trong quá khứ thúc giục tôi tiến lại quầy mua vé. Cô thâu ngân tươi cười chào đón, tôi vừa tìm tiền trong túi vừa lên tiếng hỏi làm quen:
- Tôi là cựu quân nhân, nhưng là cựu quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy tôi có phải mua vé vào cửa không?
Vẫn giữ nụ cười tươi tắn trên môi, cô đưa mắt hỏi người đàn ông đứng bên cạnh. Người đàn ông tiến lên gần tôi hơn, đưa tay ra bắt tay tôi rồi bảo:
- Chào ông, tôi tên là Sibley Smith, Giám Đốc Trung Tâm Học Viện Thời Chiến Việt Nam Bang New Jersey, hân hạnh chào đón ông. Đã là cựu quân nhân thì xin mời ông và gia đình ông vào thăm viếng Trung Tâm và Đài Tưởng Niệm mà không cần mua vé. Xin ông vui lòng ghi danh tánh và nơi cư trú vào quyển sổ lưu niệm này.
Tôi vừa cầm bút viết vừa nói:
- Thưa ông, tôi tên Nguyễn Văn Hưởng đến từ San Diego.
Ông cười hóm hỉnh rồi bảo:
- Vậy chúng ta có họ hàng với nhau rồi. Vì họ Smith ở đất nước này cũng là họ lớn nhất như họ Nguyễn của người Việt Nam vậy.
Nói xong, ông lấy từ trong ngăn kéo ra tặng tôi một số tài liệu rồi giới thiệu sơ qua về Đài Tưởng Niệm Và Trung Tâm Học Viện Thời Chiến Việt Nam Bang New Jersey.
Trước lúc tạm chia tay ông vui vẻ bảo tôi:
- Có điều gì thắc mắc cần đến tôi, xin ông cứ tự nhiên báo cho tôi biết.
Tôi gật đầu cám ơn ông rồi thong thả bước đi. Nơi phòng ngoài, họ trưng bày những tấm ảnh, tạm gọi là tiêu biểu cho Việt Nam thời buổi chiến tranh. Nhìn vào, các cựu quân nhân từng chiến đấu nơi đó, thấy cả một trời dĩ vãng hiển hiện lên trước tầm mắt họ. Chiếc áo bà ba gọn gàng ôm trọn thân hình mảnh mai người thôn nữ, con trâu đang cày đám ruộng xăm xắp nước mưa, bờ mẫu xanh màu cỏ dại, chiếc thuyền ba lá mong manh... những biểu tượng của miền quê đất Việt. Còn nơi thành thị, họ treo hình ảnh các nữ sinh tha thướt trong chiếc áo dài, cô gái bán bar ngồi chờ khách, chiếc xích lô đạp dưới cái nóng trưa hè, những em bé đánh giày gầy ốm lang thang, người ăn xin tiều tụy; một tay ôm con một tay ngửa ra xin tiền... Nhìn những tấm ảnh được chụp gần nửa thế kỷ qua đi, khiến lòng tôi đau xót. Đau xót vì những biểu tượng nghèo nàn lạc hậu ấy vẫn còn tồn tại mãi cho đến bây giờ. Ngoài chiếc áo dài, chiếc áo bà ba truyền thống, là những thứ cần được bảo tồn để sống mãi với thời gian ra, người Việt nào không ước mơ cho con trâu, cái cày, bờ mẫu, con thuyền mong manh,,, những hình ảnh tuy đậm nét quê hương, nhưng cũng là biểu tượng cho sự nghèo nàn lạc hậu, đi mau vào bảo tàng viện, để nhường chỗ cho những công trường, nhà máy... mọc lên. Nhưng ngay giờ phút này nơi quê hương Việt Nam, giữa lòng phố thị, người phu vẫn còng lưng đạp xích lô, các em bé đánh giày vẫn lê la trên phố, người ăn xin vẫn dẫy đầy trên đường... Nơi vùng nông thôn, người vẫn cày thay trâu, vẫn bán mặt cho trời, bán lưng cho đất...Quá khứ hiện tại lẫn lộn trong tôi, tôi không đủ thời gian để lắng nghe lòng mình thổn thức. Tôi phải tạm rời xa quá khứ để quay về thực tại khi cảm thấy đói trong lòng. Ra ngoài xe, bữa cơm trưa nóng sốt đang chờ tôi trên bàn. Vừa ăn tôi vừa kể cho nhà tôi những gì tôi nghe thấy bên trong tòa nhà trước mặt.
Sau bữa cơm trưa, vợ chồng tôi đưa nhau đi viếng Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam Bang New Jersey. Lần theo những bậc thang, chúng tôi chậm rãi bước lên Đài, lên đến nơi cao nhất, Đài như mở toang đón khung trời rộng. Đưa mắt nhìn bao quát cảnh quan, tôi lên tiếng giải thích cho nhà tôi:
- Đài này dựng theo hình tròn, đường kính dài đúng 200 feet, được nối với nhau bằng 366 phiến đá hoa cương đen. Trên mỗi phiến đá ghi khắc tên, ngày sinh, ngày tử của từng người một.
Lướt nhìn qua các phiến đá một lượt, nhà tôi thắc mắc lên tiếng hỏi:
- Sao nhiều tấm họ ghi hàng chục tên, lại có tấm chỉ khắc tên vài người thôi vậy anh?
- Mỗi phiến đá hoa cương, như một tấm bia tượng trưng cho một ngày trong năm. Ai chết ngày nào thì ghi tên đúng vào tấm bia ngày đó.
Nghe tôi giải thích, vợ tôi bán tin bán nghi, hỏi lại cho chắc:
- Sao anh biết rõ quá vậy?
- Lúc nãy ông Smith, vị Giám Đốc Trung Tâm cho anh một số tài liệu, anh vừa đọc qua trong lúc em nấu cơm.
Ngẫm nghĩ một lát nhà tôi nói:
- Xếp đặt như vậy có nghĩa họ xem ngày tử là ngày quan trọng đáng ghi nhớ nhất đối với người chết. Em thấy điểm này có phảng phất nét văn hóa Việt Nam mình trong đó.
Tôi không chú ý đến chi tiết này, nhưng khi nghe nhà tôi phân tích, ngẫm nghĩ một lát tôi gật đầu tán đồng:
- Cũng rất có thể là như vậy!
Chúng tôi chậm rãi nắm tay nhau, mắt nhìn vào bức tường đá hoa cương đen, đi trọn một vòng Đài, như để tỏ lòng biết ơn 1,556 người con yêu bang New Jersey, đã mất tích, đã vĩnh viễn ra đi, được khắc tên vào bia đá. Sự phân chia ra từng ngày này cho tôi hiểu rằng, trong suốt cuộc chiến, ngày nào trong năm cũng có người New Jersey hy sinh. Từ trên cao, tôi chỉ ngón tay xuống trung tâm điểm Đài, nơi trồng một cây Sồi gỗ đỏ, rồi ôn tồn giải thích thêm:
- Cây Sồi đỏ là biểu tượng của bang New Jersey, dưới bóng mát tàng cây có ba bức tượng. Tượng người chiến binh đứng hiên ngang, biểu tượng cho người chiến sĩ sau khi hoàn tất nhiệm vụ quay trở về quê hương. Tượng người nữ y tá, biểu tượng cho nữ giới luôn luôn sát cánh cùng nam giới trong mọi nhiệm vụ khó khăn. Tượng người chiến binh nằm xuống, biểu tượng cho người lính đã ra đi không trở lại.
Nghe xong nhà tôi gật gù khen:
- Lúc mới vào em những tưởng, Đài Tưởng Niệm dựng lên chỉ để ghi nhớ công ơn các chiến sĩ trận vong mà thôi. Giờ em mới hiểu, nơi này còn là nơi tôn vinh, tưởng nhớ, ghi công cả quân lẫn dân, cả người ra đi vĩnh viễn lẫn người còn sống quay trở về.
Chiêm ngưỡng cái hùng dũng, hiên ngang... của quân dân New Jersey, khiến lòng tôi ngậm ngùi khi nghĩ đến người đã khuất. Giây phút tưởng nhớ những người bạn đồng minh đã ngã xuống trên quê hương Việt Nam, trong tay tôi không có một nén hương hay một đóa hoa để tri ân họ. Tôi chỉ còn biết đứng cúi đầu, đặt tay lên phiến đá lạnh, lần mò dòng chữ khắc ghi tên tuổi họ, rồi tôi thầm dâng lời cầu nguyện. Tôi cũng nghĩ đến những chiến sĩ, đồng bào tôi đã vĩnh viễn ra đi vì bảo vệ lý tưởng tự do. Không biết đến bao giờ anh em đồng đội và đồng bào tôi mới có một nơi xứng đáng để mọi người đến viếng thăm, hương khói, tưởng nhớ...
Tôi không dám nghĩ xa vời, bởi càng nghĩ càng khiến tâm tư tôi đi vào con đường bế tắc. Tôi âm thầm lặng lẽ nắm tay vợ, cúi đầu giã từ Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam Bang New Jersey.
Trên đường trở vào Trung Tâm Học Viện Thời Chiến Việt Nam, chúng tôi thấy một khu đất nhỏ có hàng rào bao quanh. Dừng chân lại nhìn vào, phía bên trong có vài phần mộ. Vợ tôi thắc mắc:
- Không lẽ họ chôn những người lính tử trận ở đây? Mà tại sao lại chỉ có vài ngôi mộ?
Tôi lắc đầu:
- Không đâu, người chiến binh Hoa Kỳ chết đi đều được chôn cất tại Nghĩa Trang Quân Đội cả, anh không nghĩ bang New Jersey này được ngoại lệ đâu.
Đã xác quyết như vậy, nhưng tôi cũng chẳng hiểu tại sao mấy mộ phần này lại nằm ngay trước cổng vào Đài Tưởng Niệm. Tuy mấy ngôi mộ làm tôi quan tâm, nhưng sự quan tâm ấy đến và đi thật nhanh vì còn nhiều điều đang chờ đón chúng tôi bên trong tòa nhà. Vào đến bên trong, gặp lại ông Smith, tôi chỉ vợ tôi rồi giới thiệu:
- Thưa ông, đây nhà tôi.
Rồi hướng mặt về phía ông Smith tôi nói:
- Còn đây ông Smith, Giám Đốc Trung Tâm.
Ông Smith mỉm cười cúi đầu chào nhà tôi rồi đưa tay ra bắt:
- Hân hạnh được tiếp đón bà. Hai ông bà vừa đi viếng Đài Tưởng Niệm về phải không?
- Thưa vâng!
Vẫn giữ nụ cười tươi tắn trên môi, ông lên tiếng hỏi:
- Ông bà có biết ai là người vẽ kiểu Đài Tưởng Niệm này không?
Tôi lắc đầu:
- Thưa không!
Ông đưa chúng tôi lại trước tấm ảnh chụp mấy người cầm cuốc xẻng đang đào đất, biểu tượng cho sự khởi công xây dựng Đài. Theo ngón tay ông chỉ, tôi nhận ngay ra gương mặt người Á Đông. Ông từ tốn giải thích:
- Một cuộc thi vẽ mô hình Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam Bang New Jersey được tổ chức từ mùa xuân năm 1987 đến mùa xuân 1988. Trong toàn bang có tất cả 421 đồ án gởi đến dự thi. Ngày 7-7-1988, hội đồng chấm giải họp lần cuối và công bố kết quả cuộc thi. Ông Nguyễn Hiền, một người trẻ Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản đến Hoa Kỳ năm 1975, sinh sống tại New Jersey đoạt giải nhất và đồ án ấy được chọn để xây Đài Tưởng Niệm.
Nghe đến đây nhà tôi lên tiếng:
- Hèn chi tôi thấy có phảng phất chút văn hóa Việt Nam qua việc dựng 366 tấm bia đá hoa cương đen.
Ông Smith gật đầu khen:
- Quả đúng như bà nhận xét.
Nói xong ông đưa chúng tôi đến trước một tấm ảnh khác, chỉ ngón tay vào đấy rồi nói:
- Ông bà hãy nhìn tấm ảnh này xem có nhận ra đôi nét văn hóa Việt Nam nào ẩn hiện trong đó không? Xin lỗi, tôi bận chút công việc, khoảng nửa giờ sau tôi trở ra đây tiếp tục hầu chuyện với ông bà.
Ông Smith đi rồi, vợ chồng tôi chăm chú nhìn lên tấm ảnh. Đây là bức ảnh toàn cảnh Đài Tưởng Niệm chụp từ trên máy bay. Nếu đem so sánh với các Đài Tưởng Niệm tôi từng viếng qua, tôi chỉ nhận ra một điểm hơi khác biệt là sự hiện diện của mấy phần mộ đặt ngay trước cổng ra vào. Cố suy nghĩ thêm, nhưng vợ chồng tôi chẳng nhận ra nét văn hóa Việt nào phảng phất nơi đó. Trong lúc chờ đợi ông Smith quay lại giải thích điều "bí ẩn", tôi hướng dẫn vợ tôi đi xem ảnh treo trên tường. Bởi không còn nhiều thời gian, nên chúng tôi nhìn lướt qua nhiều hơn suy gẫm tìm hiểu học hỏi. Có hai tấm ảnh gây cho tôi nhiều chú ý nhất:
Tấm đầu tiên, một tấm ảnh tôi đã nhìn nó không biết bao nhiêu lần trong đời. Tấm ảnh đó được trang trọng treo nơi đây đã khiến tôi hết sức bất mãn khi đọc lời chú thích phía dưới: "Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Miền Nam Việt Nam, xử bắn một viên chức Việt Cộng trên đường phố Sàigòn vào tháng 2/1968. Hành động xử bắn này làm phẫn nộ người Mỹ, đây như là bằng chứng của sự rối loạn trong Quân Đội Miền Nam Việt Nam. Ít ai hiểu rằng, tất cả những người trong gia đình một phụ tá thân cận nhất của tướng Loan vừa bị Việt Cộng tàn sát". Tôi tự hỏi họ treo tấm ảnh này lên với mục đích gì? Nhận ra cái chau mày của vợ tôi khi nhìn tấm ảnh, tôi ôn tồn nói lên sự hiểu biết của riêng tôi về tấm ảnh đó:
- Đây là một trong những tấm ảnh góp phần vào việc khai tử chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Bởi nhìn ảnh, ai cũng thấy sự dã man của người cầm súng, thản nhiên bắn chết một người đang bị trói tay. Nhưng đâu có mấy người hiểu, chỉ vài phút trước khi tấm ảnh ấy được chụp, "nạn nhân" bị bắn đã đốt cháy biết bao căn nhà và giết cả những người dân vô tội. Có mấy ai hiểu, người cầm khẩu súng bắn đang làm nhiệm vụ của vị quan tòa kiêm đao phủ thủ, xử tử hình một tội đồ.
Tấm ảnh thứ hai, một tấm ảnh rất đẹp, chụp chiếc xích lô cùng anh phu xe ngồi nhàn nhã đọc tờ báo Anh ngữ "The Saigon Post", số ra ngày 01-11-1968, trên trang báo có chạy hàng tin lớn: "Tổng Thống Lyndon B. Johnson ra lệnh ngưng giội bom Bắc Việt". Tôi phân trần với nhà tôi:
- Vào thời buổi ấy và ngay cả bây giờ, một người có trình độ đọc và hiểu những bài viết trong tờ báo Anh ngữ, anh đoan chắc không một ai chọn mưu sinh bằng nghề đạp xích lô cực khổ này. Tấm ảnh tướng Loan và tấm ảnh người phu xích lô như đối nghịch nhau, một bức chụp cảnh thật, sống động đến rợn người, một bức dàn dựng giả tạo đến trơ trẽn lộ liễu. Anh sẽ lên tiếng phản đối việc treo hai tấm ảnh ấy nơi đây và nhân tiện tìm hiểu xem họ treo lên với dụng ý gì? Anh cũng sẽ trình bày cái nhìn của riêng anh với ông Giám Đốc Sibley Smith.
Khi ông Smith quay lại, để đo lường sự hiểu biết của ông về chiến tranh Việt Nam, tôi lên tiếng hỏi:
- Thưa ông Smith, ông có từng sang chiến đấu bên Việt Nam chưa?
- Thưa chưa, ngày ấy tôi còn quá bé.
Sau câu trả lời, tôi hơi nghi ngờ sự hiểu biết về Việt Nam của ông. Đưa ông đến trước hai tấm ảnh, tôi giãi bày về cái nhìn của tôi rồi nêu lên vài thắc mắc vừa nảy sinh lúc xem ảnh. Biết tôi hơi bất bình trong cử chỉ và lời nói, nhưng ông Smith vẫn chăm chú lắng nghe, rồi ôn tồn giải thích:
- Thưa ông, tôi rất thông cảm sự xúc động trong ông. Tuy tôi chưa từng tham chiến ở Việt Nam, nhưng tôi thấu hiểu tâm trạng người lính chiến thời buổi đó, vì tôi được hoàn toàn tự do nghiên cứu về cuộc chiến ấy. Ngoài những gì ông vừa trình bày, tôi còn biết thêm, vị tướng bắn người Việt Cộng trong ảnh đã gặp nhiều khó khăn trong thời gian tỵ nạn ở Hoa Kỳ vì có một số người xem ông ta là tội phạm chiến tranh. Chính người chụp bức ảnh đó đã đến xin lỗi tướng Loan và gia đình ông ta về hậu quả do bức ảnh gây ra. Còn bức ảnh người phu xích lô ngồi đọc báo, đúng là bức ảnh được dàn dựng. Bức ảnh chụp tướng Loan bắn người Việt Cộng là bức ảnh rất thật, nhưng nó không diễn tả được chút sự thật nào. Còn bức ảnh thứ hai là bức ảnh giả tạo, nhưng nó diễn tả được hết sự giả tạo trong đó. Thật giả trong cuộc chiến Việt Nam đang lẫn lộn nhau trong thời đại chúng ta, chỉ có thời gian mới gạn lọc hết những gian dối để sự thật được phơi bày. Nơi đây chúng tôi chỉ cung cấp dữ kiện, không bắt ai phải nghe và tin theo bất cứ điều gì. Chúng tôi dành mọi sự nhận định phán xét cho những người muốn đến đây học hỏi và tìm hiểu.
Tôi đứng im lặng cúi đầu lắng nghe từng nhận định của ông Smith. Nơi Trung Tâm Học Viện Thời Chiến Việt Nam này vừa cho tôi một bài học về sự tự do, điều cao quý nhất của nhân phẩm con người. Một khi tự do được tôn trọng thì không còn cảnh áp đặt người khác phải hiểu và nhận định theo hướng của mình. Tôi chạnh lòng nghĩ đến người Việt Nam ở quê nhà đang phải nghe, phải suy luận, phải giải thích...theo chính sách đường lối của một đảng độc tôn đưa ra. Còn người Việt hải ngoại, tuy có trong tay mọi quyền tự do, nhưng vẫn chưa sử dụng quyền ấy đúng đắn để đem lại lợi ích chung cho cộng đồng và cho quê cha đất tổ.
Trở lại với tấm ảnh ông Smith đề cập đến trước lúc tạm chia tay, ông nói:
- Chắc ông bà chưa nhận ra được nét độc đáo của văn hóa Việt Nam qua tấm ảnh này phải không?
Tôi mỉm cười gật đầu:
- Chúng tôi đành chịu thua và đang nôn nóng chờ nghe ông giải thích đây!
Như để sắp xếp lại những điều sắp nói, ông Smith đứng im suy nghĩ một lát xong, ông bắt đầu vào chuyện:
- Người chiếm giải nhất trong cuộc thi thiết kế Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam Bang New Jersey được trao tặng 5000 đô la tiền thưởng. Nhận giải xong, ông Nguyễn Hiền biếu ngay lại số tiền ấy cho công cuộc xây dựng Đài.
Đài Tưởng Niệm được xây dựng trên khu đất rộng, do một gia đình cư dân sinh sống lâu đời ở đây trao tặng. Khi tìm kiếm địa điểm dựng Đài, mọi người đồng ý chọn một nơi cao ráo thoáng mát nhất. Đến lúc sửa soạn khởi công, mới phát hiện ra cạnh bên vùng đất được chọn có mấy phần mộ của tổ tiên người hiến đất. Hai giải pháp được đưa ra ngay lúc đó là: Chọn một địa điểm mới. Hoặc di chuyển mấy phần mộ đi nơi khác.
Giải pháp đầu bất khả thi vì không tìm ra địa điểm nào đẹp và thích hợp hơn địa điểm đã chọn. Cho nên giải pháp di chuyển phần mộ đi nơi khác được đem ra họp thông qua để thi hành. Đến lúc này, ông Nguyễn Hiền đứng lên kể cho cử tọa nghe câu chuyện xảy ra sau ngày gia đình ông cùng gần một triệu người miền Bắc di cư vào miền Nam lánh nạn Cộng Sản năm 1954.
Vài năm sau ngày vào Nam tìm tự do, bố mẹ ông Hiền nhận được hung tin, mộ phần tổ tiên ông ngoài Bắc bị di chuyển đi nơi khác để lấy đất xây nhà kho. Tin chẳng lành này làm bố mẹ ông khóc hết nước mắt. Ngày ấy, ông Hiền vẫn chưa chào đời. Nhưng hàng năm cứ đến ngày giỗ, ngày Tết, bố ông lại đem chuyện xưa ra kể cho con cháu nghe trong niềm đau đớn tiếc thương. Bố ông thường đem câu tục ngữ: "Sống vì mồ vì mả, chứ không ai sống vì cả bát cơm" ra giảng dạy. Cho nên ông Hiền như bị dị ứng mỗi khi nghe đến chuyện động mồ động mả. Ông Hiền muốn tổ tiên ông được mồ yên mả đẹp. Cho nên ông không muốn đào bới mồ mả tổ tiên người khác, dù là đào lên để làm một việc có ý nghĩa cao cả như việc xây Đài Tưởng Niệm, ghi nhớ công ơn các chiến sĩ vị quốc vong thân. Ông xin mọi người một đặc ân, cho ông đôi ba ngày, để ông suy nghĩ tìm cách sửa lại đồ án sao cho khỏi phải đụng chạm đến mộ phần người quá cố mà vẫn giữ được nguyên vẹn vẻ đẹp của Đài.
Để mong tránh khỏi việc đào mồ quốc mả, về nhà ông Hiền suy nghĩ suốt mấy ngày liền. Đến ngày hẹn, ông Hiền trình lên hội đồng thẩm định ý muốn dựng một bức tường rào quanh khu mộ, bức tường ấy biểu tỏ được lòng biết ơn cùng sự thương tiếc tổ tiên người đã dâng hiến một khu đất thật đẹp để xây dựng Đài Tưởng Niệm. Làm được việc này, vừa tăng vẻ đẹp nơi ghi công các anh hùng tử sĩ, vừa giữ gìn mồ mả tổ tiên người hiến đất. Một công đôi ba chuyện đều lo vẹn toàn. Diễn đạt những ý tưởng trên, ông Nguyễn Hiền dùng hình dáng giọt nước mắt để tạo thành bức tường bao quanh khu mộ, đồng thời cũng là bức tường cạnh cổng vào Đài Tưởng Niệm.
Nghe ông Smith kể xong, tôi nén cảm xúc ngước lên nhìn lại tấm ảnh. Bức tường rào đúng là mang dáng hình một giọt nước mắt bao quanh khu mộ như sáng tỏ lên trong mắt tôi. Tôi có cảm tưởng như giọt nước mắt mình rơi lên trên ấy.
Một người Việt giải thích về văn hóa nước mình cho người ngoại quốc hiểu là chuyện rất khó, ông Nguyễn Hiền đã làm được việc này. Còn một người ngoại quốc giải thích về văn hóa Việt cho người ngoại quốc hiểu và cảm nhận được nét hay đẹp của nó, tôi chưa thấy ai ngoài ông Smith. Tôi xin bái phục ông, nhờ ông, tôi hiểu rõ thêm về quê hương đất nước tôi, đồng bào tôi.
Cám ơn ông Nguyễn Hiền, cám ơn ông Sibley Smith và cám ơn Giọt Nước Mắt.

NGUYỄN VĂN HƯỞNG

9 thg 2, 2011

Sách lược quânsự mới của HoaKỳ tập trung vào Châu Á

http://www.voanews.com/vietnamese/news

Sách lược quân sự mới vạch ra vai trò mà Lục quân, Hải quân, Không quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ sẽ đóng trong việc bảo toàn đất nước trong những năm tới đây

Hôm qua, quân đội Hoa Kỳ công bố văn kiện về sách lược toàn bộ mới từ 6 năm nay, kêu gọi phát triển một lực lượng tập trung nhiều hơn vào Châu Á, là nơi mà văn kiện này cho rằng sức mạnh kinh tế và quân sự đang gia tăng, và bầu không khí sách lược đang thay đổi nhanh chóng. Thông tín viên VOA Al Pessin tại Ngũ Giác Đài đã nói chuyện với một trong các tác giả của sách lược và ghi nhận chi tiết trong bài tường thuật sau đây.

Thế giới ngày nay đề ra một bầu không khí an ninh biến chuyển nhanh chóng và đầy khó khăn, đòi hỏi tăng cường sự lãnh đạo từ phía quân đội Hoa Kỳ, một chính sách có liên quan đến sức mạnh dân sự và quân sự, và thêm quan hệ đối tác với các nước trên khắp thế giới, theo như Sách lược Quân sự Toàn quốc.

Văn kiện 21 trang do ban lãnh đạo quân đội cấp cao nhất của Mỹ công bố xây dựng trên các sách lược đã được công bố bởi các nhà lãnh đạo dân sự của Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài. Sách lược quân sự vạch ra vai trò mà Lục quân, Hải quân, Không quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ sẽ đóng trong việc bảo toàn đất nước trong những năm tới đây.

Ông Roberti cho biết: “Chúng ta phải bố trí lực lượng ở những nơi nào ta nghĩ sẽ có nguy cơ, để chống lại loại nguy cơ mà chúng ta trông đợi sẽ xảy ra.”

Đó là nhận định của Phó Đề đốc John Roberti, thuộc Văn phòng Sách lược và Chính sách của quân đội. Ông nói sách lược mới tập trung vào Châu Á bởi vì kinh tế toàn cầu đang chuyển hướng qua khu vực này, nơi có những sức mạnh quân sự đang nổi lên, và đang xảy ra thay đổi về chính trị.

Ông Roberti nói: “Ta cần phải nhìn vào vị thế quốc phòng ở đó, các khả năng của chúng ta có sẵn ở đó, các mối bang giao, các quan hệ hợp tác, các đồng minh của chúng ta, và tập trung vào khu vực đó để duy trì an ninh. Tôi sẽ không tập trung vào nơi nào có nhiều hay ít binh sĩ hơn, mà vào các khả năng và việc bố trí các khả năng đó ở khu vực này.”

Sách lược chú ý đặc biệt vào Trung Quốc, và nói rằng quân đội Hoa Kỳ phải chuẩn bị sẵn sàng để đáp lại điều được gọi là 'các khả năng chống tiếp cận', mà Trung Quốc đang bành trướng nhanh chóng. Những khả năng đó có thể đe dọa đến các con đường thương mại và hạn chế khả năng của quân đội Hoa Kỳ thực hiện những gì mà các nhà lãnh đạo Mỹ có thể ra lệnh cho họ phải làm.

Văn kiện cũng liệt kê các yếu tố như phổ biến vũ khí, toàn cầu hóa, các thiên tai, tình trạng biến đổi khí hậu, tội phạm trên mạng, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, dịch bệnh, các vụ tranh chấp mậu dịch và các tổ chức cực đoan bạo động như những yếu tố chính trong môi trường sách lược toàn cầu – tất cả, theo ông Roberti, đều hiện diện tại Châu Á.

Ông Roberti nhận xét: “Sự gặp gỡ của các thách thức đó làm nẩy sinh ra một nguy cơ mà muốn đối phó, chúng ta phải theo một chủ trương khác đi, phải hoạch định khác đi và chắc chắn ta phải tính tới trong các kế hoạch hiện thời.”

Ngoài việc phát triển các khả năng chiến đấu thích nghi, sách lược nói rằng quân đội Hoa Kỳ phải dẫn đầu trong việc quy tụ các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ và các đối tác dân sự cũng như quân sự của nước ngoài, kể cả các tổ chức phi chính phủ, để giải quyết những vấn đề đe dọa đến an ninh và ổn định.

Đặc biệt, sách lược kêu gọi hợp tác với các tổ chức khu vực ở Châu Phi và Nam Mỹ để thăng tiến an ninh và ổn định trong những vùng đó. Và mặc dầu được viết trước khi diễn ra các vụ bạo động hiện thời ở Tunisia và Ai Cập, văn kiện này đã nêu ra sự cần thiết phải giải quyết tình trạng bất ổn tiềm tàng ở Trung Đông, bởi vì các vấn đề về chính quyền, và các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa đang chuyển biến.

Văn kiện này nằm trong khuôn khổ một cái nhìn trước vào những ưu tiên của quân đội Hoa Kỳ sau các cuộc chiến tranh ở Iraq, nơi theo dự kiến lực lượng Hoa Kỳ sẽ rút đi trong năm nay, và Afghanistan, nơi quân đội Hoa Kỳ sẽ bắt đầu rời khỏi cũng trong năm nay, với mục tiêu là cuộc triệt thoái đáng kể trước năm 2014.

Các nhà lãnh đạo quân đội sẽ sử dụng sách lược này như một cơ sở kế hoạch, kể cả những yêu cầu về chương trình vũ khí mới hay mở rộng có phần chắc sẽ rất khó nhận được sự tài trợ, căn cứ vào bầu không khí dự chi tại Quốc hội Hoa Kỳ.

http://www.voanews.com/vietnamese/news/us-military-02-09-2011-115629059.html

27 thg 1, 2011

Hoa Kỳ sẽ tăng cường quân lực ở Đông Nam Á

Đảo Guam nơi có các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở Thái bình dương

http://www.voanews.com/vietnamese

Bộ quốc phòng Mỹ mới đây cho biết Hoa Kỳ đang xem xét tới việc tăng cường thêm nữa sự hiện diện quân sự trong vùng Á châu Thái bình dương, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Phát ngôn viên Geoff Morrell cho biết như thế hôm thứ tư tại cuộc họp báo ở Ngũ giác đài trong lúc sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc đang làm cho nhiều nước Đông Á cảm thấy lo ngại về triển vọng an ninh trong khu vực. Mời quí vị xem Duy Ái trình bày thêm chi tiết trong tiết mục Nhìn Về Á Châu sau đây.

Phát ngôn viên Geoff Morrell của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cho biết giới hữu trách ở Washington đang xem xét tới những phương thức nhằm tăng cường sức mạnh quân sự trong khu vực Á châu Thái bình dương, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Ông Morrell nói rằng mới đây Hoa Kỳ đã thảo luận với Australia về việc để cho quân đội Mỹ được sử dụng một số cơ sở ở nước này. Ông đề cập tới việc Hoa Kỳ hiện có một mối quan hệ tốt đẹp với Singapore và có quyền tiếp cận các cơ sở ở quốc gia thành phố này; và nói thêm rằng kế hoạch tái bố trí lực lượng tới đảo Guam của Mỹ ở Thái bình dương cũng giúp cho sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á được mạnh mẽ hơn.

Ông Morrell phát biểu như vậy tại cuộc họp báo ở Ngũ giác đài hôm thứ tư (26 tháng 1, 2011) vừa qua, giữa lúc sự lớn mạnh nhanh chóng của quân đội Trung Quốc đang làm cho nhiều nước trong vùng Đông Á cảm thấy lo ngại về triển vọng an ninh của khu vực. Các nước láng giềng nhỏ hơn và yếu hơn của Trung Quốc ở Đông Nam Á đặc biệt lo ngại về điều được cho là thái độ bá quyền của Bắc Kinh trong thời gian gần đây liên quan tới vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo ở biển Nam Trung Hoa mà Việt Nam gọi là Biển Đông. Trong lúc các nước ASEAN đang ra sức tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vụ tranh chấp này với Trung Quốc, một số nước hội viên đã tìm cách tăng cường khả năng hải quân trong vài năm gần đây. Tin tức báo chí cho hay Việt Nam đã đặt mua 6 tiềm thủy đĩnh của Nga, và Malaysia cũng mua các tàu ngầm mới của Pháp trong lúc Indonesia đã đề ra kế hoạch tăng gấp đôi số tàu ngầm của mình.

Giáo sư Simon Tay là người đứng đầu Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế ở Singapore. Ông cho biết các nước Á châu có những cảm nhận phức tạp trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và mong muốn Hoa Kỳ tiếp tục duy trì sự hiện diện mạnh mẽ trong khu vực. Ông nói:

"Chúng tôi nhìn Trung Quốc với những mối hy vọng về mặt kinh tế nhưng chúng tôi lo ngại về vấn đề chính trị và an ninh. Chúng tôi trông đợi Hoa Kỳ tiếp tục mang lại ổn định và hòa bình, vốn là nền tảng của sự tăng trưởng và thịnh vượng của chúng tôi."

Trong khi đó ở vùng Đông Bắc Á, sự hậu thuẫn của Bắc Kinh đối với Bắc Triều Tiên và vụ xích mích ngoại giao nghiêm trọng giữa Trung Quốc và Nhật Bản hồi tháng 9 liên quan tới một dãy đảo nhỏ ở Hoàng Hải đã khiến Nhật Bản điều chỉnh sách lược quốc phòng để ứng phó với Trung Quốc. Hồi đầu tháng này, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates đã tán dương việc Nhật Bản quyết định di chuyển những nguồn lực quân sự từ miền bắc gần Nga tới những hòn đảo ở vùng tây nam gần Trung Quốc. Ông Gates cũng cho rằng nếu không có liên minh phòng thủ Mỹ-Nhật thì Trung Quốc có lẽ đã có những hành động hung hãn hơn với các nước láng giềng.

Ông Tsuneo Akaha là người giữ chức Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á của Viện Nghiên cứu Quốc tế Monterey ở California. Ông nói rằng sách lược quốc phòng mới của Nhật phản ánh sự quan tâm đối với Trung Quốc:

"Lý do quan trọng nhất là sự khuyếch trương của quân đội Trung Quốc, đặc biệt là trong khả năng hải quân viễn dương, và những diễn tiến mới đây liên quan tới loại chiến đấu cơ tàng hình mới, cùng với việc Trung Quốc đã bố trí và dự định chế tạo thêm tàu ngầm để họ có thể phóng chiếu sức mạnh của mình tới những nơi xa hơn."

Ông Akaha cũng cho biết chính phủ ở Tokyo ủng hộ việc Hoa Kỳ tăng cường hợp tác quân sự với các quốc gia vùng Đông Nam Á. Ông nói thêm như sau:

"Điều này có thể nói là đã mang lại cho Hoa Kỳ một sự khích lệ về chính trị và một cơ sở cho tư duy chiến lược để giao tiếp chặt chẽ hơn với các nước Đông Nam Á. Diễn tiến này cũng giúp củng cố sự tin tưởng của Nhật Bản bởi vì chừng nào mà Hoa Kỳ còn có mặt ở đó thì an toàn của hoạt động hàng hải quốc tế còn được bảo đảm."

Ông Mã Chấn Cương, cựu Đại sứ Trung Quốc ở London, là Giám đốc Viện Nghiên cứu Vấn đề Quốc tế Trung Quốc. Ông nói rằng Trung Quốc không muốn xảy ra xung đột với Hoa Kỳ, nhưng rủi ro sẽ gia tăng nếu các nước khác không ngớt nhấn mạnh tới điều gọi là “mối đe dọa của Trung Quốc.”

Ông nói: "Đương nhiên là nếu một số người Mỹ nhất định không chịu từ bỏ lối suy nghĩ của thời Chiến tranh Lạnh, nhất định cho rằng Trung Quốc là địch thủ hoặc đối thủ tiềm năng của Hoa Kỳ, và thậm chí còn thách thức những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, thì quan hệ giữa hai nước có thể rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Đó là điều mà Trung Quốc không muốn xảy ra. Vì vậy tôi nghĩ rằng việc Hoa Kỳ và Trung Quốc phát triển hợp tác về an ninh là phù hợp với lợi ích của hai nước và tôi không nghĩ rằng việc hai nước đối đầu với nhau hay giao chiến với nhau là một việc tất nhiên."

Hầu hết các nhà phân tích tình hình Á châu cho rằng trong tình hình hiện nay Hoa Kỳ cần tiếp tục tiến hành những cuộc đối thoại và giao lưu quân sự với Trung Quốc để giảm thiểu mối rủi ro xảy ra những vụ hiểu lầm và căng thẳng có thễ dẫn tới chỗ đối đầu giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Bắc Kinh đã cắt đứt cuộc đối thoại quân sự với Hoa Kỳ hồi năm ngoái sau khi Washington loan báo kế hoạch bán cho Đài Loan một số vũ khí trị giá 6,4 tỉ đô la.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates đã đến thăm Trung Quốc hồi thượng tuần tháng này trong khuôn khổ của những nỗ lực nhằm xây dựng lại mối liên hệ giữa quân đội hai nước. Tuy nhiên quân đội Trung Quốc cho đến nay vẫn chưa chấp nhận đề nghị của ông Gates là thiết lập một cơ chế để thực hiện những cuộc đối thoại thường xuyên giữa đôi bên về các vấn đề an ninh.

29 thg 12, 2010

Hoa Kỳ Có Thật Sự Bị Sa Lầy Trên Chiến Trường VN Không ?

Muong Giang

Trong bối cảnh của cuộc chiến trạnh lạnh từ 1947-1973, người Mỹ gần như đã thất bại trong khi đối đầu để ngăn chận ảnh hưởng của Nga Sô Viết, cho dù đã sử dụng rất nhiều chiến lược hoàn cầu, từ chủ thuyết Containment sang Domino, hết phản du kích tới trực diện tham chiến . Rốt cục mọi hy sinh, nổ lực, bạc tiền và mạng lính của Mỹ, Ðồng Minh và VNCH thành vô ích khi Hoa Kỳ tới Paris vào tháng 1-1973, cúi mặt để nhận tờ giấy lộn của cái được gọi là ‘ Hiệp định hòa bình ngưng bắn VN ‘.Tóm lại, trong cuộc chiến VN, chỉ có bọn đại tư bản lái súng Mỹ và các con buôn trung gian liên hệ khắp thế giới, làm giàu mà thôi.
Sự bội tín của người Mỹ tại VN, còn là dây chuyền giúp Nga chiếm ảnh hưởng tại Iraq, Libya, Angola, đưa các đảng xã hội lần lượt nắm quyền tại Tây Âu. Ở Trung Mỹ, dưới sự tiếp tay của Nga và Cu Ba, đảng CS Sandinista chiếm Nicaragua, cùng đe dọa các nước quanh vùng, nhất là El Salvador. Ðó là chưa nói tới dịch khủng bố quốc tế, lợi dụng sự thất thế uy tín của người Mỹ, gieo rắc máu lửa chết chóc khắp nơi cho nhân loại.

Vì vậy đã không có đại chiến thứ ba, mà chỉ có cuộc chiến khu vực. Cũng vì Bắc Cao và Bắc Việt lúc đó là chư hầu của Ðệ tam Cộng Sản quốc tế, đã xung phong nhận lãnh trách nhiệm làm tên lính tiền phong của đế quốc đỏ trong khu vực. Nên Liên Xô-Trung Cộng, đã chọn bán đảo Triều Tiên và Ðông Dương, làm hai CHIẾN TRƯỜNG thí điểm, để hai khối thanh toán, đồng thời cũng là nơi mà các cường quốc, dùng để tiêu thụ số bom đạn thặng dư sau thế chiến và thử nghiệm những loại vũ khí mới vừa chế tạo.

Việt Nam Hoá Chiến Tranh

Chỉ tội nghiệp cho các dân tộc nhược tiểu trong vùng chiến cuộc bổng dưng bị họa lây, gồm Cao Ly, Việt Nam, Lào, Kampuchia.. do hai đảng Cộng Sản Bắc Cao và Bắc Việt, rước voi về dầy mã tổ, tàn phá quê hương và hủy diệt dân tộc mình. Vì nếu không có sự xuất hiện của đảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế, chắc chắn các quốc gia trên, trong đó có Việt Nam cũng sẽ như các nước trong vùng như Ấn Ðộ, Pakistan, Tích Lan, Miến Ðiện, Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương.. thuộc địa cũ của Anh-Pháp hay Phi Luật Tân thuộc Mỹ, cũng độc lập mà không cần phải gây ra cuộc kháng chiến chín năm (1946-1954), làm tốn biết bao máu xương của đồng bào, lại còn hủy hoại tài nguyên và nhiều công trình kiến tạo của tiền nhân để lại rất vô ích và tội lỗi.

Ðó là thực chất của cái, được thế giới gán cho danh từ hào nhoáng ‘ Chiến Tranh Giải Phóng Việt Nam ‘ . tuy chỉ là một giai đoạn ngắn ngũi nhưng lại bi thãm nhất trong dòng sông lịch sử Hồng-Lạc, với sự yểm trợ của khối Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế và sự tham chiến của Hoa Kỳ, giúp Người Việt hai bên chiến tuyến, chém giết nhau một cách tận tuyệt.

Theo Kenneth E.Sharpe trong ‘ The Post Vietnam Formula under Siege ‘ và Political Science Quarterly ‘, thi giai đoạn 1960 tới cuối năm 1971, được coi như là thời kỳ ‘ Giải Kết ‘ của Mỹ. Chính Tiến sĩ Henry Kissinger đã chủ trương, đưa Trung Cộng về lại với Thế Giới Tự Do bằng sự đánh đổi ‘ Bỏ Rơi Tiền Ðồn Chống Cộng tại Á Châu là VNCH ‘.Hành động giải kết trên, tuy có tạo được cho đương sự một tầm vóc quốc tế nhưng kết quả đã đưa đến sự ‘ bại trận nhục nhã ‘ cho nước Mỹ, bởi vì Kissinger đã lẫn lộn giữa chính trường và khuôn viên trường đại học. Tóm lại chỉ vì ngu muội, Kissinger đã tự mình đưa nước Mỹ vào một thời kỳ suy thoái nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (1973-1980) , dưới sự lãnh đạo của đảng Dân Chủ toàn phần.

Tóm lại, sau hơn ba mươi bốn năm VNCH bị sụp đổ nhưng ngày nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc nhất là cái gọi đài BBC Luân Ðôn, mỗi khi có dịp nói-viết về cuộc chiến trên,vẫn cứ dựa vào các tài liệu tuyên truyền của cọng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi lúc thật hàm hồ bừa bãi. Chính những cuốn sách và cái máy nói này, đã khiến cho ai đọc hay nghe tới, cũng đều có cảm tưởng là những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó, toàn ngu xuẩn hay điên rồ, cho nên mới bị sa lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã .

Với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời hứa, bảo đãm quyền sống tự do của đồng bào Việt-Miên-Lào trên Bán đảo Ðông Dương, nên vẫn cứ phải loay hoay giữa tự ái và lương tâm, khi muốn giải đáp trước công luận quốc tế và trong nước, lý do tại sao một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và hiện tại, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cọng sản Bắc Việt ? dù chúng đã được toàn khối Cộng Sản viện trợ, hay rất lỳ lợm, dã man, tham tàn, coi mạng sống của đồng bào VN và cán binh thua cỏ rác.

Ngày nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận rõ phần nào giải đáp trên, về thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975). Như Pháp năm 1954, người Mỹ đã thua cọng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường Ðông Dương. Cũng từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ ‘ No more Việt Nam ‘ như một thứ mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cọng sản quốc tế
Tất cả không phải vì QLVNCH không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ VNCH không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain vừa tuyên bố trên báo chí, mà là NƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU VN, hay nói đúng hơn chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh là Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cọng sản, đã sắp xếp sẳn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Nhiều nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẳn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gở được gông cùm nô lệ cọng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần lớn khối cọng sản đệ tam quốc tế tan rã.

Tại VN trước năm 1975, dù không bị sa lầy Hoa Kỳ vẫn tháo chạy vì mục đích nối kết với Trung Cộng, phá vở thế liên hoàn Nga-Hoa, đã hoàn thành từ 1972. Tại Iraq dù bị sa lầy thực sự, Hoa Kỳ vẫn không bao giờ bỏ chạy, khi chưa làm chủ được mỏ dầu Iraq và kho dầu cũng như con đường vận chuyển dầu, từ Caspi-Trung Á, A Phú Hản ra Ấn Ðộ Dương. Ðây chính là những khác biệt cụ thể của Hoa Kỳ khi tham chiến tại VN, trước đó và Iraq, A Phú Hản ngày nay, càng lúc càng thấy rõ ràng hơn dù ai có làm tổng thống, thì quốc sách của Mỹ cũng không thay đổi.

HOA KỲ THAM CHIẾN TẠI VN

Theo luật pháp hiện hành, thì Tổng Thống Mỹ là Tổng Tư Lệnh quân đội, cố vấn bởi Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, để ban hành các quyết định quân sự, được thi hành bởi Bộ Trưởng Quốc Phòng, xuống tới các Bộ Tham Mưu Liên Quân và các Bộ Tư Lệnh Hải Ngoại, trong số này có BTL Thái Bình Dương chỉ huy trực tiếp các BTL Không Quân, Lục Quân, Hạm Ðội 7 và Cơ Quan Viện trợ Quân Sự Mỹ tại VN (MACV).

Từ năm 1965 khi Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân ào ạt vào VNCH. Ðể đáp ứng nhu cầu chiến lược, Mỹ lập Lực Lượng Lục Quân Hoa Kỳ tại VN (US Army VN ố USARV), bao gồm tất cả các đơn vị bộ binh Mỹ đang tham chiến ở đây, trực thuộc cả hai BTL Lục quân và cơ quan MACV Thái Bình Dương. Theo hệ thống tổ chức trên, lực lượng tham chiến của Mỹ tại VN còn có Hải quân + Quân đoàn III Thủy bộ TQLC và Quân đoàn 7 Không quân.

Sự hiện diện của người Mỹ tại VNCH sau Hiệp định Geneve 1954, đầu tiên là Phái bộ Cố vấn Viện trợ Quân sự Ðông Dương (MAAG ố Indochina) rồi đổi thành Phái Bộ CVVTQS ốVN (MAAG ố VN) với nhiệm vụ cố vấn và huấn luyện QLVNCH và chấm dứt ngày 8-2-1962 bằng Cơ quan MACV, duới quyền chỉ huy của các tướng lãnh :

- Trung tướng S.William, Tư lệnh MAAG từ 11/1955 ố 9/1960.
- Trung tướng LMcGarr , TL MAAG từ 9/1960 ố 2/1962.
- Ðại tướng P.Harkins , TL MACV từ 2/1962 ố 6/1964.
- Ðại tướng W.Westmoreland, TL MACV, từ 6/1964 ố 7/1968.
- Ðại tướng C Abram, TL MACV từ 7/1968 ố 6/1972.
- Ðại tướng F. Weyand, TL MACV từ 6/1972 ố 3/1973.
- Thiếu tướng J Murray , TL DAO, từ 3/1973 ố 8/1974
- Thiếu tướng H Smith, TL DAO, từ 8/1974 ố 4/1975.

Tại VN, Hoa Kỳ thành lập Quân Ðoàn 1 (1 Field Force US) ngày 15-3-1966, có BTL đóng tại Nha Trang, chỉ huy tất cả các đơn vị Hoa Kỳ tham chiến tại Vùng 2 Chiến thuật của VNCH tới ngày giải tán về nước 30-4-1971, gồm có SD4BB, Lử đoàn3/SD25BB, Lữ đoàn1/SD101 Dù, Lữ đoàn 173 Nhảy dù, Liên đoàn 41 và 52 Pháo Binh .

Cùng lúc Quân Ðoàn II (II Field Force US) cũng được thành lập, có BTL đóng tại Biên Hoà, chỉ huy các đơn vị Mỹ tham chiến tại Vùng 3 Chiến Thuật của Nam VN tới ngày giải tán 2-5-1971, gồm SD1BB, SD1Ky Binh Không Vận, SÐ9BB, SD25BB, SD101Dù, Lữ đoàn 173 Dù, Trung đoàn 11 Kỵ binh, Liên đoàn 23 và 54 Pháo binh.

Tại Vùng 1 Chiến thuật của VNCH, Hoa Kỳ thành lập Quân đoàn III Thủy Bộ TQLC (III Marinne Amphibious Force), có BTL đóng tại Ðà Nẳng, chỉ huy SD1 và 3 TQLC, 2 Trung đoàn đổ bộ, Không đoàn 1 TQLC cùng Quân đoàn XXIV.

Về quân số tham chiến của Hoa Kỳ, khởi đầu 760 (1959), 900 (1960), 3205 (1961), 11.300 (1962), 16300(1963), 23300 (1964), 184.300 (1965), 383.300 (1966), 485.600 (1967), 536.100 (1968), 475.200 (1969), 334.600 (1970). 156.800 (1971), 24.200 (1972) và 50 (1973). Như vậy từ sau Hiệp Ðịnh Ba Lê ra đời, QLVNCH một mình ngăn chận và chống trả với toàn Khối Xã Hội Chủ Nghĩa, cho tới ngày Miền Nam mất theo lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, vào trưa ngày 30-4-1975.

HOA KỲ CÓ BỊ SA LẦY TẠI CHIẾN TRƯỜNG VN (1955-1975) ?

Sau khi rời khỏi chính trường năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng VNCH cho khối cộng sản đệ tam quốc tế, đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như : Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) và Bí Lục Kissinger.. hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng, Chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị, Bình Long, Kon Tum và Bình Ðịnh của VNCH.

Cũng nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình, đã bán đứng đồng minh bạn bè cho kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu, tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược, kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô. Theo Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí mật của Kissinger tai Bắc Kinh , khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo, để tặng Trung Cộng. Sau đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Ngoại trưởng Hoàng Hoa nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô, để chuyển về Tàu. Tuy vậy để che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình chống nhau tại bàn hội nghị.

Tóm lại, giống như trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lân, để gặp cả Mao-Chu và Trung Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo-quân sự, dọc theo biên giới Nga-Hoa, để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô. Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cữ giữ chức trưởng trạm tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ. Tháng 4-1975, theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G.Ford đã viện trợ cho Trung Cộng rất nhiều quân trang dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ khả tín của người Mỹ, trong lúc cùng hợp tác đồng mình, để từ đó chúng ta mới nhận diện rõ ràng về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN, mà các sử gia trong và ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.

Người Việt tị nạn CS đã sống ở Hoa Kỳ hơn ba mươi lăm năm qua, nên đâu còn lạ gì bản chất ngoại giao môi miếng của họ, hoàn toàn khác biệt với hành động thực tế. Tại A Phú Hãn và Iraq, nguời Mỹ lấy ‘ nhân quyền ‘ cùng cớ ‘ Saddam Hussein có Weapons of Mass Destruction và tiêu diệt khủng bố ‘ làm bình phong để che đậy hành động quân sự và dành thị trường cho tư bản Mỹ-Anh tiêu thụ hàng hóa, cùng dịch vụ khai thác dầu khí trên lãnh thổ của hai quốc gia Hồi Giáo này.

Ðọc lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, thì quyêản lợi của tư bản Mỹ vẫn là ưu tiên số một .Tóm lại, dù Mỹ vơi tổng thống hèn kém như Carter hoặc cứng rắn cở Reagan, thì mục tiêu hành động của chính phủ, cũng vẫn là làm sao cho dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước. Còn tất cả chỉ là phương tiện , để đảng nọ đảng kia mới còn cơ hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nửa, mới cảm thấy bớt uất nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 người của các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí. Rồi đang lúc VNCH sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.. thì Tổng Thống Mỹ là Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, tháo chạy khỏi VN, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cọng sản đệ tam quốc tế cưởng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975.

Ngày nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật ‘ Quyền tự do tư liệu và thông tin’, nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên hệ tới cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ, từ Truman cho tới Carter.. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mệnh của VN , phần lớn là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong quân ngủ hay trốn quân dịch, như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này. Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép xữ dụng hết khả năng chiến đấu, nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến trường nào, rất được thế giới nể sợ.

Còn một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trạng dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhản đổi hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho bộ đội Cộng Sản có phương tiện dồi dào , bắn giết chẳng những QLVNCH mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường. Nói chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa banh trướng sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi.

Riêng về câu hỏi, tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm , lại để cho 55.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương ? cuối cùng tháo chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích ‘ cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẽo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng.

Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ.. ’ ’ Ðây cũng là kết quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng Thống J.Kennedy, từ năm 1961 ‘ Nếu Hoa Kỳ tới VN với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm lăng của cọng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng ‘.Nhưng tiếc thay đất Bắc , nơi phái sinh ra cuộc chiến VN, lại là vùng đất bão đãm an toàn nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho Cộng Sản Bắc Việt..

Ðã vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt, tại lãnh thổ Lào và Kampuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích trử lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ VNCH.. Chính cựự Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu nảo của quân Bắc Việt tai Hà Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẩn nộ, vì nhận được lệnh đánh nhau với VC phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi các luật lệ không biết đâu mà mò.

Tóm lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cọng sản dùng chiêu bài ‘ chiến tranh giải phóng ‘, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờ ơ không ngó tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN. Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự kiện cọng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá chính phủ dữ dội, còn hơn VC thứ thiệt ở VN.cũng chưa thấy hoạt động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ. Ðây là một nghịch lý nổi bật và mai mĩa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN.

Ðó là sự kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), hay sĩ quan John Kerry đã công khai đứng hẳn về phía Hà Nội, cổ vỏ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, phủ nhận huy chương, lên đài phát thanh truyền hình chửi bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô Hồ tặc.

Khi than rằng ‘ Chúng ta đã đánh bại chính ta ‘, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch, nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng VC bằng chính trị, một chiến lược giá rẽ, mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặc này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cọng sản quốc tế.

Năm 1967 Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghỉ tới nước Mỹ sẽ leo thang chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài. Về lý thuyết, Nixon cũng giống như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không muốn VNCH phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng. Nhưng cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ miền Bắc xâm nhập vào Nam và sự khuynh đảo chính trị tại VNCH. Khi Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissinger, đang đi đêm để nhun nhén sự nới kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vì sợ phản lại lời hứa ‘ rút quân ‘ khi ứng cử, lại vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ VC cưởng chiếm miền Nam. Ðó là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam VN, cho VNCH tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ‘.

Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao cấp của Chính Phủ VNCH như Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Phú Ðức, Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã.. ta mới biết được gánh nặng của các nhà lãnh đạo VNCH suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương.. tất cả đều bị Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực, khống chế, ép bắt hăm dọa VNCH phải thi hành theo đường hướng của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973, ngày nay bị đánh giá như tờ giấy lộn không hơn không kém, đối với sự giải quyết hòa bình tại VN lúc đó.

Ngoài ra những bức thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT .Nguyễn Văn Thiệu, với sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là ‘ thực chất của sự mưu tìm hòa bình trong danh dự ‘ và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật ‘ Nixon-Kissinger’, trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.

Không được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ sát Tổng Thống hợp pháp của VNCH là Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam thiếu lãnh đạo

TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam, tiếp tục xâm lăng thôn tính Miền Nam, như Kissinger đã hứa với Mao-Chu tại Bắc Kinh năm 1972, mà mới đây trong hồi ký có nhắc tới.

Nói là ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ‘ nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang dụng như lời hứa, khiến cho QLVNCH lâm vào tình trạng kiệt quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ vì không có phương tiện để phòng thủ. Rồi trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưởng chiếm VNCH, thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng, qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của QLVNCH lúc đó . Cuối cùng từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho QLVNCH là không chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ., khi kẽ thù đang hấp hối chờ đầu hàng vào cuối năm 1972, qua những trận mưa bom tàn khốc trên đất Bắc.

Thực chất của người Mỹ khi tham chiến tại VN là thế đó !

Viết từ Xóm Cồn Ha Uy Di

MƯỜNG GIANG

6 thg 12, 2010

Súng trường thông minh


Một khẩu súng mới của quân đội Hoa Kỳ hy vọng sẽ giúp đánh trả Taliban đã được công bố.
Quân đội Mỹ gọi khẩu XM-25 là một khí cụ làm ''thay đổi cuộc chơi''.

Súng này sử dụng một hệ thống hướng dẫn laser và bắn đạn đặc chế 25mm có sức công phá cao mà có thể được lập trình để phát nổ ngay trên đầu mục tiêu.

Richard Audette đã giúp phát triển nó cho quân đội Mỹ và nói rằng đây là một bước tiến lớn bởi vì lần đầu tiên vũ khí vũ khí nhỏ sử dụng công nghệ thông minh.

"Cơ bản là tìm mục tiêu của bạn, sau đó chiếu tia laze vào để đo khoảng cách, rồi điều chỉnh súng trước khi bóp cò.''

"Giả sử khoảng cách laze đo được là 543 mét ... Khi bắn đạn sẽ đi đến 543 mét cộng thêm 1 hoặc 2 mét sau khi lase tính thêm bề dày của tường và đạn sẽ nổ trên đầu mục tiêu," ông Audette nói.

Với súng XM25 quân đồng minh có thể nhắm vào mục tiêu quân nổi dậy núp đằng sau bức tường hoặc trong các mương mà không cần phải gọi máy bay yểm trợ.

Loại súng cá nhân thông minh này đã được cấp cho binh lính trong quân đội Hoa Kỳ phục vụ tại Afghanistan và có thể lực lượng đặc biệt Anh cũng được sử dụng.

Bộ quốc phòng Anh không bình luận về khẩu súng mới nhưng nói trong một thông cáo là bộ cam kết cung cấp binh lính ngoài mặt trận ở Afghanistan với các thiết bị tốt nhất có thể.

Thông cáo cũng nói bộ luôn luôn quan tâm đến việc đánh giá các công nghệ mới xuất hiện.


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/12/101206_usnewintelligentgun.shtml

9 thg 11, 2010

Kissinger đã đấm ngực thú tội

Lê Thành Nhân

Kissinger đã đấm ngực thú tội: Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.
Trong vòng chỉ 3 tháng nay một loạt biến động lớn lao về chánh-trị, ngoại-giao và quân-sự đã dồn dập diễn ra trong khu vực Á châu và Thái Bình Dương.

- Ngày 23-7-2010 Nữ Ngoại-trưởng Hilary Clinton nhân danh đại cường quốc Hoa Kỳ long trọng khẳng định tại Hội-nghị ASEAN ở Hà Nội: ”Hoa Kỳ xem Đông Nam A là khu vục thuộc lợí ích quốc gia của Hoa Kỳ về các phương diện anh ninh, kinh-tế, thương mại.” - Ngày 24-9-2010, Tổng thống Obama đích thân triệu tập và chủ tọa Hội-nghị thượng-đỉnh tại New York (Second ASEAN Leaders Meeting) với các người đứng đầu các nước ASEAN để chủ động kết hợp các nước ấy trong một thế chiến lược mới. Một bản Tuyên bố chung (Joint Statement) quan trọng đã được công bố, và Tổng thống đã bỗ nhiệm ngay một Đặc sứ thường trực bên cạ nh ASEAN tại Trụ sở của ASEAN tại Jakarta .

- Chỉ 5 ngày sau: ngày 29-9-2010: Bộ Ngoại-giao Hoa Kỳ tổ chức một cuộc hội-thảo ngay tại Bộ Ngoại giao tại DC dưới sự điều hợp của Đại-sứ Brynn với đề tài “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Đông Nam Á” (The American Experience in Southeast Asia : Historical Conference) trong đó diễn giả chính là Henry Kissinger. - Trong khi chúng tôi đang viết bài nầy thì các đại diện ngoại giao, quân-sự cao cấp của các nước thuộc ASEAN và Hoa Kỳ, Nhựt, Úc, Ấn-độ, v.v...đã bắt đầu Hội nghị các Tổng-trưởng Quốc-phòng (ADMM plus) tại Hà Nội từ ngày 12-10-2010 rồi tiếp tục với những phiên họp riêng giữa các thành viên ASEAN và các cường quốc trong vùng: Hoa Kỳ, Nhựt bản, Ấn độ, Úc, v.v...Phiên họp ngày 28-10-2010 là một phiên họp cao cấp quan trọng với sự tham dự của NT Clinton.

Giữa lúc đó thì chiến hạm Hoa Kỳ tiến sát và tập trận dọc thềm lục địa Á Châu từ Biển Nhựt Bản xuống Ấn-độ dương…có lúc vào tận cảng Tiên Sa (Đà Nẳng) của Việt Nam .

Tất cả những diễn biến đó không phải là những điều ngẫu nhiên.

Trong bài nầy chúng tôi chỉ chú trọng đến cuộc hội-thảo tại Bộ Ngoại-giao ngày 29-9-2010 để tìm hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của các lời phát biểu của Henry Kissinger tại cuộc hội-thảo này (Đọc giả có thể tham khảo bài tường trình ngày 6-10-10 của Người Việt Online)

Các ý-kiến của Kissinger phát biểu trong cuộc hội-thảo nói trên được tóm gọn như sau: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”

Nhân dân Việt Nam và thế giới công chính đã chờ đợi câu nói đó từ 35 năm rồi, nay mới được thốt ra từ chính cửa miệng của Henry Kissinger, vào một thời điểm và tại một địa điểm có tính toán. Bởi vậy, nó có một giá trị vô cùng quan trọng. Nó trả lại danh dự cho hàng triệu chiến sĩ tự do của VNCH, từ nguời dân đen đến cấp lãnh-đạo cao nhứt. Nó giải oan cho hàng triệu linh hồn người Việt đã hi sinh cho Tự do. Nó trả lại DANH DỰ VÀ CHÍNH NGHĨA cho toàn thể Quân Dân VNCH từng bị bọn phản chiến và truyền thông bất lương bôi lọ.

Xin nhắc lại: Henry Kissinger là người chịu trách nhiệm về chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ từng đưa đến việc bán đứng VNCH cho Bắc Việt qua Hiệp-định Paris 1972, sự rút lui của Hoa Kỳ khỏi Đông dương 1975, và giao cho Trung Cộng làm “cai thầu khu vực” với bản Tuyên ngôn Thượng Hải (1972.)

Nixon và Kissinger bị mù mắt vì cái thị-trường khổng lồ béo bỡ của Hoa Lục, không ngần ngại phản bội lại đồng minh của mình. Cảnh tượng xót xa, bẽ bàng nhứt là Đệ 7 Hạm đội Hoa Kỳ nhẫn tâm án binh bất động, đứng nhìn hải quân TC cưỡng chiếm Hoàng Sa của đồng minh VNCH hồi tháng Giêng 1974. Ngày nay, khi Trung cộng trở mặt, sử dụng Hoàng Sa làm pháo đài khống chế Đông Nam Á và Thái Bình dương thì nước Mỹ mới mở mắt và nhận thấy hối hận về sự phản bội đồng minh VNCH của mình 35 năm trước.

Thực vậy, dân tộc Việt Nam là nạn nhân gánh chịu hậu quả thảm khóc nhứt của chánh sách Nixon-Kissinger với “Ngày 30 tháng 4 năm 1975.” Chính chánh-sách đó đã đưa gần 30 triệu nhân dân Miền Nam tự do vào cảnh điêu linh, thống khổ, nhà tan cửa nát, con mất cha, vợ mất chồng, kẻ thì bỏ xác trong ngục tù CS, người thì làm mồi cho hải tặc hoặc vùi thây dưới đáy biển. Không bút mực nào tả hết những tội ác của cộng đảng VN đối với gần 30 triệu dân Miền Nam từ 1975 đến nay.

Lời tuyên bố của Kissinger hôm nay, tuy rất ngắn, nhưng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chớ không phải do VNCH.”

Bằng những lời phát biểu ngày 29-9-2010 tại ngay thủ đô nước Mỹ, lãnh đạo nước Mỹ hiện nay dường như muốn nhờ Kissinger thay mặt nước Mỹ (Bộ Ngoại giao tổ chức) nói lên lời tạ tội và sám hối của nước Mỹ đối với gần một triệu sinh linh của chế-độ VNCH đã chết oan uổng, trong đó hơn nửa triệu đồng bào vượt biên chìm dưới đáy biển, hàng trăm ngàn Dân Quân-Cán-Chính VNCH chết trong các trại tập trung lao-động khổ sai, cộng với hàng trăm ngàn vợ con họ chết trong các “vùng kinh-tế mới” vì đói rét, bệnh tật và rắn rết.

Tại hội-nghị các Bộ-trưởng Quốc-phòng ASEAN (ADMM Plus) họp sau đó tại Hà Nội ngày 12-10-2010, Bộ-trưởng Quốc-phòng Hoa Kỳ Robert Gates đại ý tuyên bố ngay trước mủi của tên BTQP Trung cộng: ”Hoa Kỳ sẽ nhận trách nhiệm bảo đảm an ninh và tự do cho tất cả các quốc-gia ĐNA, nhứt là hải lộ xuyên Biển Đông, vì khu vực nầy thuộc quyền lợi quốc-gia của Hoa Kỳ về các phương diện an ninh, kinh-tế và thương mại.” Trong khi đó thì tàu chiến Hoa Kỳ trang bị vũ khí nguyên-tử đang tập trận với hải quân Nam Hàn ngoài khơi vùng biển của Trung cộng.

Gần hai tỷ dân trong khu-vực Á châu –Thái-Bình-dương thở phào, nhẹ nhỏm! Vì, từ nay, cái “lưỡi bò” hung hăng của tên bá quyền Hán tộc bổng teo lại thành……cái lưỡi gà bé tí tẹo! Không ai còn nghe các tướng lãnh TC khoác lác vung vít về sức mạnh quân sự của CHNDTQ và tham vọng độc chiếm Biển Đông của chúng. Không ai còn nghe cái loa khoác lác của Bộ Ngoại giao TC hàng ngày bô bô lên tiếng đe dọa các quốc gia tiếp giáp với “cái lưỡi bò đói khát”, nhứt là Việt Nam, Nam Dương, Phi-luật-tân, Brunei. Ngay sau khi Bộ-truởng QP Hoa Kỳ tuyên bố như trên, phát ngôn nhân của con cọp giấy Trung cộng bèn rêu rếu thông báo trả tự do vô điều kiện cho 9 ngư dân của đảo Lý sơn/Quảng Ngải bị chúng bắt giữ gần đảo Hoàng Sa cả tháng trước đó.

Các sự kiện trên đây chứng minh là vì cả tin nơi những tính toán sai lầm của tên con buôn chính-trị Kissinger, nước Mỹ phải để gần 40 năm (1972-2010) mới học được cái chân-lý đơn giản: Người CS marxist dù Nga hay Tàu hay Việt, chúng đều phản phúc như nhau. Nhờ sự giúp đỡ trong 40 năm qua của Hoa Kỳ nước Tàu mới thoát khỏi tình-trạng đói khát, lạc hậu và bắt đàu hơi khấm khá. Nhưng chưa chi thì chúng đã quay lại định ăn tươi, nuốt sống người thi ân cho mình. Đó là bản chất của người Cộng-sản Marxist. Hai dân tộc Đức và Nhật cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ tái thiết sau chiến tranh, nhưng họ không mang tính phản phúc đó.

Vấn đề mà chúng ta muốn bàn hôm nay là: vì cần mua bán, đổi chác với Trung cộng để trục lợi, bọn chánh khách vô liêm sĩ ở Hoa Thạnh Đốn, đã ra sức gán cho VNCH đủ thứ tội: nào là quân đội không chịu chiến đấu, nào là công chức tham nhũng, v.v…Bọn chánh khách bất lương Âu châu thì kết tội VNCH là tay sai Mỹ chỉ vì ganh ghét với Hoa Kỳ. Nếu quân dân VNCH không chịu chiến đấu thì làm sao giữ người Việt Quốc-gia càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Bây giờ thì không một ai còn nghi ngờ nữa: VNCH còn là còn tất cả! VNCH mất là mất tất cả! Chúng ta đòi hỏi lịch sử và nhân dân thế giới phải trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Dân VNCH, từ người thứ dân cho đến các cấp lãnh đạo Quốc-gia. Trong nội bộ người Việt, yêu cầu những kẻ vô ý thức hay bị CS tuyên truyền tẩy não trong 35 năm qua hãy chấm dứt những luận điệu tự phỉ nhổ mình bắng cách gọi các vị lãnh đạo Quốc-gia, các tướng lãnh của VNCH bằng thằng nọ, thằng kia. Cái cuộc “đổi đời” năm 1975 đã biến “THẰNG thành ÔNG” và đem “ÔNG xuống làm THẰNG” nay đã chấm dứt rồi, vì đó là cái thang giá trị Marxist trong đó “trí thức không bằng cục phân” (lời Mao Trạch Đông.) Thang giá trị (échelle des valeurs) của một xã hội Việt Nam văn minh đạo đức truyền thống phải được tái lập để làm nền tảng cho một nước Việt Nam hậu Cộng-sản. Chúng tôi sẽ bàn đến “hệ thống giá trị chân chính” của người Việt trong một bài khác.

Hải ngoại, ngày 28-10-2010 Lê Thành Nhân

- Ngày 23-7-2010 Nữ Ngoại-trưởng Hilary Clinton nhân danh đại cường quốc Hoa Kỳ long trọng khẳng định tại Hội-nghị ASEAN ở Hà Nội: ”Hoa Kỳ xem Đông Nam A là khu vục thuộc lợí ích quốc gia của Hoa Kỳ về các phương diện anh ninh, kinh-tế, thương mại.”

- Ngày 24-9-2010, Tổng thống Obama đích thân triệu tập và chủ tọa Hội-nghị thượng-đỉnh tại New York (Second ASEAN Leaders Meeting) với các người đứng đầu các nước ASEAN để chủ động kết hợp các nước ấy trong một th�=E1��ng được Miền Nam đến 1975, khi mà Mỹ và Trung cộng ngã giá xong vụ buôn bán bẩn thỉu trên đầu nhân dân Việt Nam?

Ngoài ra, sau tháng 4, 1975, nhiều tướng lãnh liêm sĩ Hoa Kỳ đã viết lại hồi ký công nhận tinh thần dũng cảm và khã năng chiến đấu xuất sắc của QL/VNCH. Chúng ta không cần lặp lại ở đây. Còn nếu nói: vì tham nhũng mà chánh quyền VNCH sụp đỗ thì cứ hỏi chả lẽ nhà nước CHXHCN hiện nay ở VN ít tham nhũng hơn VNCH ngày trước? Thế tại sao nó còn nguyên đó hơn 35 năm nay? Cũng trong cùng thời gian với VNCH ai cũng biết ở các lân bang như Thái Lan, Phi Luât Tân, Nam Dương tình trạng tham nhũng trầm trọng hơn cả chục lần, nhưng có nước nào sụp đổ đâu!

Tóm lại, các chánh khách thiển cận, mù quáng của nước Mỹ lúc bấy giờ đã “hi sinh” quyền lợi của đồng minh VNCH với ảo tưởng đổi lấy một thị-trường béo bỡ của nước Tàu. Nhưng sự thật phủ phàng hôm nay là chính cái nước Tàu mà nước Mỹ vỗ béo đó đã đang quay lại ăn thịt nước Mỹ để giành ngôi vị đệ nhứt cường quốc trên thế giới. Và nước Mỹ ngày nay đã tỉnh ngộ, đang trở lại làm y chang cái công việc mà Quân Dân VNCH đã làm trước 1975, tức là chiến đấu chống đế quốc CS Trung quốc. Thế thì VNCH đã bị bức tử một cách oan uổng. Nhờ giương cao ngọn cờ chống lại bá quyền Trung cộng, bảo đảm an-ninh và tự do cho khu vực nên hiện nay Hoa Kỳ đang được nghênh đón trở lại Việt Nam như là môt “hiệp-sĩ.” Như vậy bọn CSVN không còn coi Hoa Kỳ là “đế-quốc xâm lược” nữa. Trái lại chúng coi Hoa Kỳ là vị cứu-tinh, và trả lại danh dự cho nước Mỹ.

Thế còn công lao hi sinh chiến đấu của Quân Dân Miền Nam để ngăn chận làn sóng đỏ của Nga, Tàu trong hơn 50 năm thì sao?

Vì thế, Quân Dân VNCH đòi hỏi nước Mỹ và thế giới phải trả lại danh dự cho họ vì họ đã hi sinh chiến đấu cho Tự do và An ninh của cả thế giới mà đã bị đối xử bất công bằng sự phản bội và bức tử oan uổng năm 1975.

Trên thực tế thì nhân dân Việt Nam trong nước đã làm việc nầy từ khi bọn “cách mạng” đặt chân vào Miền Nam vì, đối với mọi người dân trong nước thì cái gì của “ngụy” cũng tốt hơn “cách mạng”: bác sĩ “ngụy” cũng giỏi hơn, nhạc “ngụy” cũng hay hơn, nhân bản hơn, nếp sống “ngụy” cũng văn minh hơn, người dân “ngụy” cũng ấm no, hạnh-phúc hơn, v v...

Cuối cùng, sau khi chiếc mặt nạ của đảng CSVN kể công đánh ngoại xâm Pháp, Mỹ để giành độc lập bị rơi xuống đất, để lộ cái mặt thật của những kẻ bán nước đem tổ quốc dâng cho Tàu thì cái chính nghĩa bảo quốc của Quân Dân VHCN, của Người Việt Quốc-gia càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Bây giờ thì không một ai còn nghi ngờ nữa:

VNCH còn là còn tất cả!
VNCH mất là mất tất cả!

Chúng ta đòi hỏi lịch sử và nhân dân thế giới phải trả lại sự công bằng và danh dự cho Quân Dân VNCH, từ người thứ dân cho đến các cấp lãnh đạo Quốc-gia. Trong nội bộ người Việt, yêu cầu những kẻ vô ý thức hay bị CS tuyên truyền tẩy não trong 35 năm qua hãy chấm dứt những luận điệu tự phỉ nhổ mình bắng cách gọi các vị lãnh đạo Quốc-gia, các tướng lãnh của VNCH bằng thằng nọ, thằng kia. Cái cuộc “đổi đời” năm 1975 đã biến “THẰNG thành ÔNG” và đem “ÔNG xuống làm THẰNG” nay đã chấm dứt rồi, vì đó là cái thang giá trị Marxist trong đó “trí thức không bằng cục phân” (lời Mao Trạch Đông.) Thang giá trị (échelle des valeurs) của một xã hội Việt Nam văn minh đạo đức truyền thống phải được tái lập để làm nền tảng cho một nước Việt Nam hậu Cộng-sản.

Chúng tôi sẽ bàn đến “hệ thống giá trị chân chính” của người Việt trong một bài khác.

Hải ngoại, ngày 28-10-2010
Lê Thành Nhân

12 thg 10, 2010

Bang giao Mỹ-Việt: Ðã đạt được gì, sẽ đi về đâu ?

Đây bài nói chuyện nhan đề “Bang giao Mỹ-Việt: Chúng ta đã đạt tới đâu và sẽ đi về đâu trong những ngày tới” của Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng, Ðại Học George Mason University, tại cuộc họp mặt Mỹ-Việt đánh dấu 15 năm bình thường hóa bang giao hai nước được tổ chức tại Visitor Center ở Ðiện Capitol, Washington, D.C., ngày 14 tháng 9 năm 2010.



Thưa quý vị quan khách,

Trước hết, tôi muốn ngỏ lời cảm ơn các nhà tổ chức, đặc biệt là Murray Hiebert thuộc Phòng Thương Mại Hoa Kỳ và Thượng Nghị Sĩ James Webb đã mời và khuyến khích tôi tham dự hội nghị này nhằm kỷ niệm 15 năm bang giao Mỹ-Việt. Thật là một niềm vui và một ưu đãi khi được đóng góp những suy nghĩ của tôi đúng vào giai đoạn quyết định trong mối bang giao Mỹ-Việt.Bài nói chuyện của tôi nhằm đề cập tới hai vấn đề. Thứ nhất, các đặc điểm chính của mối bang giao hệ Mỹ-Việt từ sau khi Chiến Tranh Việt Nam kết thúc là gì? Thứ nhì, Các yếu tố và động lực nào có thể ảnh hưởng tới tương lai của mối bang giao Mỹ-Việt?

Mô hình mối bang giao Mỹ-Việt

Mối bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong 35 năm qua có 3 đặc tính chính yếu:

1. Diễn biến chậm nhưng vững vàng theo chiều hướng tích cực, từ lạnh lẽo sang nồng ấm, từ thù nghịch sang thân thiện, từ kẻ thù sang đối tác.

2. Các quan hệ song phương tiến triển theo từng giai đoạn. Lúc đầu là việc bình thường hóa bang giao diễn ra hồi năm 1995. Sau đó là bình thường hóa quan hệ mậu dịch hồi năm 2006 khi Quốc Hội Hoa Kỳ cho Việt Nam hưởng quy chế mậu dịch bình thường vĩnh viễn (PNTR). Việc cải thiện mối quan hệ quân sự diễn ra sau chót, khởi đầu bằng chuyến viếng thăm đầu tiên đến Hoa Kỳ hồi tháng 11 năm 2003 của giới chức quân sự cao cấp nhất Việt Nam, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phạm Văn Trà. Mối quan hệ này lên đến đỉnh cao khi diễn ra Cuộc Ðối Thoại Về Chính Sách Quốc Phòng Mỹ-Việt lần đầu tiên diễn ra tại Hà Nội hồi tháng 8 năm 2010.

3. Những cải thiện hoặc khúc quanh trong quan hệ song phương phần lớn diễn ra sau khi Việt Nam tiến hành các bước nhằm bỏ đi lòng miễn cưỡng không muốn đưa quan hệ hai nước tiến tới. Các cuộc thảo luận nghiêm chỉnh về việc bình thường hóa bang giao giữa hai nước chỉ bắt đầu khi Việt Nam quyết định rút quân ra khỏi Căm Bốt vào năm 1989 và thực hiện các bước nhằm thỏa mãn các điều kiện tiên quyết do Hoa Kỳ đưa ra (rút quân, thỏa hiệp hòa bình, bầu cử và thành lập chính phủ liên hiệp tại Căm Bốt). Việc bình thường hóa quan hệ buôn bán chỉ có thể diễn ra sau khi các nhà lãnh đạo Việt Nam chịu quyết định ký một thỏa hiệp mậu dịch song phương với Hoa Kỳ vào năm 2000 sau khi họ không làm được chuyện này vào năm trước đó. Quyết định này đã mở cửa cho Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO) cùng với quy chế mậu dịch bình thường vĩnh viễn (PNTR).

Tương tự như thế, trên lãnh vực quân sự, việc Việt Nam miễn cưỡng không chịu tiến thêm đã được biểu hiện qua quyết định của Việt Nam trì hoãn nhiều lần chuyến viếng thăm Hà Nội của Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ William Cohen mãi cho tới tháng 3 năm 2000. Người ta đã phải chờ đợi thêm ba năm nữa Việt Nam mới quyết định gởi nhà lãnh đạo quân sự cao cấp nhất của họ đến Hoa Kỳ hồi năm 2003.

Các diễn tiến chính

Một khi những cản trở trong lãnh vực quan hệ an ninh mang tính nhạy cảm đã được vượt qua, các tiến bộ diễn ra nhanh chóng. Có một số phát triển then chốt đánh dấu những tiến bộ thực hiện được trong quan hệ song phương kể từ năm 2003.

1. Diễn tiến đầu tiên là cuộc thăm viếng của Bộ Trưởng Quốc Phòng Phạm Văn Trà, nhà lãnh đạo quân sự cao cấp nhất của Việt Nam đến thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên kể từ sau khi Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt. Trong chuyến viếng thăm, ông Trà nói rõ rằng Việt Nam muốn thiết lập “chiếc khung sườn cho công cuộc đối tác lâu dài và ổn định” với Hoa Kỳ.

2. Khúc quanh thứ nhì đến với chuyến thăm viếng thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ Tướng Phan Văn Khải vào tháng 6 năm 2005 để đánh dấu kỷ niệm năm thứ 10 việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt. Ông Khải là lãnh tụ đầu tiên thuộc hàng cao cấp nhất đến thăm viếng Hoa Kỳ và đã được tổng thống Mỹ đón tiếp tại Tòa Bạch Ốc. Ông Khải cam kết cải thiện tự do tín ngưỡng tại Việt Nam và đồng ý gởi các sĩ quan quân đội Việt Nam sang Hoa Kỳ để học sinh ngữ và dịch vụ y tế. Ðáp lại, Tổng Thống Bush cam kết ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới và hứa sẽ đến viếng thăm Việt Nam nhân cuộc Hội Nghị Thượng Ðỉnh APEC vào năm 2006. Chuyến viếng thăm của ông Khải đã được tiếp theo bằng một loạt các cuộc thăm viếng Việt Nam của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ, các giới chức mậu dịch và các nhà lãnh đạo quân sự. Khi Ông Donald Rumsfeld viếng thăm Hà Nội vào năm 2006, ông đã cùng với quan chức tương nhiệm của ông đồng ý “gia tăng các cuộc trao đổi quân sự trên mọi cấp bậc.”

3. Chuyến thăm viếng của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2008 đánh dấu khúc quanh thứ ba. Trong một bản tuyên bố chung, hai nhà lãnh đạo tái xác nhận cam kết của họ đối với việc “đẩy mạnh và bảo vệ nhân quyền và tự do,” đồng thời ủng hộ việc tạo dựng “các cuộc thảo luận mới về hoạch định quân sự và chính sách dẫn tới các cuộc thảo luận thường xuyên và sâu xa hơn về các vấn đề an ninh và chiến lược.” Tổng Thống Bush nhắc lại “sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho chủ quyền, an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.” Bốn tháng sau đó, vào tháng 10 năm 2008, cuộc đối thoại chính trị và quân sự đầu tiên đã diễn ra tại Hà Nội.

4. Chuyến thăm viếng của Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh tại Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2009 đánh dấu khúc quanh thứ tư. Nếu chuyến thăm viếng đầu tiên của Tướng Trà mở đường cho các quan hệ quân sự thì chuyến thăm viếng của Tướng Phùng Quang Thanh nhằm củng cố các quan hệ giữa hai quân đội. Trong chuyến thăm viếng này, hai bên bàn về khả năng Hoa Kỳ bán vũ khí cho Việt Nam và việc Hoa Kỳ tham dự Hội Nghị Các Bộ Trưởng Quốc Phòng Khối ASEAN (ADMM) do Việt Nam chủ trì vào năm 2010.

5. Khúc quanh thứ năm được đánh dấu bằng một số diễn biến: Cuộc đối thoại Shangri-La tại Singapore, là nơi vào ngày 5 tháng 6, 21010 Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates tuyên bố rằng Biển Nam Trung Hoa là một “vùng gây ra mối quan ngại gia tăng” và cảnh cáo về “bất cứ nỗ lực nào nhằm dọa nạt Hoa Kỳ hoặc các quốc gia đang có hoạt động kinh tế hợp pháp”; cuộc đối thoại chính trị-an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam tại Hà Nội vào ngày 8 tháng 6, 2010, là nơi lần đầu tiên tình hình tại Biển Nam Trung Hoa được đưa vào nghị trình; Ngoại Trưởng Hillary Clinton khẳng định tại Diễn Ðàn Khu Vực ASEAN ở Hà Nội ngày 23 tháng 7, 2010 rằng “'quyền lợi quốc gia' của Hoa Kỳ nằm trong việc tự do đi lại trên biển, quyền sử dụng các thủy lộ chung tại Á Châu, và sự tôn trọng luật lệ quốc tế tại Biển Nam Trung Hoa,” đồng thời bà cũng nói lên sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với “một tiến trình hợp tác ngoại giao giữa tất cả những phía đòi chủ quyền trong vùng để giải quyết nhiều cuộc tranh chấp lãnh thổ mà không có sự bắt ép;” và cuộc hội thảo cấp cao đầu tiên chính sách quốc phòng tại Hà Nội ngày 17 tháng 8 nơi các “dấu ấn” về việc canh tân hóa quân đội Trung Quốc được đôi bên chia sẻ. Loại diễn biến này đã đưa mối quan hệ Mỹ-Việt sang một giai đoạn mới thiết yếu.

Các yếu tố gây ảnh hưởng

Nhìn về phía trước, tương lai của mối quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam tùy thuộc vào một số yếu tố: yếu tố Trung Quốc, cái nhìn của Hoa Kỳ về tầm mức quan trọng chiến lược của Việt Nam, cái nhìn của Việt Nam về khả năng và ý định của Hoa Kỳ, yếu tố giá trị, và mối quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Yếu tố Trung Quốc

Vì các lý do chiến lược, Trung Quốc không muốn thấy sự liên kết chặt chẽ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ diễn ra sát biên thùy phía Nam của họ. Cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam thì lại không ai muốn gây thù chuốc oán với Trung Quốc một cách không cần thiết. Trong vai trò một siêu cường đang ngự trị thế giới, Hoa Kỳ có nhiều chọn lựa hơn là chỉ một mình Việt Nam. Nếu Hoa Kỳ có thể có được mối quan hệ tốt với Trung Quốc, thì chỉ khi nào cần Hoa Kỳ mới chọn Việt Nam. Là một quốc gia giáp giới một lân bang lớn với một mối quan hệ lịch sử phức tạp, nên khi tiến hành mối quan hệ với Hoa kỳ, Việt Nam phải thực hiện những chọn lựa khó khăn, một mặt là giữa nhu cầu cần có quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc, mặt khác là sự thiết yếu phải xác định quyền tối thượng của mình muốn theo đuổi quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác nhằm bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ.

Nếu nhu cầu cần phải chú ý tới sự nhạy cảm của Trung Quốc có thể tạo cản trở hoặc làm trì chậm tiến trình nhích lại gần nhau giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đặc biệt là trên lãnh vực quân sự hoặc an ninh, thì những đòi hỏi thái quá và hành vi lấn lướt của Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa trong vài ba năm trở lại đây đã dẫn tới sự trùng hợp về quyền lợi an ninh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Cả hai nước đều quan ngại về kế hoạch canh tân quân đội Trung Quốc đang làm gia tăng khả năng của nước này áp đặt ý định của họ trong các cuộc tranh cãi về Biển Nam Trung Hoa.

Các cuộc xung đột cả ngoài biển lẫn trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tiếp diễn trong nhiều năm, nhưng việc vẽ một đường lưỡi bò hình chữ U để Trung Quốc đòi tới 80% Biển Nam Trung Hoa đã vi phạm vào vùng đặc khu kinh tế và lòng biển của Việt Nam. Thêm vào đó, việc Trung Quốc đơn phương cấm các hoạt động đánh cá đã buộc Việt Nam phải đáp ứng. Chính phủ Việt Nam đã cố gắng quốc tế hóa vấn đề này, mua thêm vũ khí mới để cải thiện khả năng quốc phòng, và mở chiến dịch tăng cường quyết tâm của quân đội bảo vệ “từng tấc đất và lãnh hải.”

Ðối với Hoa Kỳ, những đòi hỏi của Trung Quốc là thái quá và không phù hợp với luật phap quốc tế. Hoa Kỳ “không thể chia sẻ và không thể hiểu lời giải thích về luật biển của Trung Quốc.” Hoa Kỳ chống lại mưu đồ của Trung Quốc dọa nạt các công ty Mỹ hoạt động trong khu vực đó. Nếu Trung Quốc áp đặt được những đòi hỏi của họ, Biển Nam Trung Hoa sẽ trở thành một cái hồ của Trung Quốc, cản trở quyền tự do đi lại trên biển, và đó là những đòi hỏi không thể chấp nhận được đối với những cường quốc hàng hải như Hoa Kỳ.

Như vậy, cách hành xử của Trung Quốc đã dẫn tới sự trùng hợp các quyền lợi chiến lược giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng như sự cải thiện mối quan hệ quân sự giữa hai quốc gia này. Những gì sắp diễn ra tùy thuộc vào sự đánh giá của quốc gia này về khả năng và ý định của quốc gia kia.

Việt Nam trong cái nhìn chiến lược của Hoa Kỳ

Sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam, và nhất là sau cuộc xâm lược Căm Bốt của Việt Nam, Hoa Kỳ coi Việt Nam là công cụ của chủ nghĩa bành trướng Xô Viết tại Ðông Nam Á. Hoa Kỳ đã góp sức với Trung Quốc và khối ASEAN để đối đầu với Việt Nam tại Căm Bốt. Tuy nhiên, khi Việt Nam cải cách nền kinh tế, thay đổi chính sách ngoại giao, và gia tăng nhịp độ hòa nhập với nhóm các nước ASEAN, và đặc biệt là kể từ khi có việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước thì quan điểm của Hoa Kỳ về Việt Nam đã thay đổi.

Trong tương quan tay ba giữa Hoa Kỳ, Việt Nam và Trung Quốc, Hoa Kỳ tỏ ra thoải mái nhiều hơn với Việt Nam. Trong khi Hoa Kỳ cần Trung Quốc cộng tác để đối phó với một số vấn đề quốc tế quan trọng, tỷ dụ như chận đứng chương trình nguyên tử của Bắc Hàn và Iran và chiến đấu chống tình trạng địa cầu ấm dần lên, vân vân... Hoa Kỳ vẫn coi Trung Quốc là đối thủ chính yếu. Trong khi Trung Quốc có thể trở thành mối đe dọa cho nền an ninh và vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới, Việt Nam không tạo nên loại đe dọa đó cho Hoa Kỳ. Vẫn theo cái nhìn của Hoa Kỳ, chẳng những giữa Hoa Kỳ và Việt Nam không có xung khắc nào về chiến lược mà Việt Nam lại còn là một lực lượng quan trọng đóng góp vào nền trật tự về an ninh đang gia tăng tại Á Châu và Thái Bình Dương. Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đặc trách Kinh Tế, Năng Lượng, và Văn Hóa nói đến việc tăng cường hợp tác với Việt Nam như là “cột trụ chính trong sự hiện diện của chúng ta tại vùng [Thái Bình Dương] và sự dính líu của chúng ta vào các cơ chế đa dạng tại Á Châu-Thái Bình Dương. Cái nhìn tích cực về Việt Nam này khuyến khích Hoa Kỳ thúc giục có các quan hệ gần gũi hơn giữa hai quốc gia. Cho tới nay, ước vọng của Hoa Kỳ tăng cường mối quan hệ với Việt Nam thay đổi trong chiều hướng đi ngược lại với hành vi lấn lướt của Trung Quốc và trong chiều hướng tích cực trước quyết tâm và khả năng của Việt Nam đóng một vai trò độc lập ở Á Châu.

Việt Nam nhận thức về ý định của Hoa Kỳ

Những sự thù nghịch trong quá khứ đã gây ra hai cuộc chiến tranh - Chiến Tranh Việt Nam và Chiến Tranh Căm Bốt - và nhận định của Việt Nam về nguyên do của sự sụp đổ chủ nghĩa cộng sản tại Âu Châu khiến các nhà lãnh đạo Việt Nam nghi ngờ rằng Hoa Kỳ muốn lật đổ các chế độ cộng sản còn lại, kể cả chế độ tại Việt Nam. Các nghị quyết của đảng, các cuộc phân tích của báo chí và các bản tuyên bố chính thức cứ liên tục nói tới “diễn biến hòa bình” cùng các âm mưu “lạm dụng tự do dân chủ” của “các lực lượng thù địch” muốn lật đổ chế độ [Hà Nội].

Chính phủ Việt Nam coi việc Hoa Kỳ đề cao nền dân chủ và làm áp lực về nhân quyền là phương tiện phá hoại chế độ cộng sản. Mối quan ngại này có thể được biện minh nhưng không nhất thiết phản ảnh quyền lợi chiến lược của Hoa Kỳ. Trong khi Hoa Kỳ vẫn muốn thấy Việt Nam trở nên tự do và dân chủ hơn, họ không có kế hoạch nào nhằm lật đổ chính phủ Việt Nam. Hoa Kỳ mong muốn có một nước Việt Nam vững mạnh, ổn định và độc lập. Một thay đổi bằng bạo lực chính quyền tại Việt Nam không phục vụ cho quyền lợi chiến lược của Mỹ, bởi vì nó sẽ tạo nên một khoảng trống rất dễ bị trám vào bằng những lực lượng thù nghịch với Hoa Kỳ.

Khi Việt Nam tiến tới gần hơn với Hoa Kỳ, họ cũng còn phải dè chừng về chuyện có thể trở thành một món đồ cầm thế có thể bị hy sinh trên bàn thờ chính trị của các cường quốc lớn, giống như trường hợp của Bắc Việt Nam hồi năm 1954 và Nam Việt Nam hồi năm 1973. Chừng nào vẫn còn có sự thiếu tin cậy và bất ổn về lòng cam kết của Hoa Kỳ, mối quan hệ Mỹ-Việt sẽ không thể đạt tới mức độ thoải mái như mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và nhiều nước bạn Á Châu khác của Việt Nam.

Yếu tố giá trị

Có thể có sự cộng tác hữu ích và ngay cả tình trạng đồng minh tạm thời giữa các quốc gia với các hệ thống chính trị khác biệt hay đối nghịch nhau, nhưng không thể nào có một mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài cùng mối đồng tâm mạnh mẽ giữa các nước đó với nhau. Bởi vì hệ thống giá trị của Hoa Kỳ và Việt Nam khác nhau, vấn đề nhân quyền đã ảnh hưởng tơi và sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới chiếu hướng của mối quan hệ Mỹ-Việt. Yếu tố này có thể đưa đẩy hai nước đến gần nhau hơn hoặc cũng có thể tạo xung đột giữa hai quốc gia.

Vấn đề nhân quyền chiếm một vị trí đang kể trong mối quan hệ Mỹ-Việt vì nhiều lý do. Trước hết, nó phản ảnh niềm tin then chốt của dân chúng Mỹ. Thứ nhì, tầm quan trọng kinh tế và chiến lược của Việt Nam đối với Hoa Kỳ chưa phải đã đạt tới mức có thể áp đảo các cứu xét về nhân quyền. Thứ ba, nhiều người Mỹ từng chiến đấu trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam mong muốn thấy có tiến bộ trong nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam đặng những hy sinh của họ cũng như của các đồng đội đã ngã xuống không phải là vô ích. Thượng Nghị Sĩ McCain, một cựu chiến binh Việt Nam và là một người ủng hộ mạnh mẽ mối quan hệ Mỹ-Việt, đã nói lên tiếng nói của các thành phần này khi, vào hồi tháng 7 vừa qua, ông nói rằng ông hy vọng một ngày kia Việt Nam sẽ cho phép hoạt động “bất đồng chính kiến ôn hòa” và có một “chế độ cái trị được quần chúng tán đồng” và rằng “công cuộc đối tác hiện tại của chúng ta vì quyền lợi chung sau cùng sẽ trở nên công cuộc đối tác vì các giá trị chung.” Thứ tư, nền dân chủ và sự tôn trọng nhân quyền là xu thế vượt trội trong thời đại của chúng ta; chính nhà cầm quyền Việt Nam đã cam kết xây dựng “một đất nước giàu mạnh và một xã hội công chính, dân chủ và văn minh.” Trên nguyên tắc, thật chẳng có khác biệt nào về khát vọng sau cùng của hai dân tộc mà chỉ là khác biệt về cách thức diễn dịch mà thôi. Sau hết, mối quan ngại về nhân quyền đã đi vào định chế trong nền chính trị Mỹ. Quốc Hội Hoa Kỳ đã thiết lập Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế. Bộ Ngoại Giao đã thành lập chức vụ Phụ Tá Ngoại Trưởng Ðặc Trách Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Ðộng. Các báo cáo thường niên về Nhân Quyền của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là một trách nhiệm vụ bắt buộc do Quốc Hội giao phó. Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam không có sự chọn lựa nào ngoài việc cung cấp phần báo cáo của mình trong bản báo cáo thường niên này và họ phải làm việc hết sức với phía Việt Nam để cho thấy có tiến bộ trong vấn đề này.

Sự cải thiện hơn nữa trong mối quan hệ Mỹ-Việt tùy thuộc vào cách thức vấn đề nhân quyền được hành xử tại cả hai bên và, quan trọng hơn, vào sáng kiến riêng của Việt Nam về cải cách chính trị.

Mối quan hệ giữa Việt Nam và người Mỹ gốc Việt

Người Mỹ gốc Việt có thể tác động ảnh hưởng hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực lên mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và [Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa] Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả vẫn tùy thuộc vào mối quan hệ giữa cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ với chính phủ Việt Nam.

Việt Nam coi cộng đồng người Việt hải ngoại là nguồn tài chánh (tiền bạc gởi về quê nhà và các chuyến du lịch), một tiềm năng đông đúc các chuyên gia, và muốn biến nó thành một sức mạnh để vận động cho Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Sự trỗi dậy của một thế hệ mới người Việt Nam, cả trong nước lẫn hải ngoại, không mang theo hành trang nào từ cuộc chiến, cùng với sự tiếp xúc qua thời gian giữa người Mỹ gốc Việt và người Việt ở trong nước cũng như các thành phần du học tại Hoa Kỳ (trong đó có các viên chức chính phủ) sẽ mang lại sự hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn, thu hẹp cái hố cách biệt về nhận thức của họ, và nuôi dưỡng mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Nhưng các nỗ lực có tổ chức của các nhóm người Mỹ gốc Việt nhằm nêu bật các vi phạm nhân quyền và đẩy mạnh dân chủ tại Việt Nam đã tạo cho Việt Nam một bộ mặt xấu xa và tạo căng thẳng trong mối quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Nhìn vấn đề này từ một góc độ khác, người ta có thể lập luận rằng những chỉ trích mang tính xây dựng về những vụ vi phạm nhân quyền có thể dẫn tới hậu quả tốt đẹp. Thứ nhất, những người ủng hộ nhân quyền phản ảnh giá trị và quyền lợi của Hoa Kỳ. Thứ nhì, việc cải thiện nhân quyền không những là điều mong muốn của dân chúng Việt Nam mà còn có khả năng đưa hai quốc gia và hai dân tộc lại gần với các giá trị chính trị; và sự tương hợp về chính trị là nền tảng vững chắc cho mối quan hệ bền vững và thân thiện.

Trong mấy năm gần đây, chính quyền Việt Nam đã cố gắng chìa tay ra cho người Việt hải ngoại, đặc biệt là những người sinh sống tại Hoa kỳ qua chính sách “hòa giải dân tộc.” Nghị Quyết 36 của Bộ Chính Trị công bố ngày 26 tháng 3, 2004 coi người Việt hải ngoại là “một bộ phận không thể tách rời và là nguồn sức mạnh của một nước Việt Nam toàn vẹn; họ là yếu tố quan trọng đóng góp vào việc cải thiện sự hợp tác và quan hệ thân thiện giữa nước ta và các nước khác.” Ðã có những biện pháp được thực hiện để cho người Việt hải ngoại dễ dàng mua nhà tại Việt Nam, thăm viếng Việt Nam và làm việc tại đó. Ðây là những bước nhỏ phản ảnh các ưu đãi mà chính quyền muốn dành cho người Việt hải ngoại, nhưng những ưu đãi đó đã không đáp ứng được nhu cầu hòa giải thật sự dựa vào lòng tôn trọng lẫn nhau.

Trên thực tế, mọi gia đình tại miền Nam Việt Nam ít nhất cũng có một thành viên gia nhập quân đội hoặc làm việc cho chính phủ. Nhiều gia đình có thân nhân chiến đấu ở cả hai bên trong cuộc chiến. Không ai muốn cha mẹ, thân thích của mình bị gọi là “phản quốc.” Trong diễn từ tại cuộc hội thảo để kỷ niệm 15 năm bang giao giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ở Hà Nội hồi tháng 7 vừa qua, Thượng Nghị Sĩ Webb nhắc nhở cử tọa về điều quan trọng là phải nhìn nhận rằng “có nhiều quan điểm mạnh mẽ xung khắc nghiêm trọng với các quan điểm mạnh mẽ khác cả ở bên trong lẫn ở bên ngoài Việt Nam” và ông gợi ý rằng “chúng ta phải tôn trọng sự thể rằng nhiều ý kiến khác biệt nhau đã do nhiều nhân vật đứng đắn của cả hai bên đưa ra.”

Muốn thực hiện cuộc hòa giải thực sự, những chiến binh thù địch cũ của Việt Nam phải thực hiện cho được một “nền hòa bình của những người can đảm.” Cuộc hòa giải đó không thể xảy ra chừng nào mà sử sách, báo chí truyền thông và các bản tuyên bố chính thức vẫn cứ nói sai lạc về cuộc Chiến Tranh Việt Nam như là một cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và dân chúng Việt Nam, trong đó người chiến binh miền Nam Việt Nam và thường dân bị coi là tay sai của Hoa Kỳ và đều không có tinh thần ái quốc, chứ không phải là những nam nữ chiến binh cao cả chiến đấu cho chính nghĩa của mình hoặc vì tinh thần trách nhiệm.

Hồi năm 2005, cố Thủ Tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt đã kêu gọi phải có “thái độ mới,” nhắc nhở mọi người rằng các vết thương chiến tranh “là những vết thương chung của toàn thể đất nước,” rằng “lịch sử buộc nhiều gia đình tại miền Nam Việt Nam phải có những người thân yêu ở hai bên bờ chiến tuyến,” và gợi ý rằng đất nước phải “thắp một nén hương” cầu nguyện cho linh hồn của tất cả các chiến binh - Bắc cũng như Nam - bởi vì họ đều là “những người con của Mẹ Việt Nam.”

Năm năm sau, vào năm 2010, một vị tướng lãnh Bắc Việt, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc và ủy viên dự khuyết của Ủy Ban Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam, trong một cuộc phỏng vấn với tờ Người Việt (ngày 30 Tháng Tám, 2010), tuyên bố rằng, “cuộc đổ máu [của các chiến sĩ Miền Nam trong trận hải chiến chống quân Trung Quốc tại Hoàng Sa hồi năm 1974] là đổ máu cho tổ quốc, họ phải được vinh danh và coi như ngang hàng với các chiến sĩ đã bỏ mình của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam.”

Chính quyền Việt Nam đã đưa ra hai quyết định đáng khích lệ. Một là yểm trợ và tạo điều kiện thực hiện kế hoạch “Trao Trả Lại Các Thương Vong Chiến Tranh” của cơ quan MIA/POW có trụ sở tại Houston, là tổ chức đang tìm cách cải táng thi hài của các cựu tù cải tảo đã chết trong các trại tập trung. Thứ nhì là rút các đơn vị quân đội ra khỏi Nghĩa Trang Quân Đội Biện Hòa, chỗ ngày xưa an táng các chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (ARVN) và nơi đây cũng tương đương với Nghĩa Trang Arlington của Hoa Kỳ. Người Việt hải ngoại và dân chúng tại Hoa Kỳ đang theo dõi xem liệu nghĩa trang này có được dời đi để phát triển thương mại, hoặc giữ nguyên tình trạng như hiện nay, hoặc bảo tồn nơi đó để làm địa điểm khởi đầu tiến trình hàn gắn các vết thương. Hai sự kiện này, nếu được thực hiện nghiêm chỉnh, có thể là những viên gạch xây dựng các mối liên hệ tốt đẹp hơn giữa Việt Nam và cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Hòa giải dân tộc giữa người Việt Nam với nhau là một nhiệm vụ lịch sử và có khả năng tạo nên ảnh hưởng chính trị lớn lao. Hòa giải dân tộc có thể biến đổi các cộng đồng người Việt hải ngoại đang chống đối trở thành các nhóm vận động hành lang mạnh mẽ thật sự giúp ích cho Việt Nam tại mọi quốc gia trên thế giới, và tiến trình này nhất định sẽ kết chặt mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

(Nguyên bản Anh ngữ “Remarks by Professor Nguyen Manh Hung, George Mason University, at the Conference on “U.S.-Vietnam Relations: Where we have been and where we are going next”).

Bản dịch Việt ngữ của Vann Phan

12 THÁNG ANH ĐI