Hiển thị các bài đăng có nhãn CSVN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CSVN. Hiển thị tất cả bài đăng

11 thg 2, 2013

Quân Đội, những người lính cuả NhânDân ! Các anh còn ngủ đến bao giờ ?

Dương Thu Hương

Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.

Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác.

Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.

Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.

Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979. . .
Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?

Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200. 000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.

Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”.
Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha.

Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”.
Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam , nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam , khi tất cả các cuộc kí kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này.

Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam , đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối trọng.

Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen”của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.

Hãy đọc báo Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay:
“Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. . .”

Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.

Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néandertal”?
Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân. . . ” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.

Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợhãi.
Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.

Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó.
Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của“các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây.
Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.

Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anhhùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông. Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.
Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A. Q, đàn bà không bó chân như các mợ Tầu.


Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập dân tộc”, cái khả năng nối tiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng mắt của chính họ.

Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng?
Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu để cắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”?
Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở.
Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọ này đã bôi nhọ mặt chúng ta!”
Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng?

Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộchính trị. Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng?

Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bị tiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước.
Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.

1. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị nhưvậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.

2. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt.
Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống.Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình.
Nếu như năm 1945, cha anh họ là các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con “cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”.

Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họ là những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong kí ức là “giặc phương Bắc”.

Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kì bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng. Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”.
Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc. Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh.

Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nha“

DẪN HỔ VỀ THỊT DÊ NHÀ.
Tại sao lại là hổ và dê?
Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn.
Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽthấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây nguyên chính là phần sống lưng con dê đó. Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó.
Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻ dựng lên công trình bauxite Tây nguyên?
Bauxite ư? Trò lừa đảo!
Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam , tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên? Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thế giới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất là Vùng bùn đỏ Hungaria. Còn có thể nói thêm được điều gì khi mà sự bán nước hiển nhiên đã bầy ra trước mặt dân chúng, giữa thanh thiên bạch nhật?

Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn có ý thức về hành vi bán nước của họ, bởi con tính của họ là trở thành một thứ “Thái thú Tô Định hiện đại”, được hưởng đủ phần xôi thịt của Bắc triều.
Còn Việt Nam biến thành một tỉnh nào đó của Trung Quốc, mang tên Quảng Việt, Quảng Nam, Quảng Lạc. . . họ không cần quan tâm. Họ biết rõ rằng hành động của họ là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, biết rằng không người Việt nào cam tâm làm nô lệ cho Tầu, rằng kinh nghiệm đau đớn của tổ tiên luôn luôn sống trong ý thức lẫn vô thức dân tộc, thế nên họ chủ trương đàn áp dân chúng, họ chủ trương dùng bàn tay sắt để bóp nghẹt cổ những ai muốn nói lời phản kháng. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, thứ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán.

Ông nghị Trần nói rằng “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộ bây giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn: đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không thua kém họ. . . ”

Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó? Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà.
Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong tham lam, truỵ lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON.

Bác chúng em
Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”.
Tôi hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có những người như ông Lê Giản.
Nhưng ông Lê Giản đã chết và“Người công an nhân dân”cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh.

Tôi chứng minh:
Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên từ phương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội vụ đã báo cáo lên bộ chính trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde (thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư.
Bộ chính trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”.
Các sĩ quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợ chẳng hạn), đối với người ngoài, họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó.

Tính kỉ luật của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao(!) Và cao thượng làm sao, những kẻ ngồi quanh bàn họp bộ chính trị, những bậc lương đống của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏ mặc mấy chục triệu người bị đầu độc và chết dần chết mòn!
Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh dấu sự chuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân.


Ba thập kỉ đã qua, những kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trở thành kẻ thù của nhân dân.
Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ dân để bảo vệ ông chủ của nó?
Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn. Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến trước văn phòng Quốc hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống cửa quyền, tham nhũng”. Những người dân ấy đã bị đám công an và dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao? Mấy thế kỉ đã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều:“Đầy nhà một lũ ruồi xanh” và“Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”.

Gần đây nhất, hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết.
Tôi tự hỏi, có lúc nào những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc Tầu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá?

Nếu là những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến mạnh mẽ, tại sao họkhông dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác ?
Vì chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trả lời. Tôi chỉ nêu lên nhận xét thứ hai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.

Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền mạng. Dân chúng xông lên ủng hộ gia đình nạn nhân, con số lên đến hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộ chưa từng có trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất dậu.

Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thế căm hờn của đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng. Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân.
Có lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng phú quý vinh hoa như ông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họ cũng không phải là “thiên đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờ tương đối trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra ở Nga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi.

Thêm nữa, dù hổ thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cả thì đó là cái chết xứng đáng không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ.
Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗi con người. Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản để chủ nghĩa cuồng tín không thể đặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà.

Một người công an, nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại, hay sự hy sinh của họ chỉ để làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (như ông chủ tịch kiêm phó bí thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộ và các ông khác chưa bị lộ mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm bổ dưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và vân vân. . .

Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân thì họ cũng là dân Việt.
Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước mũi súng của nhân dân.

Dân Việt :
Ai là dân Việt?
Phải chăng đó là tộc người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá như chín mươi chín tộc Việt kia?
Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều?
Ngoài các lý do về nhu cầu bờ biển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt.

Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó. Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua?Ở thế thượng phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua chúa Trung Hoa không chịu được.

Cách đây vài năm, ai đó từng nói với tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”.
Đó là một nhận định sáng suốt.
Năm trước, ông bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân chúng ủng hộ xâm chiếm Việt Nam . Theo công bố của ông ta thì con số này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự thật không ai có thể chối bỏ.

Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ 21, Trung Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ đang dương dương tự đắc vì là dân của Cường quốc số 2 trên thế giới. Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉ làm ngáng họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổ họng vô số dân đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung.

Vì lý do nào mà bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định?
Vì lý do nào mà trên các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ chó Việt Nam , phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt trọn con dê Đông Dương?

Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội còn là một chính quyền độc lập mà không tự nguyện biến mình thành đám gia nô cho vương triều Đại Hán?
Tôi dành những câu hỏi ấy cho bạn đọc trả lời.
Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi để chống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia.

Để tồn tại và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương Nam . Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “ Nam tiến”!
Nam tiến, nam tiến và nam tiến!
Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sự dưới triều Lê, từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.

Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta.
Bây giờ, chúng ta không còn cơ hội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu?
Người Việt chỉ còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn rau nhưng cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho mình và cho các thế hệ mai sau.

Để giữ được non sông, để có thể là người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính quyền bán nước, một chính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờThăng Long ngàn năm thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu.

Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”.

Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ lý còn đọng chữ tình.
Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉ luỵ cái túi tiền của chính nó. Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộ lông của chính nó mà thôi.
Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc.
Người dân Việt phải chém cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu chúng ta không muốn lặp lại số phận bi thảm của An Dương Vương.
Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội không đứng lên cùng với họ.
Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ đến bao giờ?

DƯƠNG THU HƯƠNG

9 thg 2, 2013

Lời than

Phi Dã Thiền Sư

Nước mất vào tay giặc Tàu,
dân lành triền miên đói khổ,
gái quê phải bán thân làm nô lệ ở nước ngoài,
kẻ yêu nước bị tù đày bắt bớ!
Xuân đó ư? Tết đó ư?

Lời than của Phi Dã Thiền Sư

18 thg 1, 2013

VN chuẩn bị cho cuộc cách mạng Điện Thoại Di Động

Andrew Lam người dịch Nguyễn Quốc Khải

Hình (NPR): Một người vừa chạy xe gắn máy vừa dùng điện thoại di động tại Hà Nội.

Việt Nam là một nước công an trị, nơi mà tự do phát biểu có thể đem lại một án tù nhiều năm.Việt Nam cũng là một nước đang bị tràn ngập với điện thoại di động.Người Việt đang mua tất cảnhững điện thoại bầy bán ở mức độ lớn hơn là dân số để nói chuyện, gửi thông điệp hoặc chụp hình.Đây là môt dấu hiệu của sự sung túc đang lên ở một nước cộng sản và cũng là dấu hiệu làm giảm sự độc quyền thông tin của nhà nước.

Việt Nam là một nước công an trị, nơi mà tự do phát biểu có thể đem lại một án tù nhiều năm.Việt Nam cũng là một nước đang bị tràn ngập với điện thoại di động.Người Việt đang mua tất cảnhững điện thoại bầy bán ở mức độ lớn hơn là dân số để nói chuyện, gửi thông điệp hoặc chụp hình.Đây là môt dấu hiệu của sự sung túc đang lên ở một nước cộng sản và cũng là dấu hiệu làm giảm sự độc quyền thông tin của nhà nước.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam là một nơi sản xuất và xuất khẩu điện thoại di động rẻ tiền. Trong năm 2010, Việt Nam xuất khẩu tổng số điện thoại di động trị giá 2.3 tỉ Mỹ kim. Hai năm sau, con số này nhẩy vọt lên đến 8.63 tỉ Mỹ kim, tăng 122% so với một năm về trước.

Bây giờ với giá điện thoại thấp khoảng 20 Mỹ kim, những người tiêu thụ bình thường mua hết số máy điện thoại di động có ở trong nước, nếu không thì sẽ được xuất cảng ra nước ngoài.

Theo những con số thống kê mới nhất do công ty TechniAsia cung cấp, mỗi 100 người Việt Nam có 145 điện thoại di động vào năm 2012. Đối với một nước có trên 90 triệu dân, tổng cộng lại sẽ có trên 130 triệu điện thoại di động.

Hình (Allan Rickmann): Một người dùng điện thoại di động để liên lạc trong việc mua bán tại chợ nổi, miền Tây, Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Những người mua không giới hạn trong giới trung lưu. Mọi người đều có điện thoại di động, từ học trò tiểu học cho đến người đạp xe xich lô nghèo. Dĩ nhiên bọn trẻ từ 13-19 tuổi cũng có.Người Việt vừa lái xe gắn máy một tay vừa chuyện trò qua điện thoại di động trong khi phải lách qua lách lại để tránh xe cộ một cách nguy hiểm. Dân Việt không tắt điện thoại ngay cả trong rạp chiếu phim.Trong quán cà phê, tiệm ăn, họ có thói quen khiếm nhã nói chuyện với quý vị trong khi nhìn xuống để xem và gửi thông điệp.

Chính quyền ở Hà Nội duy trì một bức tường lửa mạnh mẽ tương tự như ở Bắc Kinh.Điện thoại di động là một xu hướng gây rắc rối cho họ.

Ngoài việc chuyện trò hàng ngày, dân Việt Nam dùng dụng cụ cầm tay để ghi lại và chia sẻ những chuyện xẩy ra mà chính quyền không muốn cho dân chúng thấy. Những việc làm sai lầm của công an thông thường được tường thuật và trao đổi trực tuyến. Những cuộc phản đối công an tham nhũng, chính quyền tịch thu đất đai của dân, và ngay cả Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông, ngày nay được tổ chức bằng điện thoại tự động.

Sau đây là một trường hợp liên quan đến điều vừa trình bầy.Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh mà nhiều người biết đến, lâu nay sống lưu vong ở bên Pháp, được phép trở về thăm quê hương vào năm 2005 và ngài quyết định xây một tu viện, gọi là Bát Nhã tại tỉnh Lâm Đồng. Tu viện này phát triển rất nhanh và nổi tiếng. Nhiều người trẻ lũ lượt kéo đến tu viện.

Lòng nhiệt tình đe dọa chính quyền địa phương vì họ lo sợ một phong trào giống như Phát Luân Công (Falun Gong). Kết quả là một bọn du côn do nhà nước bảo trợ đã đến tấn công tu viện vào tháng 10, 2009, gây thương tích cho các sư sãi. Một số bị bắt.Cuối cùng chùa và những nhà ngủ tập thể mới được xây cất bị phá hủy.

Trong khi những cơ quan truyền thông chính tại Việt Nam tường thuật rất ít về biến cố này, những điện thoại di động đã chuyển tải những tin tức đi khắp nơi: những nhân chứng đã gửi những thông điệp và hình ảnh về những vụ bắt bớ và phá hủy tu viện. Câu chuyện này đã được phổ biến trên khắp thế giới.

Việt Nam thoát ra khỏi Chiến Tranh Lạnh và nhập cuộc nhanh chóng và điên cuồng vào thời đại thông tin.Có một dạo, có một máy fax có thể bị bắt.Về vấn đề vận dụng và kiểm soát thông tin, chế độ cộng sản một thời có một bộ máy rất hoàn hảo.

Nhưng nay tình trạng này không còn nữa. Số người sử dụng Internet tại Việt Nam đã gia tăng từ 200,000 vào năm 2000 đến 30,802,000 vào năm 2012. Facebook xâm nhập vào Việt Nam vào năm ngoái và đã nhanh chóng thu hút được 10.5 triệu người sử dụng, tức là vào khoảng 12% dân số.

Ông Lê Quốc Quân, một luật sư và một người vận động cho dân chủ nổi tiếng quốc tế có một mạng cá nhân nhắm thúc đẩy chế độ đa nguyên và nhân quyền, đã nói với Associated Press năm vừa qua rằng “Sự phát triển Internet đang gây nguy hiểm cho chính quyền. Bây giờ dân chúng thật sự có thể đọc tin tức.Họ khát khao muốn có dân chủ trong nước của chúng tôi. Việt Nam đã kết án 14 người có mạng cá nhân và những người vận động dân chủ vào tuần vừa qua vì tội âm mưu lật đổ chinh phủ, và một vài người lãnh án 13 năm tù. LS Lê Quốc Quân đã bị bắt sau cuộc phỏng vấn không lâu.

Ngày càng có nhiều người phổ biến lên mạng những tâm trạng thất vọngvà tức giận.Nhưng không rõ nếu toàn thể dân chúng thật sự khao khát dân chủ và muốn có một cuộc cách mạng hay không.Họ không có tổ chức đối lập, không có người lãnh đạo hấp dẫn quần chúng để thử thách tình trạng hiện nay, và không có một cuộc thảo luận nghiêm chỉnh về đường hướng mới của quốc gia.

BS Nguyễn Đan Quế, một trong những người vận động hàng đầu, trước khi bị bắt đã kêu gọi những người trẻ dùng điện thoại di động để “quét sạch bọn cộng sản độc tài.” Mặc dầu có những lời kêu gọi như vậy, không có gì chắc chắn rằng những người sử dụng điện thoại di động nhận thức được rằng kỹ thuật mới là một dụng cụ có tiềm năng tạo ra một cuộc cách mạng kiểu Mùa Xuân Ả Rập.

Tuy nhiên, một điều rõ ràng là ngọn gió thay đổi đang thổi: sự bất mãn tập thể ngày càng gia tăng đối với những bất công và tham nhũng, và kiến trúc viễn thông mới làm cho quần chúng nói chung dễ mở miệng hơn. Họ càng được biết nhiều hơn, họ càng hiếu động. Dù họ có biết hay không nhưng bằng cách chia sẻ và trao đổi tin tức trên quy mô quốc gia, người dân Việt Nam đang làm một cuộc cách mạng, từng thông điệp một.

Ông Andrew Lâm là chủ bút của New America Media. Ông cũng là tác giả của cuốn sách “Perfum Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora” (Heyday Books, 2005), và “East Eats West: Writing in Two Hemispheres”(Bookdragon, 2010).

10 thg 1, 2013

NGƯỜI TÙ VƯỢT NGỤC


THANH THƯƠNG HOÀNG (12.8.2011)
Về chiều, mặt trời chết chìm trong khối mây chì xám xịt nặng trĩu sà xuống sát mặt đất và một cơn giông làm cát bụi tung bay mù mịt. Cả khu bìa rừng tối sầm lại, một trận mưa bất thần ào ào xối xả trút nước. Bọn tù đang cuốc vỡ mảnh đất hoang thì tiếng còi của viên cai tù, tiếng la hét của tên đội trưởng truyền lệnh thu quân ré lên lanh lảnh xuyên qua màn mưa. Bọn tù vội vã chạy tới chỗ đất trống có một cây lớn tập họp để điểm danh. Từng tia chớp lóe lên liên hồi và tiếng sấm như tiếng đại bác nổ rầm rầm bên tai đám tù nhân. Bỗng một tiếng la thất thanh nổi lên: "trốn trại! trốn trại!".
Một bóng người, hai bóng người, ba bóng người lao vùn vụt vào các luống bắp cao ngập đầu người. Những tiếng súng chát chúa liên tục nổi lên hòa vào với tiếng sấm tiếng la trốn trại. Không phải một nơi mà nhiều nơi nổ súng. Bọn tù còn lại, áo quần uớt sũng, mặt mũi tóc tai nhòa nước, nhớn nhác nhìn nhau, hai hàm răng đánh cầm cập và chân tay run lẩy bẩy không biết vì sợ hay vì lạnh. Họ theo lệnh cai tù ngồi quây lại bên nhau hai tay giơ cao lên trời, cấm nói năng nhúc nhích.

Có đến một trung đội công an võ trang đầy mình lao về hướng ba tên tù chạy. Súng tiếp tục liên hồi nổ thị uy nhức nhối. Một anh tù, tiếng nói còn trẻ lắm, bỗng thốt lên: "lạy trời, lạy Phật, lạy Chúa phù hộ độ trì cho bọn nó chạy thoát". (Chỉ vì câu nói này anh bị một tên ăng ten báo cáo, mấy hôm sau bị biệt giam (nhà cùm) cả tháng và ăn 12 ký (theo công bố nhưng mỗi bữa chỉ một mẩu khoai mì luộc và chút nước lã!)Bỗng một tràng súng nổ giòn dã ngay bìa rừng và tiếp theo tiếng la thảm thiết: "Mẹ ơi con chết mất!". Trong đội có tiếng xì xầm: tiếng thằng Nam! Đúng là Nam, một thanh niên mới 20 tuổi, sau khi đậu tú tài được gọi động viên và mới ra trường đeo lon chuẩn úy ba tháng, đánh nhau mặt trận Long Khánh bị bắt. Long cắm đầu chạy chân vấp phải một rễ cây to trồi ngang mặt con đường mòn nhỏ. Anh ngã té sấp vừa lúc viên công an lao tới. Nam đang định đứng dậy thì một tràng đạn xuyên qua lưng anh, anh chỉ kịp kêu tiếng gọi mẹ rồi ngã vật ra, lưng áo rách tung đẫm máu. Viên công an lấy chân giầy lật ngửa thân Nam lại. Mặt Nam nhăn nhúm sau khi lãnh một tràng đạn căm hờn nữa xuống ngực. Cả thân Nam nẩy lên rồi co quắp dưới làn nước mưa xối xả, máu loang mặt đường đất. Hai công an khác chạy tới. "Chết chưa?". Một anh hỏi. Anh thứ hai đá đá mũi giầy vào thân Nam: "Chắc chết rồi". Họ kéo xác Nam ra khỏi cánh rừng. Còn đám đông công an vẫn tiếp tục truy lùng hai tên tại đào. Súng tiếp tục nổ giòn dã và sấm chớp vẫn ầm ầm xé nát góc trời mưa gió mù mịt.Người trốn trại xấu số được các bạn đồng tù (làm theo lệnh cai tù) đào đất chôn ngay nơi gò đất gần đó. Viên cán bộ quản giáo nói như tuyên án: "tên này tới đây đã không chịu học tập cải tạo lại còn ngoan cố phạm thêm trọng tội vượt ngục, không xứng đáng được chôn như thường lệ!". Một anh tù đưa tay quệt nước mắt "xin phép cán bộ cho đánh dấu cái mả". Bốn khúc cây khoai mì được đóng xuống bốn góc mả. Nghe nói bốn khúc cây khoai mì sau này mọc lên tươi tốt lắm và củ rất to, anh em tù khi qua đó không quên đào bới củ đem nướng ăn tấm tắc khen ngon.

Minh cứ thế cắm đầu chạy trong mưa tầm tã. Anh không biết đã chạy bao xa. Chỉ nghe những tràng đạn nổ đuổi theo mình thưa dần thưa dần rồi lát sau tắt hẳn. Anh đưa tay lên mặt xoá đi những làn nước mưa làm mờ mắt. Máu dính nơi bàn tay, Minh không biết mình bị thương ở mặt hay ở tay. Anh đưa mắt nhìn quanh. Không thấy người bạn chạy cùng. Có lẽ nó bị hạ rồi. Minh nghĩ. Nghĩ vậy nhưng Minh vẫn hy vọng gặp lại bạn đang ẩn nấp quanh quẩn đâu đây. Minh không dám hú mật hiệu, sợ lộ. Trước mặt, chung quanh Minh là rừng rậm với những cây le lớn nhỏ chằng chịt chen khít nhau với cỏ gai, không lối đi. Minh ngồi bệt xuống đất thở từng hơi dài và lắng tai nghe ngóng động tĩnh. Bây giờ tim anh mới bớt đập thình thịch như muốn vỡ lồng ngực cách đây ít phút. Rừng trở nên âm u nặng nề với những làn mưa trút xuống cây cối như những mũi tên bắn vào da thịt đau buốt. Bóng đêm bắt đầu mờ mờ buông phủ. Đây là đâu? Cách trại tù bao xa? Ít ra cũng được vài ba cây số. Có tiếng động mạnh gần đó. Minh giật mình đứng vụt lên phòng thủ. Một con chim cú cất cánh, chắc nó vừa vồ được con mồi. Mình cũng đang là con mồi bọn cán bộ tìm mọi cách vồ bắt đây. Trời bắt đầu tối hẳn, mịt mùng đen đặc. Mưa nhẹ hạt rồi ít phút ngưng. Sau cơn sợ hãi hoảng loạn bây giờ Minh càng thấy hoảng sợ hơn: một mình đơn độc nơi chốn rừng núi hoang vu - trong túi chỉ một con dao găm nhỏ bằng nhôm tự làm - không định hướng được để đi đến nơi muốn đến. Nhưng cứ đi miễn là càng xa trại giam càng tốt rồi sẽ liệu sau. Lúc còn trong trại, khi âm mưu trốn trại mới chớm mở, Minh quá chủ quan thấy mọi sự như ở trong tầm tay của mình và tin tưởng muốn là được. Hơn nữa Minh nguyên là lính biệt kích dù nên anh rất tin tưởng vào kinh nghiệm về rừng núi của mình. Và hai thằng bạn anh cũng vậy, tuy không là lính biệt kích dù nhưng có nhiều can đảm, mưu lược. Bây giờ Minh mới thấy mọi sự việc đều ngoài tầm tay vì thiếu phương tiện cần thiết phải có khi "lội" trong rừng. Tất cả nguy hiểm đang bủa vây quanh mình. Nhưng phải đi, phải liều thôi. Thần chết đang đuổi phía sau. Thần chết đang rình rập đâu đây. Giá bây giờ gặp lại thằng bạn cùng trốn trại nhỉ? Cứ thế Minh quờ quạng dò dẫm đạp lên những bụi gai góc lần bước. Đêm tối quá. Có tiếng chó sói tru rùng rợn từ xa vọng lại. Rồi những con vật nhỏ rượt đuổi nhau, cây lá chuyển động xào xạc. Sự sợ hãi làm Minh quên đói. Có gói cơm nguội phơi khô và ít muối dấu được để đem đi thì thằng bạn bị bắn chết giữ. Có lẽ không chết vì bị giết cũng chết vì đói mất. Nhưng thôi, một liều ba bẩy cũng liều. Minh tự an ủi và động viên. Có tiếng động nhẹ đang tiến gần lại phía Minh. Anh mừng thầm cầu trời đây là thằng bạn. Minh hồi hộp chờ. Nhưng không phải. Một con chồn sục sạo kiếm ăn. Cứ thế, chẳng biết đi được bao lâu bao xa, Minh mệt quá lả gục thiếp đi lúc nào không hay bên một gốc cây lớn. Cùng lúc, một trận bão muỗi ào ào lao tới phủ kín thân thể Minh và thi nhau hút máu anh.

Khi ánh mặt trời rọi vào mắt Minh bừng tỉnh. Anh đứng lên vươn vai đưa mắt nhìn quanh định phương hướng. Rừng cây rậm rì với những tia ánh mặt trời xuyên qua kẽ lá rất khó định phương hướng, địa thế. Bây giờ Minh mới thấm mệt và nhất là đói. Nhìn quanh chẳng thấy một loại cây nào có trái ăn được. Có tiếng sột soạt của cây lá. Minh rút con dao găm tự chế phòng thủ. Một con rắn dài hơn thước đang bò tới. Có đồ ăn đây rồi. Minh như reo trong lòng. Với kinh nghiệm từng trải nhiều phen tự mưu sinh trong rừng rậm, Minh bắt con rắn dễ như trở bàn tay. Anh đập chết nó rồi lấy hai thanh nứa cọ sát vào nhau lấy lửa nướng con rắn và xé ra từng miếng ăn ngấu nghiến. Ăn xong Minh vội vã cất bước, cứ theo hướng mặt trời mà đi. Anh biết bọn cán bộ trại vẫn chưa chịu buông tha anh nên càng thận trọng trong đường đi nước bước, không để lại một dấu ấn. Cứ ngày đi đêm ngủ, đói ăn trái cây rừng và chim chuột rắn bắt được. Khát uống nước suối hay những thân cây leo mà Minh biết có nước ở trong không độc. Minh lần bước về hướng ba biên giới Việt Miên Lào.

Đứng trên ngọn đồi Minh phóng tầm mắt nhin xuống phía dưới. Lúc ấy trời đã về chiều. Minh nhìn thấy vệt nắng vàng nhạt phủ trên một cánh rừng thưa. Nhìn kỹ thì ra đấy là rừng khoai mì. Minh như reo thầm trong lòng. Hai ngày nay trong bụng chỉ có một con sóc nhỏ nướng. Cái đói cái mệt và hai bàn chân bị sưng tấy, Minh lả người, với cái gậy le chống tay lê từng bước, lúc nào cũng như muốn sụp đổ. Đang chán nản thất vọng thì Minh nhìn thấy rừng khoai mì trong tầm mắt, khác gì liều thuốc hồi sinh, khác gì đại hạn gặp cơn mưa rào. Một sức mạnh nổi bừng trong thân thể Minh. Có sự sống đây rồi. Đúng là trời còn thương kẻ khốn cùng. Nhưng, vốn đã được học tập cảnh giác cao, Minh quan sát khắp vùng. Đây là đâu? Chẳng lẽ đã tới vùng biên giới Lào hay Miên? Trồng khoai mì trên đồi núi thì chỉ có ở miền rừng núi Việt Nam và Lào. Hay đây là cánh rừng khoai mì bọn lính cộng sản trồng trên con đường mòn Trường Sơn để lấy lương thực cho quân lính chuyển quân vào miền Nam? Dù thế nào chăng nữa Minh cũng phải liều mò mẫm tới đó kiếm cái ăn đã rồi tính sau. Minh lê từng bước về phiá cánh rừng khoai mì. Minh biết quanh vùng có người ở, mong là di dân kinh tế mới, nhưng dù sao cũng phải thận trọng phòng ngừa.
Tới nơi trời ngả tối. Những cây khoai mì cao hơn đầu người chạy dài xuống tận chân đồi. Nghe ngóng hồi lâu thấy tất cả đều im lìm vắng lặng, Minh yên tâm ngồi bệt xuống giữa những khóm khoai mì. Chờ khi lại sức một chút, Minh bới một gốc khoai mì. Củ mì khá lớn. Đói quá Minh bóc vỏ ngoài và ăn ngấu nghiến ngay. Ăn hết củ khoai mì Minh mới chợt nhớ ra là ăn sống nó rất có thể bị "say" và có thể làm chết người. Quả đúng vậy. Ít phút sau Minh thấy mặt mũi nóng bừng đỏ gay và sưng lên rồi xây xẩm choáng váng. Tiếp theo là nôn ọe ra cả mật xanh mật vàng, ruột gan như quặn lại và sau đó Minh ngất đi.

Minh tỉnh lại thấy mình nằm trên nền đất ẩm lạnh trong một cái buồng nhỏ có bốn bức tường đất loang lổ cũ kỹ, tỏa mùi hôi mốc. Hai tay Minh bị trói quặt ra sau lưng bằng một loại giây rừng. Con dao nhỏ trong túi anh đã bị lấy mất. Thì ra anh bị bắt trong lúc say khoai mì. Không biết đây là đâu và bọn nào bắt mình đây? Cộng sản Việt Nam, Pathét Lào hay bọn Pôn Pốt? Dù bọn nào thì mình cũng sa vào bước đường cùng rồi, chỉ còn cái chết với sự tra tấn tàn bạo chờ đợi trước mắt. Cửa địa ngục đang rộng mở chờ đón. Minh rùng mình thấy kết cục bi thảm của đời mình. Anh không hối hận về việc vượt ngục, chỉ thấy tội nghiệp cho mình và thương hai tên bạn xấu số. Số phận anh và các bạn anh khác gì số phận hàng triệu người Việt miền Nam muốn vượt thoát địa ngục trần gian, bất chấp hiểm nguy nhưng trời chẳng chiều lòng người bị bắt nhốt trong các nhà tù khắp nước hay bị bắn chết ngoài biển khơi. Phen này Minh cầm chắc cái chết trong tay khó mà vượt thoát. Bỗng Minh cất lên một tràng cười rộn rã có đủ đắng cay oán hận, có đủ thê thiết bi ai, có đủ hùng tráng và tuyệt vọng. Tiếng cười của Minh bay ra khỏi buồng khiến hai, ba người xô cửa bước vào. Họ mặc bộ đồ xanh nhạt cũ kỹ của quân lính Việt Nam cộng hòa xưa, vai khoác súng. Chẳng lẽ đây là anh em Fulro? Trong tù Minh nghe nói người Thượng theo phong trào Fulro nổi lên chống quân cộng sản nhiều lắm. Họ đóng trong rừng sâu thỉnh thoảng đột kích các đơn vị cộng sản hay ngược lại bị binh lính cộng sản truy lùng. Nếu đúng vậy đây quả là cơ hội quá tốt đẹp cho Minh. Anh sẽ gia nhập bọn họ cầm súng chiến đấu với cộng sản. Minh khấp khởi mừng thầm với nhiều hy vọng. Ba người Thượng cất tiếng nói với nhau. Một người cất tiếng Việt lơ lớ hỏi Minh: "Ở đâu tới đây? Tù trốn trại hả?". Minh im lặng dò xét. Ba người Thượng có vẻ như bàn cãi rồi họ rời khỏi buồng. Cánh cửa buồng đóng lại, tiếng gài then. Minh hồi hộp chờ đợi một sự bất thường tốt nhiều hơn xấu. Thân thể anh ê ẩm mỏi nhừ rã rời. Anh gượng gạo ngồi dậy. Nhìn qua khe cửa anh thấy phía trước có một căn nhà, thỉnh thoảng người qua lại. Lúc ấy có lẽ đã quá trưa, trời nắng gắt. Lát sau một anh người Thượng mặt mũi dữ tợn, mình trần đóng khố, mở cửa vào buồng, tay cầm một sợi mây dài và khúc khoai mì. Không nói năng gã trói hai chân Minh rồi cởi trói tay phía sau, trói lại về phiá trước, xong gã quẳng cho Minh khúc khoai mì luộc và bước ra ngoài đóng cửa lại ngay. Qua việc này Minh biết mình gặp chuyện dữ, có lẽ anh sa vào tay bọn Thượng cộng. Thế là hết. Minh thở dài chán nản tuyệt vọng. Nuốt khúc khoai mì xong, Minh nằm vật xuống nền đất ẩm ngẫm nghĩ.
Mãi tới chiều tối cửa buồng giam mới mở, một anh người Thượng còn khá trẻ, mặc bộ đồ xanh lá cây như bộ đội cộng sản đã bạc mầu, bước vào. Minh nhắm mắt vờ ngủ. Người này đưa tay lay Minh dậy, cất tiếng nói - bằng tiếng Việt khá sành sỏi: "Anh là tù trốn trại?". Minh im lặng dò xét kẻ đối diện. Có đến bẩy, tám phần mười là thù, chỉ một chút xíu hy vọng. "Anh ở trại nào? Nói đi sẽ được ăn. Tôi không muốn dùng tới roi gậy". Thế là rõ ràng rồi. Minh cất tiếng hỏi: "Anh có thể cho tôi biết anh là ai và đây là đâu?". Người Thượng cười gằn: "Đây là đồn công an xã, anh chỉ cần biết thế. Còn đây là đâu tôi không nói". Ngưng chút gã tiếp: "Nếu anh không khai tôi cũng biết anh ở trại cải tạo nào trốn rồi. Khai ra thì được ăn, uống nước". Minh im lặng. Gã thanh niên Thượng trừng mắt nhìn Minh mấy phút mới quay lưng bước ra ngoài đóng cửa buồng lại. Đêm đó Minh bị bỏ đói và làm mồi cho đàn muỗi. Trong lúc đang mơ màng nửa thức nửa ngủ, một con chuột bò tới gặm ngón chân Minh, bị nhột và đau anh mới biết.
Sáng sau Minh lại bị gã thanh niên Thượng hôm qua vào buồng cật vấn. Gã đưa cho Minh một điếu thuốc rê, nói: "Hút đi! Tôi biết anh ở trại Z 50 trốn rồi. Cấp trên vừa báo cho biết. Ngày mai chúng tôi sẽ giải giao anh về trại. Nhà nước đã khoan hồng cho anh sống, cho anh đi cải tạo mà vẫn ngoan cố, tội càng nặng thêm đó!". Tuy đã biết số phận mình sẽ ra sao nhưng khi nghe gã Thượng nói anh vẫn choáng váng, rã rời. Con đường tù ngục đang mở ra trước mắt và tất cả sự bạo hành chờ đợi anh. Trừng phạt và đòn thù khủng khiếp với kẻ trốn trại Minh đã từng chứng kiến. Chẳng khác gì bọn quỷ sứ dưới chín tầng địa ngục tra tấn tội nhân mà Minh thường được nghe bà nội kể hồi nhỏ. Chỉ còn thiếu nước họ quẳng tội nhân vào vạc dầu đang sôi sùng sục.
Sáng sớm hôm sau, được một khúc nhỏ khoai mì lót dạ, Minh bị trói hai tay ra đằng trước bằng sợi giây mây rất chặt, khẽ cựa giây siết như cắt da thịt.
Một anh dân quân Thượng đeo súng AK dẫn Minh đi. Vượt rừng lội suối, theo đường mòn bị cỏ dại che lấp, ngày đi được khoảng 10 cây số. Buổi chiều hay tối họ tới một bản Thượng và anh dân quân "bàn giao" tù nhân cho địa phương rồi ra về. Trò "trao tay" tù nhân cứ diễn ra như thế từ bản này tới bản khác, cho tới ngày thứ tư. Khi mặt trời khuất sau cánh rừng thì anh du kích Thượng giải giao anh tù vượt ngục tới một ngôi nhà sàn khá lớn, có treo biển: TRỤ SỞ ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ Y...". Anh dân quân Thượng nói gì với anh bảo vệ (gác cổng, cũng người Thượng) rồi nhận một tờ giấy biên nhận ra về. Trước khi đi anh ta còn nhìn Minh một lần cuối, Minh không hiểu ý nghĩa cái nhìn này nhưng Minh công nhận hắn đối xử với anh tương đối khá hơn mấy người trước: không mắng chửi, nện báng súng vào lưng vào vai còn cho uống nước đầy đủ cũng như nghỉ ngơi thỏa mái.

Người tiếp nhận tù vượt ngục lần này khác hẳn mấy lần trước và Minh suýt kêu lên vì kinh ngạc. Đó là viên quản giáo trong đội của Minh nơi nhà tù anh vừa trốn khỏi cách nay mấy ngày. Gã quắc mắt nhìn Minh cười gằn nói: "Thế nào? Tôi tưởng giờ này anh đang ở Mỹ rồi chứ!". Minh im lặng cúi nhìn hai bàn chân mình sưng tấy. Quả là bất ngờ ngoài sức tưởng tượng của Minh, trại tù đã quyết liệt bắt bằng được người tù trốn trại và bắt viên quản giáo chịu trách nhiệm tìm bắt, giải giao. "Anh có biết tôi đã "vất" như thế nào khi mấy anh trốn trại không? Lãnh "búa" nặng lắm đấy vì lý do "quản lý" các anh không "chặt". Đảng đã khoan hồng không giết những tên nợ máu như anh, cho đi học tập cải tạo để trở thành người công dân mới xã hội chủ nghĩa. Vậy mà vẫn ù lỳ ngoan cố trốn trại làm khổ anh, khổ tôi, khổ mọi người. Nếu anh bị bắn chết rồi thì có phải làm khổ vợ con anh không? Lần này thì tù mọt gông thôi. Tránh trời không khỏi nắng". Minh vẫn im lặng, khi mới bị đưa vào tù anh đã biết đời mình hết rồi, sống cũng như chết thôi.
Buối tối đó họ trói cả hai tay hai chân Minh quẳng vào cái chuồng trâu cũ, vì trụ sở ủy ban chưa làm xong gian nhà giam. Mặc cho muỗi đốt khắp người, vì đói vì mệt vì đau đớn vì tuyệt vọng Minh lại thiếp đi. Anh thấy mình bị trói vào một cái cột gỗ trước sân trại tù, sáu viên công an cầm súng đứng dàn hàng ngang cách anh mười mét, sau tiếng hô cùng lúc nổ súng, Minh dẫy dụa đau đớn gục xuống trên vũng máu. Anh hét lên, bừng tỉnh, mồ hôi ướt đẫm chiếc áo rách. Một cơn ác mộng. Minh thở dài. Có lẽ giờ phút tận thế thê thảm đã được báo trước. Ngoài kia, qua khe cửa, Minh nhìn thấy mặt trời đang cố ngoi lên giữa đám mây đen dầy đặc. Viên quản giáo tới, tay cầm một khúc khoai mì luộc đưa Minh: "Ăn đi rồi sửa soạn lên đường về trại!"

Minh lần này hai tay không bị trói bằng giây mây nữa mà bằng cái còng số 8. Viên quản giáo vai đeo khẩu AK đi sau, cách ba thước. Trời nóng nực, đường mòn nhỏ hẹp hai bên lề toàn cây nhỏ và cỏ dại mọc đầy gai góc cứa nát da thịt. Họ lần từng bước, rẽ cây cỏ mà đi, nhất là với những cây mắc cỡ. Hai chân Minh càng lúc sưng to nên anh khó nhọc từng bước đi. Viên quản giáo đi sau luôn tỏ ra cáu gắt bực tức, mặc dầu luôn mồm hối thúc và đôi lúc nặng lời chửi bới, nhưng xem ra gã cũng thấm mệt. Minh tỉnh như không. Anh nhớ lời một nhà văn bị nhốt cùng trại nói với anh: hãy nghe những lời mắng nhiếc chửi bới của bọn cán bộ như nghe một bài hát dở". Minh nghĩ: nhưng nếu chết được trong giờ phút này thì hay hơn vì cái thân thể rã rời mệt nhừ đau nhức đến tột cùng, nó không chịu theo sự điều khiển của anh nữa. Nó chỉ muốn lăn đùng ra nằm bất động. Minh nói với viên quản giáo: "Cán bộ thương tôi, làm ơn ban cho tôi một phát đạn đi. Tôi chịu hết nổi rồi". Viên quản giáo lừ mắt: "Muốn chết thì khó gì nhưng tôi có bổn phận phải bắt sống và đưa anh về trại nộp cho ban giám thị. Vả lại mới đi có ít dậm đường đã thấm thoát gì mà kêu ca than thở". Và gã động viên: "Thôi ráng đi. Trưa tới trạm giao liên này sẽ có phần ăn khá hơn. Có khi có cả thịt chuột nướng đấy!".
Hai người, một trước một sau, một bị còng hai tay, một đeo súng nơi vai cứ thế vạch cỏ cây rừng kiếm đường mòn đi. Đi miết từ sáng tới tối, không biết bao xa vẫn chưa thoát khỏi cánh rừng âm u hoang dã của dẫy Trường sơn như chưa bao giờ có dấu chân người đặt tới. Trưa họ ngồi nghỉ bên gốc cây lớn hay bên bờ suối giở đồ ra ăn. Viên cán bộ ăn cơm nắm chấm với muối, còn Minh tiếp tục khoai mì luộc. Ăn xong nghỉ ngơi chút đỉnh họ lại đi. Hai người cắm cúi đi mãi. Viên quản giáo đe dọa: "Anh mà chạy tôi bắn bỏ đấy!". Minh cười nhạt chỉ vào cái gậy le cầm nơi tay: "Hai tay bị còng chống gậy đi còn không nổi làm sao tôi trốn chạy được. Cán bộ cứ thử tháo còng xem tôi có chạy được không". "Đừng hòng xui dại thằng này". Bỗng cây rừng ào ào chuyển động mạnh, một mùi hôi khó chịu theo gió ùa tới, viên quản giáo hít hít nghe ngóng rồi kêu lên: "Cọp! Cọp tới!". "Vậy thì phải nấp!". "Có nấp đằng trời!". "Tôi sẵn sàng để Cọp ăn thịt, vì sớm muộn gì khi về trại tù tôi cũng bị xẻo từng miếng thịt tới chêt. Còn anh, anh còn sức lực ráng mà chạy...". "Nhưng...". "Chẳng nhưng gì hết, chạy mau không chết cả hai bây giờ!". Gã quản giáo cắm đầu chạy một quãng thật xa tới cái khe sâu chắn ngang mới ngừng ngó lại. Minh đứng nấp sau một cây to hồi hộp chờ Cọp tới vồ. Anh nghĩ: "Thà chết vì Cọp còn hơn chết về tay cộng sản". Rất may con Cọp mải đuổi theo con mồi phóng về hướng khác. Gã quản giáo chừng như hoàn hồn cất tiếng hú gọi Minh. Lần theo tiếng hú, Minh lết tới chỗ viên quản giáo. Gã thấy bóng Minh, đưa tay vẫy vẫy và cười nói: "May quá nhỉ? Tôi tưởng nó vồ anh rồi". Tới bên gã, Minh thấy chỉ cần bất thần đẩy nhẹ một cái là tên này lăn xuống khe sâu hết đường sống". Trong cơn hiểm nghèo người ta thường quên đi nhiều thứ và cần tới đồng hành, đồng minh, chung sức chung lo. Gã quản giáo nhìn trời nhìn đất nhìn cảnh vật chung quanh, thở dài nói: "Có lẽ lạc hướng rồi"
Họ lạc hướng thật. Tiếp đó hai ngày sau họ vẫn cứ loanh quanh mãi trong khu rừng rậm hoang vu, không định được phương hướng. Đói họ nhặt lá cây quả rừng và măng nấm ăn. Có khi bắt được con sóc hay chuột, rắn rết, nướng họ chia đôi. Khát chặt giây leo lấy nước uống. Minh và viên quản giáo bị sốt rét. Bệnh bớt một chút họ lại đi. Từ lúc Minh tỏ ý sẵn sàng cho Cọp ăn thịt mình để viên quản giáo chạy thoát đã tạo chút cảm tình trong gã. Gã không còn nhìn Minh cái nhìn hằn học căm hờn như trước nữa, tuy nhiên vẫn đề cao cảnh giác. Tới một khu rừng le rậm rì bát ngát, thân cây le nằm rạp trải dài trên các triền núi gập ghềnh. Không còn đường đi, hai người phải bước trên những thân cây le mà lần bước. Đi được khoảng hai ba cây số bỗng Minh nghe tiếng kêu thất thanh của viên quản giáo phía sau: "Chết tôi rồi". Minh nhìn lại. Viên quản giáo bước hụt vào chỗ trống, rơi tụt xuống mặt đất khá xa. Minh dừng chân ngẫm nghĩ. Đây là cơ hội bằng vàng để anh thoát thân. Viên quản giáo rớt mạnh xuống đất không chết cũng què tay hay gẫy chân. Và sớm muộn sẽ bỏ thây nơi chốn rừng hoang này làm mồi cho thú dữ. Minh ngồi xuống ôm trán suy nghĩ. Với hai bàn chân sưng vù, với bộ quần áo tù, nhất là với hai bàn tay bị còng thì chạy đâu cho thoát. Minh đứng lên, lưỡng lự một chút anh lặng lẽ mò mẫm tìm đường lần xuống chỗ viên quản giáo rớt. Kinh nghiêm học được trong những năm tháng làm lính biệt kích, Minh giải quyết sự việc dễ dàng. Tới đất, anh nhìn thấy khẩu súng AK của viên quản giáo văng ra xa nằm chổng trơ trên bãi cỏ. Minh cầm lên xem xét. Băng đạn còn nguyên. Minh khoác lên vai bước tới phía viên quản giáo đang nằm co quắp quằn quại rên rỉ đau đớn. Bỗng Minh thấy cơ thể mình như có thêm sức mạnh, mặc dầu chân tay vẫn còn mệt mỏi nhức nhối. Tới chỗ viên quản giáo khoảng 10 mét, Minh đặt khẩu súng lên vai chĩa về phía gã và lên đạn. Đây là cơ hội để Minh trả thù và thoát thân. Trong Minh nổi lên sự giằng co mãnh liệt giữa oán thù và khoan thứ. "Nó cũng như mình là nạn nhân của bọn chóp bu thôi. Phận sự, cơm áo, đời sống bắt nó phải hành xử như vậy. Nơi trại tù nó chỉ hơn mình tí chút kẻ ở trong phòng giam kẻ ở ngoài". Thấy họng súng chĩa vào mình viên quản giáo hoảng sợ kêu ầm lên: "Đừng! Đừng! Anh có bắn chết tôi cũng chẳng giải quyết được gì, vì anh không thể trốn thoát được mà tội lại nặng thêm. Bị xử bắn là cái chắc! Tha tôi, tôi sẽ cố nói giúp xin giảm án cho anh". Minh cười nhạt: "Đùa anh vậy thôi. Bây giờ tôi có giết anh cũng chẳng ích gì". Minh đặt súng xuống, bước lại bên viên quản giáo, vạch ống quần ống tay áo nhìn vết thương gã, nói: "Chân anh có thể bị gẫy. Để tôi đi kiếm ít lá cây thuốc đắp vết thương". "Anh không bỏ đi đấy chứ?". "Nếu bỏ đi thì tôi đã làm từ lúc anh ngã xuống đây. Có súng trong tay tôi còn ngán gì nữa. Yên chí đi "đồng chí quản giáo". "Hãy kiếm cho tôi miếng nước". Minh trước khi bước đi còn xé ống tay áo của mình băng bó vết thương nơi chân cho viên quản giáo.
Mấy giờ sau Minh xốc vai viên quản giáo, mỗi người một cái gậy le, lê từng bước. Anh đã khoác khẩu AK lên vai gã cho gã yên tâm hẳn. Nhìn mặt trời lọt qua kẽ lá, Minh tìm phương hướng để lần lối ra khỏi khu rừng. Đêm họ tìm một cái hốc cây lớn hay cái hang nghỉ ngơi. Họ lấy cành cây khô nhóm lửa và nướng đồ ăn kiếm được từ những con thú nhỏ. Nhưng no bụng vẫn không nhắm mắt ngủ nổi vì trăm mối ngổn ngang trong đầu họ. Họ lên tiếng chuyện trò gần như quên vai trò của mỗi người. Mới đầu họ còn giữ gìn ý tứ, sau giãi bầy hết tâm sự từ hoàn cảnh cá nhân, gia đình tới ý hướng. Minh biết viên quản giáo có vợ và một con nhỏ ở miền Bắc, làm ruộng. Còn viên quản giáo biết Minh độc thân, cha sĩ quan cộng hòa tử trận, mẹ bị chết vì pháo kích vụ tết Mậu Thân. Trong hoàn cảnh khốn cùng, họ trở thành thân thiết cởi mở lúc nào không hay. Viên quản giáo hỏi Minh: "Thấy tôi lâm nạn sao anh không bỏ đi?". "Tôi không nỡ bỏ anh một mình nơi chốn rừng hoang với vết thương nặng nề. Lương tâm tôi không cho phép, mặc dầu vẫn nhớ anh là kẻ thù. Nếu ở vào trường hợp anh, chắc anh nện cho tôi một phát súng rồi, đúng không? Lãnh tụ các anh đã dạy các anh không khoan nhượng và phải quyết liệt với kẻ thù mà! Còn tôi từ nhỏ ông bà cha mẹ đã dạy là phãi đối xử nhân đạo độ lượng với tất cả mọi người, dù là kẻ thù". Viên quản giáo nhìn Minh chớp chớp mắt, dò xét. Qua ánh lửa gã nhìn thấy trong đôi mắt Minh tỏa ra một sự chân thật trong sáng và tràn đầy nhân tính. Từ nhỏ tới lớn trừ đôi mắt mẹ gã ra, gã chưa nhìn thấy đôi mắt thứ hai như vậy. Một lát lâu gã cất tiếng hỏi Minh: "Anh đi lính biệt kích chắc giết chết bọn tôi nhiều lắm?". "Chúng tôi chủ trương bắt sống hơn là giết, trừ trường hợp bất khả kháng mới phải nổ súng". "Bắt để làm gì? Đem về trị tội hay khai thác xong bắn bỏ?". "Đúng, chúng tôi bắt đem về khai thác xong cho vào trại chiêu hồi nuôi nấng tử tế rồi chỉ dẫn cho biết đâu là chánh nghĩa đâu là phi nghĩa. Thời gian sau nếu thực tâm giác ngộ, chính phủ giúp tiền bạc thả về làm công dân lo công việc làm ăn như tất cả mọi người". "Thật thế à? Hay lại định tuyên truyền nhau nữa!". "Thì trong trại có mấy chục anh cán binh chiêu hồi đấy, anh cứ hỏi họ sẽ biết". Viên quản giáo nuốt nước bọt như cố dằn nén tiếng thở dài và từ đó gã im lặng không nói năng hỏi han thêm nữa. Gã có vẻ đang suy nghĩ một điều gì. Mãi gã mới khẽ khàng nói: "Anh đưa tay tôi mở khóa còng cho nhưng khi đến gần trại tôi sẽ còng lại đó".
Mấy ngày sau trải bao gian nan vất và nguy hiểm đói khát họ mới tới được cuối khu rừng thưa phía nam day Trường Sơn. Theo lời viên quản giáo còn khoảng hơn nửa ngày đường nữa tới trại giam. Minh nói: "Bây giờ tôi phải chia tay anh ở đây, chắc anh không phản đối và cũng không nỡ bắn hạ tôi chứ! Tôi chỉ yêu cầu anh một việc". "Anh không về trại?". "Không, tôi không thể trở về cái địa ngục trần gian ấy được nữa". Ngần ngừ một lúc viên quản giáo nói: "Anh có thể cho tôi đi cùng?". "Anh nói đi đâu?". "Thì trốn ra ngoại quốc chớ còn đi đâu". Nghĩ ngợi khá lâu Minh trả lời dứt khoát: "Không, anh không thể đi được đâu. Anh còn mẹ già, còn vợ còn con nhỏ. Anh bỏ đi những người này sẽ bị hành hạ khốn khổ lắm, không sống yên với họ được đâu. Còn anh nếu không thoát được thì số phận chắc thê thảm chẳng kém gì tôi. Bây giờ thế này nhé. Anh cởi bộ đồ của anh cho tôi mặc. Anh mặc bộ đồ của tôi và cứ nói với cấp lãnh đạo của anh là bị tôi bất thần đánh gẫy tay chân và lột quần áo đổi, như vậy anh sẽ vô tội. Nếu còn chút cảm tình với tôi anh chỉ hướng ngược lại để họ đi tìm tôi". Viên quản giáo mặt buồn rười rượi: "Thế nghĩa là...". "Phải, chúng ta chia tay nhau ở đây. Tôi đi không biết có thoát được không nhưng dù sao có chết trên đường tìm tự do vẫn còn hơn chết trong ngục tù đầy đọa nhục nhã. Vĩnh biệt anh bạn cán bộ trại tù. Anh nhớ chữa trị cẩn thận cái chân nhé, không mang tật suốt đời khổ lắm". Dứt lời Minh cúi đầu chống gậy lê từng bước đi. Trời đã ngả về chiều, không gian vàng vọt u ám, Viên quản giáo sau khi ném cái còng vào bụi rậm, nhìn theo bước chân Minh xa dần trên con đường mòn nhỏ cỏ dại che lấp, bất thần kêu lên:"Anh Minh, anh Minh...". Gã ngập ngừng rồi bước theo Minh đưa cho anh cái bi đông đựng nước, nói: "Anh cầm lấy... Anh cần có nước". Minh cám ơn cầm bi đông nước đeo lên vai và tiếp tục chống gậy lê bước, không quay lại. Anh biết gã quản giáo vẫn đang đứng nhìn theo anh.

1 thg 1, 2013

Quân đội là của ai?


Ngô Nhân Dụng

Một bản tin trên Nhật báo Người Việt cho biết ngày 3 tháng 10, 2012 một bài trên tờ Quân Ðội Nhân Dân ở Hà Nội nhìn nhận “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong từng nơi, từng lúc, với mức độ khác nhau. Một bộ phận không nhỏ những đảng viên rất thiếu ý thức khi học tập, nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghị quyết của đảng.”

Quân Ðội Nhân Dân là cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng Sản nhắm vào những người cầm súng. Khi nói đến “bộ phận không nhỏ những đảng viên thiếu ý thức,” chắc tờ báo này nhắm vào đối tượng chính của họ là các đảng viên ở trong quân đội. Lời cảnh cáo trên cho thấy mối lo chung của nhóm cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ lo không thể tiếp tục coi tất cả các người cầm súng còn nhắm mắt làm tay sai cho các lãnh tụ đảng mãi mãi. Quyền hành của đảng Cộng Sản hiện đang được đám công an vũ trang bảo vệ. Nhưng nếu quân đội có thái độ trung lập, hay đứng về phía nhân dân, thì quyền hành đó sẽ tiêu tan.

Vì vậy, đảng Cộng Sản phải “động viên” lòng trung thành của quân đội bằng mọi cách. Ngày 23 tháng 12, 2012 cũng trên tờ Quân Ðội Nhân Dân phải đăng một bài khác nói rõ hơn, với tựa đề: “Không thể chấp nhận quan điểm quốc gia hóa quân đội,” ký tên Nguyễn Tiến Bình, một trung tướng, giám đốc Học Viện Quân Y. Không chấp nhận quốc gia hóa quân đội, Nguyễn Tiến Bình hô hào: “Quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng, phải bảo vệ các lợi ích của đảng!” Lời hô hào này lại càng cho thấy các lãnh tụ Ba Ðình đang lo lắng thật sự. Người Việt Nam nào bây giờ cũng biết đám cầm đầu đảng Cộng Sản, từ cao nhất đến cấp huyện, cấp xã, chỉ là một nhóm người vừa ngu dốt, bất lực vừa tham lam, bày ra mọi thủ đoạn bòn rút. Chính bọn người này gây ra tình trạng kinh tế yếu kém, giáo dục sa sút, đạo đức suy đồi, trong mấy chục năm qua.

Không một người nào có lương tâm lại chịu đóng vai làm tay sai đi “bảo vệ lợi ích” cho bọn quan chức “cướp ngày” này.

Trong một quốc gia tiến bộ, quân đội không bao giờ phải đóng vai tay sai của bất cứ một đảng chính trị nào cả. Ở các nước chưa tạo được tập quán dân chủ, có những lúc quân đội đảo chính để lật đổ một chính quyền không được lòng dân. Nhưng cuối cùng, các quân nhân cũng trao trả quyền hành cho các người lãnh đạo được dân bỏ phiếu bầu lên. Nam Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, vân vân, đã sống qua những thời kỳ quân đội nắm quyền. Nhưng cuối cùng quân đội cũng “rút về doanh trại,” để người dân quyết định chọn người lãnh đạo theo thể thức dân chủ. Gần đây nhất, năm 2006 các tướng lãnh Thái Lan đã đảo chánh lật đổ ông Thaksin, một vị thủ tướng bị tố cáo tham nhũng, lạm quyền. Nhưng chỉ trong một năm sau, người dân Thái Lan lại được cầm lá phiếu quyết định ai là người lãnh đạo quốc gia. Trong cuộc bầu cử năm 2011, đảng Pheu Thai lại thắng và cô em gái của ông Thaksin đã lên làm thủ tướng; mặc dù chính ông ta không dám về nước vì bản án về tội lạm quyền vẫn chưa được xóa bỏ.

Những nhóm quân nhân cầm quyền lâu nhất, sau cùng cũng phải rút về doanh trại, khi người dân ý thức được quyền tự do quyết định vận nước của họ. Tướng Suharto nắm quyền tại Indonesia hơn 30 năm, sau cùng bị dân nổi lên lật đổ. Hơn 10 sau đó nước Indonesia sống trong chế độ dân chủ tự do. Các tướng lãnh ở Miến Ðiện ý thức được sự bất lực của họ trước cảnh kinh tế suy sụp và lo sợ áp lực của Trung Quốc đè nặng, đang quay đầu về với dân, bước lên con đường dân chủ hóa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang lo ngại vì tin tức về tiến trình dân chủ hóa tại Miến Ðiện có thể khiến nhiều người trong quân đội cũng tự hỏi tại sao nước Việt Nam lại chịu thua người ta, toàn dân phải tiếp tục sống dưới một chế độ độc tài bất lực và thối nát! Trước đây, một quân nhân đã được đảng Cộng Sản đưa lên cầm quyền ở Ba Lan là Tướng Wojciech Jaruzelski, chính ông đã góp công dân chủ hóa đất nước khi mời một người thuộc Công Ðoàn Ðoàn Kết lập chính phủ.

Nỗi lo sợ của đảng Cộng Sản Việt Nam thúc đẩy tờ báo tuyên truyền nhắm vào quân đội phải lớn tiếng báo động: Không thể chấp nhận “quốc gia hóa quân đội!” Mục đích là bắt quân đội tiếp tục ngoan ngoãn làm tay sai cho nhóm người cầm đầu đảng.

Nhưng ngay ở trong nước đã có nhiều người chế nhạo những luận điệu hàm hồ của bài báo trên. Ngày 26 tháng 12, 2012 đã xuất hiện một bài trên Facebook Doan Phung Viet phê phán những lý luận và bằng chứng sai lầm của tác giả. Một sai lầm nặng nhất là khi Nguyễn Tiến Bình dẫn chứng các sắc lệnh do Hồ Chí Minh ký từ năm 1946: Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL.

Doan Phung Viet viết: “Tôi chỉ mới tra cứu sơ sơ đã thấy, ba sắc lệnh trưng dẫn, & cả ba không có điều, khoản nào đề cập đến chuyện ‘quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của đảng và phải bảo vệ lợi ích của đảng!’” Nói rõ hơn: Sắc lệnh số 71/SL ngày 22 tháng 3 năm 1946, quy định chi tiết về biên chế và cấp số của Ðại đoàn Quân đội Quốc gia Việt Nam. Sắc lệnh số 47/SL ngày 1 tháng 5 năm 1947, qui định về việc tổ chức bộ tổng chỉ huy. Sắc lệnh số 60/SL ngày 6 tháng 5 năm 1946, đổi tên ủy ban kháng chiến toàn quốc thành Quân sự Ủy viên hội.

Ai cũng thấy: Tên gọi đầu tiên của quân đội là “Quân đội Quốc gia” chứ không phải là “Quân đội của đảng Cộng Sản!”

Các sắc lệnh trên, Hồ Chí Minh ký khi vẫn còn đeo mặt nạ “quốc gia,” trong thời gian đảng Cộng Sản đã được Hồ chính thức tuyên bố “giải tán” để đóng trò yêu nước! Tất nhiên, trước khi được Trung Cộng viện trợ để tái lập đảng dưới tên đảng Lao Ðộng, Hồ không dám nói quân đội chỉ là tay sai của một đảng!

Nguyễn Tiến Bình còn viết khen ngợi Hồ Chí Minh là biết “mềm dẻo về sách lược” khi nói một đằng, làm một nẻo. Doan Phung Viet nhận xét: “Khen như thế còn độc địa, nham hiểm hơn là chửi đó! Cứ như bác viết thì chẳng lẽ đảng ta và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dùng Hiến pháp để bịp mọi người sao?”

Trong hai thế hệ, từ 1945 đến 1990, bao nhiêu thanh niên Việt Nam bị bịp hy sinh xương máu cho tập đoàn tham nhũng lên ngôi, để đất nước tới nỗi này!

Ðó là điều mà nhiều người trong quân đội tự đặt ra. Và họ thì thầm hỏi lẫn nhau: Không lẽ đến bây giờ lại để cho bọn Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, bịp bợm tiếp hay sao? Những người biết đặt câu hỏi đó được báo Quân Ðội Nhân Dân mô tả: “Suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong từng nơi, từng lúc, với mức độ khác nhau...” Những lời hô hào “Không chấp nhận quốc gia hóa quân đội! Quân đội phải bảo vệ các lợi ích của đảng!” là những lời hoảng hốt kêu cứu.

Ðúng là những lời kêu cứu. Bởi vì Nguyễn Tiến Bình lo sợ quân đội chỉ biết đến quốc gia, không biết đến đảng sẽ “làm cho đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền!” Bình đã đưa tấm gương sụp đổ của đảng Cộng Sản Liên Xô ra đe dọa. Khi chế độ Cộng Sản Liên Xô sụp đổ, “lúc đó quân đội Liên Xô còn 3.9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược...” Chỉ vì đảng không kiểm soát được quân đội nên Liên Xô tan rã.

Nguyễn Tiến Bình đã quên, là vào năm 1991 không phải chỉ có quân đội Nga lọt ra ngoài tầm tay của đảng Cộng Sản. Ngay cả tổ chức KGB khổng lồ toàn mật vụ và công an cũng biết chán chế độ rồi. Họ thấy dù họ được hưởng đủ thứ đặc quyền đặc lợi, nhưng cứ tiếp tục sống trong một chế độ bất lực và tham nhũng thì con cháu họ sẽ không có tương lai! Chính các sĩ quan KGB đã từ chối không đưa tay ra cứu những người đảo chính bảo vệ chế độ Cộng Sản, cho nên cuộc cách mạng ở Nga mới thành công.

Bài báo của Nguyễn Tiến Bình chứng tỏ đảng Cộng Sản Việt Nam đang lo sợ là quân đội sẽ thức dậy. Không ai có thể cúi đầu làm tay sai mãi mãi. Ðầu năm 2012 có mấy quân nhân trong huyện đội Tiên Lãng đã được đưa tới tham dự vụ cướp đất ở khu đầm cá do anh em ông Ðoàn Văn Vươn khai phá. Ngay sau đó, một số tướng lãnh cảm thấy cả tập thể quân đội phải chịu nỗi nhục đi cướp đất của dân, đã lên tiếng phản kháng.

Quân đội còn cảm thấy nhục nhã hơn nữa, trước cảnh đảng Cộng Sản Việt Nam nhu nhược chịu khuất phục và bám lấy Trung Cộng. Khi các ngư dân Việt Nam bị bắn, giết, bắt cóc; khi các con tàu Việt Nam bị cắt dây cáp, người dân đều hỏi: “Thế quân đội mình đang ở đâu?”

Hàng triệu quân nhân nhìn nhau không biết trả lời sao! Dân Việt Nam còn tiếp tục biểu tình chống Trung Cộng, sẽ tới ngày lực lượng công an cũng không đủ để đàn áp. Nếu tập thể quân đội ý thức được rằng họ không phải là tay sai của một nhóm người nào, mà chỉ có bổn phận bảo vệ lợi ích của toàn dân, thì họ sẽ không bao giờ quay họng súng bắn dân để “bảo vệ các lợi ích của đảng” như lời kêu gọi của Nguyễn Tiến Bình.

Các chế độ độc tài chuyên chế chắc chắn sẽ sụp đổ, dù cộng sản hay không cộng sản. Loài người đang cùng nhau tiến trên con đường tự do dân chủ, không có đường nào khác. Trong mọi quốc gia văn minh, quân đội là của nhân dân, của đất nước. Những người quân nhân tự trọng không bao giờ cúi đầu làm tay sai cho một đảng phái nào cả! Dân Việt Nam không ngu đến nỗi không biết điều đó. Dân Việt Nam không hèn đến nỗi cứ cúi đầu chịu nhục mãi.

26 thg 12, 2012

AI THẮNG? AI THUA?

Trần Trung Chính

Bàn luận về sắc đẹp của phụ nữ, chúng ta thường được nghe những mại viên của ngành cosmetics cũng như các chuyên viên trang điểm cho phụ nữ cho rằng: “Không có phụ nữ nào xấu cả, chỉ có những người chưa được đẹp vì họ chưa biết trang điểm”.

Phản bác một phần của nhận định này , cá nhân người viết bài này cho rằng: “thực tế có một số phụ nữ thật sự xấu không phải vì họ không biết trang điểm mà là vì họ đã trang điểm nhiều rồi mà nhan sắc của họ vẫn chưa thể đẹp lên được chút nào cả. Thí dụ: Thị Nở - girl friend của Chí Phèo trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao hay hoặc Chị Doãn được nhà văn Vũ Trọng Phụng mô tả “Chị Doãn có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp giai”.

Ông bạn thân của tôi – nhà văn Trần Văn Giang – còn chua chát hơn khi cho rằng: “thực tế có một số phụ nữ thật sự xấu nhưng vẫn chưa chịu nhìn nhận là mình xấu !!!”

Thời gian gần đây, nhà báo Huy Đức đã phóng lên mạng phổ biến quyển sách với tựa đề BÊN THẮNG CUỘC và “phe ta” đã lên tiếng đáp trả khá sôi động. Tôi viết bài viết này để chứng minh BÊN THẮNG CUỘC không phải là phía Việt Cộng mà nhà báo Huy Đức được các “bề trên “của ông ủy thác tâm sự hay nhà báo Huy Đức ghi nhận các sự kiện theo cách riêng của ông. Cũng như các phụ nữ thật sự xấu nhưng vẫn chưa chịu nhìn nhận mình là xấu, Việt Cộng chưa bao giờ nhìn nhận họ là BÊN THUA CUỘC. Sử Ký là ghi lại những sự kiện (facts), không ai có quyền và không ai có tư cách để sửa đổi sự kiện lịch sử, nhưng những thông tin tôi đưa vào bài viết này là những facts mà không thấy “phe ta” nêu ra trên diễn đàn, và tôi tin chắc rằng phía Việt Cộng sẽ thay đổi ý kiến (opinion) hoặc im lặng để ngậm ngùi cho thân phận “con ếch mà cứ muốn to bằng con bò”.

1.- Chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953 , khi Thống Tướng Mac Arthur chỉ huy 280,000 quân Liên Hiệp Quốc (trong đó có 250,000 binh sĩ Hoa Kỳ) đổ bộ Inchon bắt được hơn 130,000 quân Bắc Hàn và đẩy lui quân Bắc Hàn đến tận sông Áp Lục, Mao Trạch Đông chỉ thị nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy 1 triệu chí nguyên quân Trung Hoa tràn sang Triều Tiên đẩy lùi quân Liên Hiệp Quốc xuống vĩ tuyên 38. Thống Tướng Mac Arthur trình kế hoạch tấn công Trung Cộng vào sâu trong lục địa, Tổng Thống Harry Truman biết kế hoạch của tướng Mac Arthur chỉ đúng về mặt quân sự, ông cất chức tướng Mac Arthur triệu hồi về Mỹ và bổ nhiệm tướng Ridgway lên thay vì ông không muốn sa lầy vào chiến trường Triều Tiên (kinh nghiệm 1 triệu quân Quan Đông của Nhật Bản rải vào Trung Hoa chả thấm vào đâu mà chỉ giữ được một số tỉnh ven biển) và khi sa lầy ở Trung Hoa thì Hoa Kỳ sẽ mất Âu Châu vào tay Staline. Cù cưa mà chả bên nào lấn chiếm thêm được nữa nên Hiệp Định ngưng chiến Bàn Môn Điếm ra đời. Cả 2 nước Nam – Bắc Triều Tiên khi ngưng bắn vào năm 1953 vẫn còn trong tình trạng chiến tranh cho đến tận bây giờ (2012). Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai cũng như Đảng Cộng Sản Trung Hoa cảm thấy thất vọng vì Hoa Kỳ vẫn không công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Và cũng không thèm đối thoại với các lãnh tụ Trung Cộng trên bình diện ngoại giao chính thống.

2.- Chiến tranh Việt Pháp từ năm 1946 đến 1954 đưa Trung Cộng đến Hội Nghị Geneve , nhưng Trung Cộng vẫn không tiến triển thêm được bước nào trong mục tiêu được Hoa Kỳ công nhận.. Tháng 5/1972 khi Tổng Thống Richard Nixon đến Bắc Kinh, chính Thủ Tướng Chu Ân Lai tiết lộ chi tiết bị người Mỹ coi thường vào năm 1954 ở Hội Nghị Geneve: Chu Ân Lai lúc đó là Thủ Tướng kiêm Ngoai Trưởng của Trung Cộng đến phòng họp trước Ngoại Trưởng Dulles của Hoa Kỳ, khi Dulles đến, Chu Ân Lai tươi cười dơ tay trước. Ngoại Trưởng Dulles mặt nghiêm bước vào phòng họp mà không bắt tay Chu Ân Lai, khi đi ngang Chu Ân Lai ông này quay mặt nhìn ngang sang Chu Ân Lai rồi bước vào phòng họp nói chuyện với Ngoại Trưởng Liên Sô là Molotov và Ngoại Trưởng Anh là Sir Anthony Eden: Chu Ân Lai thừa hiểu là Dulles coi Trung Cộng là tay sai của Liên Sô nên Dulles chỉ nói chuyên với boss của Chu Ân Lai là Molotov . 10 năm sau, Tổng Thống Pháp là tướng Charles De Gaulle vì kèn cựa với Hoa Kỳ nên năm nào cũng đề nghị cho Trung Cộng gia nhập Liên Hiệp Quốc (với sự đồng thuận và hỗ trợ của Liên Sô) nhưng Hoa Kỳ vẫn nói KHÔNG. Và Trung Cộng cũng đành bó tay không có cách nào khác.

3.- Chiến tranh Việt Nam từ năm 1965 (tôi lấy thời điểm này làm mốc vì quân đội Hoa Kỳ chính thức vào Việt Nam qua văn thư yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát) đã khiến Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ là Henry Kissinger đến Bắc Kinh. Mao Trạch Đông , Chu Ân Lai và Đảng Cộng Sản Trung Hoa vui mừng “không còn chỗ nói”, vì qua bản thông cáo Thượng Hải 1972 Trung Cộng đạt được 3 mục tiêu chiến lược:

A ) Được Hoa Kỳ thừa nhận là một “thực thể quốc gia” (trước đó Hoa Kỳ chỉ coi chính quyền Trung Cộng là một “thực tế” ) cho nên sẽ có thiết lập bang giao với sứ thần đàng hoàng chứ không còn nhờ một quốc gia khác đại diện bảo vệ quyền lợi .

B ) Hoa Kỳ đồng ý cho Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa gia nhập Liên Hiệp Quốc thay thế cho Trung Hoa Dân Quốc, có quyền phủ quyết như trong Hiến Chương San Francisco quy định (mục tiêu này mãi tới 21 năm kể từ 1949, Trung Cộng mới đạt được ) .

C ) Hoa Kỳ công nhận chỉ có một nước Trung Hoa duy nhất ( nhiều người tưởng là Hoa Kỳ ngu dại khi công nhận điều khoản này, trong khi Hoa Kỳ thừa biết là Trung Cộng muốn tiến đánh Đài Loan bằng vũ lực thì phải có một hải lực cực mạnh, mặt khác vì Tổng Thống Tưởng Giới Thạch dù thực tế chỉ giữ được Đài Loan nhưng ông vẫn có một Quốc Hội đại diện cho 18 tỉnh của Trung Hoa Lục Địa và ông cho rằng chiếc ghế của Trung Hoa Dân Quốc đại diện cho nước Trung Hoa. – [nên nhớ rằng năm 1943, khi họp tại Yalta, các lãnh tụ phe Đồng Minh bàn định về kế hoạch chấm dứt Thế Chiến II và tương lai của thế giới sau khi chiến tranh chấm dứt, 4 lãnh tụ đó là: Tổng Thống Roosevelt của Hoa Kỳ , Thủ Tướng Churchil của Anh Quốc, Chủ Tịch Staline của Liên Sô và Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa , nước Pháp không có đại diện vì không được mời họp ] ) Khi Tổng Thống Lý Đăng Huy của Quốc Dân Đảng là người Đài Loan lên cầm quyền, thì thế hệ của Tưởng Giới Thạch – Tưởng Kinh Quốc đã qua đời, nếu Trung Cộng tiến đánh Đài Loan bằng vũ lực thì danh hiệu Trung Hoa Dân Quốc sẽ không còn và sẽ trở thành Cộng Hòa Đài Loan đồng thời Cộng Hòa Đài Loan sẽ chính thức xin gia nhập Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ sẽ can thiệp vì Trung Cộng đã xâm lăng một quốc gia khác) .

Tuy tự công nhận là BÊN CHIẾN THẮNG trong chiến tranh Việt Nam, nhưng Trung Cộng không ồn ào khoe rùm beng như phía Việt Cộng vì cả Mao Trạch Dông và Chu Ân Lai đều hiểu rằng 2 kẻ chơi cờ đấu trí với nhau trên bàn cờ thế giới lúc bấy giờ là Hoa Kỳ và Liên Sô. Việc Hoa Kỳ không phải tự nhiên ban cho Trung Cộng nhiều đặc ân mà chính là Hoa Kỳ đã sử dụng Trung Cộng như một con cờ nhằm “chiếu bí” Liên Sô và Mao Trạch Đông + Chu Ân Lai chấp nhận vai trò ấy trong tinh thần “đôi bên cùng có lợi”.

Phía Việt Cộng do các đàn anh “phỉnh gạt” và cũng hay “nổ bậy để dương oai” để lòe và lường gạt dân Việt nên lúc nào cũng rêu rao là “Cách Mạng Việt Nam đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” (khi xưa, thất bại thì hô lên do Mỹ - Ngụy phá hoại , bây giờ thì nói bâng quơ là do “thế lực thù địch” không dám nêu đích danh quốc gia hay chính phủ nào cả ). Tôi liệt kê vào bài viết này những mất mát và thua thiệt của Việt Cộng để chứng minh rằng Việt Cộng chỉ là những kẻ THUA CUỘC trên bàn cờ thế giới. Dĩ nhiên phía Việt Cộng (trong đó có nhà báo Huy Đức) và cả “phe ta” đều thắc mắc là chính phủ VNCH sụp đổ , quân nhân cán bộ và viên chức chính quyền VNCH bị cầm tù đày đọa trong nhiều năm trời (trong đó có cá nhân người viết bài này cũng bị cầm tù 8 năm), dân chúng của miền Nam bị kỳ thị, bị xua đuổi ra khỏi thành phố và phải vượt thoát khỏi sự cai trị hà khắc của Việt Cộng…thì không phải là PHÍA THUA CUỘC thì là phía gì ?

Việt Nam Cộng Hòa (bao gồm chính phủ và nhân dân VNCH) không phải là phía “play game” trong chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975, chúng ta bị buộc phải tham chiến để bảo vệ lãnh thổ và sinh mạng người dân như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trước lưỡng viện Quốc Hội VNCH khi ông từ chối bước vào hòa đàm Paris năm 1968 dưới thời Tổng Thống Lyndon Johnson: “chúng ta thà rằng chết bây giờ để hy vọng rằng con cháu chúng ta được sống…”. Ba cuộc tấn công lớn trong những năm 1968 Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa trong năm 1972, cũng như cuộc Tổng Tấn Công vào đầu năm 1975 đều hoàn toàn do Bắc Việt chủ trương với sự yểm trợ tối đa về vũ khí của khối Cộng. Và biến cố 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra vì Hoa Kỳ không muốn play game nữa, trong khi quân dân VNCH đã chiến đấu tận tình trong khả năng và ý chí của mình.

Những ai trách móc Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm …phải có trách nhiệm để làm mất VNCH là nói bậy, ăn theo bả tuyên truyền của Việt Cộng: vì muốn đem lại hòa bình thật sự cho toàn cõi Việt Nam, thì phải tiêu diệt kẻ đi xâm lược là Bắc Việt, các vị lãnh đạo VNCH không ai có khả năng tiêu diệt Việt Cộng (tức là đánh gục Bắc Việt) cho nên tôi rất thương cảm các vị lãnh đạo của VNCH. Người lãnh đạo giỏi thì chông cự quân xâm lăng được lâu, người lãnh đạo dở thì chống cư với thời gian ngắn hơn. Đối với tôi,khi gặp những kẻ chê trách các vị lãnh đạo VNCH, tôi chỉ hỏi cá nhân hay phe nhóm của những kẻ đó hãy kể cho tôi nghe những nỗ lực giữ nước của họ, thì những kẻ này bỏ đi vì họ và phe nhóm của họ NOTHING TO DO (ấy là chưa kể họ và phe nhóm của họ dấu diếm và chứa chấp Việt Cộng trong nhà như là một hình thức “đâm sau lưng chiến sĩ” ).

Sự thua thiệt thứ nhất: Hồ chí Minh cướp chính quyền trong tay của chính phủ Trần Trọng Kim, tuyên bố độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 nhưng không có một cường quốc nào công nhận cả ( kể cả Liên Sô là nước khai sinh ra chế độ Cộng Sản). Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam khoác lác tuyên truyền và sửa lịch sử rằng họ cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp trong khi thực tế cho thấy rằng khi quân đội Nhật đảo chính quân Pháp tại Đông Dương vào tháng 3 năm 1945 thì tất cả viên chính hành chánh và quân đội Pháp đều bị bắt giam hết cả: thực dân Pháp đâu còn nắm chính quyền nữa thì lấy đâu ra chính quyền trong tay thực dân Pháp để cho Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam cướp !!!

Đối với Anh Mỹ , qua cơ quan OSS và tài liệu của Sở Liêm Phóng Đông Dương, họ biết Hồ chí Minh là một tên Cộng Sản đệ tam quốc tế. Còn Staline thì cho rằng Hồ chí Minh là tay sai của Mao Trạch Đông nên Liên Sô không ủng hộ ( Staline nhận định quá chính xác vì quả thực Hồ chí Minh là tay sai của Mao Trạch Đông mặc dù mồm miệng vẫn ca tụng Staline ) . Vả lại hội nghị Postdam xảy ra ngay sau khi Hitler tự sát và nước Đức Quốc Xã đầu hàng vào tháng 5/1945 đã phân định trách nhiệm và địa phận của các nước thắng trận trước khi nước Nhật đầu hàng vào tháng 8/1945.

Vì Việt Nam không được các cường quốc công nhận sự độc lập vừa mới tự xưng nên khi quân đội Trung Hoa của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch (do tướng Lư Hán chỉ huy ) vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra và quân đội Anh (do tướng Gracey chỉ huy) vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào thì Hồ chí Minh không dám đưa ra bất kỳ lời phản đối nào. Tướng Charles de Gaulle – thủ lãnh của nước Pháp Tự Do – vận động riêng với Thủ Tướng Churchill của Anh cho phép quân Pháp theo chân quân Anh vào Sài Gòn (quân Pháp do tướng Lecler chỉ huy). Tôi không thấy Hồ chí Minh và Bộ Ngoại Giao của nước VNDCCH đưa ra được một công hàm ngoại giao nào để lên tiếng phản đối về sự can thiệp của các lực lượng ngoại nhập vào công việc nội bộ của một nước độc lập tự chủ ? Như vậy chứng tỏ Hồ chí Minh và chính quyền của nước VNDCCH không hề có một thể diện nào trên chính trường thế giới. Khi quân đội Anh làm xong nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật, tướng Gracey rút quân Anh ra khỏi Việt Nam thì quân đội Pháp do tướng Lecler chỉ huy vẫn ở lại miền Nam, thì chiến tranh Việt – Pháp là điều không thể tránh được.

Sự thua thiệt thứ hai: năm 1949, sau khi đuổi được phe Quốc Dân Đảng phải chạy ra Đài Loan, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Trung Hoa tiến chiếm toàn bộ Trung Hoa Lục Địa, Trung Cộng liền viện trợ ồ ạt cho binh đội của Việt Minh. Năm 1950, Tướng Võ Nguyên Giáp đã đủ sức mở các cuộc tấn công quân đội Pháp dọc theo biên giới Hoa – Việt: quân khu Lạng Sơn của Pháp bị thất thủ rơi vào tay quân đội Việt Minh và chính phủ Pháp phải đưa Thống Tướng De Lattre Tassigni làm Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh Pháp tại Đông Dương đồng thời tăng cường thêm viện binh như Thống Tướng De Lattre yêu cầu (không kể lính tráng người Việt Nam, quân số quân đội viễn chinh Pháp dưới thời Thống Tướng De Lattre chỉ huy lên tới 220,000 người).

Là một tướng giỏi, Thống Tướng De Lattre đã đẩy lui quân đội Việt Minh trên nhiều mặt trận kể cả trận Hòa Bình, người con trai duy nhất của ông là Trung Úy Bernard De Lattre bị tử thương tại trận này. Nhưng ông biết rằng nước Pháp không đủ sức để đối đầu với Trung Hoa vĩ đại , nên sau khi biết Đại Tướng Eisenhower đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1952 – 1956, ông sang Hoa Kỳ vận động tân Tổng Thống Eisenhower trợ giúp nước Pháp. Về mặt cầu viện Hoa Kỳ, chính phủ Pháp đã tỏ ra là một chính phủ lãnh đạo kém: Ngoại Trưởng hay Thủ Tướng Chính Phủ sao không đi Hoa Kỳ làm công việc ngoại giao mà phải để một ông tướng đương nhiệmTư Lệnh chiến trường Đông Dương phải đi Washington D.C. trong lúc chiến trường đang trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng cần sự có mặt liên tục của Thống Tướng De Lattre ? Phải chăng chính phủ Pháp lợi dụng sự thân tình giữa Đại Tướng Eisenhower và Thống Tướng De Lattre trong thời gian Đại Tướng Eisenhower làm Tổng Tư Lệnh quân đội Đồng Minh đánh lại quân của Hitler và Mussolini hồi trước năm 1945 ? Điều đó không sai khi Hoa Kỳ đồng ý viện trợ vũ khi, quân trang, quân dụng cho quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương.

Tổng Thống Eisenhower gợi ý là nước Pháp nên trao trả độc lập cho Việt Nam (dĩ nhiên trao cho người quốc gia chứ không phải trao cho cán bộ Cộng Sản như Hồ chí Minh) và quân đội Pháp – do sự yêu cầu của chính quyền độc lập tự chủ chiến đấu tại chiến trường Đông Dương để ngăn chặn Cộng Sản như Hoa Kỳ đã làm tại chiến trường Cao Ly hồi 1950 – 1953. Thống Tướng De Lattre ghi nhận ý kiến của Tổng Thống Eisenhower, ông cũng cho Tổng Thống Mỹ biết là ông không có ảnh hưởng gì nhiều đến chính trường Pháp, tuy nhiên ông hứa là ông sẽ vận động trong chính giới Pháp. Từ Hoa Kỳ, Thống Tướng De Lattre trở lại Đông Dương ngay, và chỉ một thời gian sau đó ông phải trở về Pháp để chữa bệnh ung thư rồi chết tại Pháp mà chưa có kịp vận động hay thuyết phục chính giới Pháp gì hết !!!

Với các thông tin này, chúng ta thấy rằng nếu Hồ chí Minh là người quốc gia thì nước Việt Nam của chúng ta đã được Hoa Kỳ - Anh – Pháp ủng hộ từ lâu và sẽ không có chiến tranh, đổ vỡ, tan nát và chia rẽ như hiện nay: các nước Đông Nam Á cựu thuộc địa như Indonesia, Malaysia, Philippines …vì không có Cộng Sản nên được trao trả độc lập, an hưởng thái bình và xây dựng quốc gia phú cường. Do đó Đảng Cộng Sản Việt Nam và các đảng viên Việt Cộng lúc nào cũng lớn lối về lòng tự hào “đánh thắng nhiều tên đế quốc” mà không bao giờ tự hỏi “đánh thắng để được cái gì ” chứ ?

( Có lẽ để đạt danh hiệu “anh hùng Xã Hội Chủ Nghĩa” hão huyền chăng, ký giả Huy Đức là người trưởng thành trong XHCN có thể giải thích hiện tượng “thích làm anh hùng” để người Việt tỵ nạn Cộng Sản hiểu thêm về con người Cộng Sản !!!”

Sự thua thiệt thứ ba: khi cầm tù được tướng De Castries và khoảng hơn 10.000 binh sĩ Pháp tại thung lũng Điện Biên Phủ, Đảng Cộng Sản Việt Nam tự ca lên rằng đã đánh gục và đuổi được Đế Quốc Pháp để dành được độc lập cho Việt Nam. Tôi nói quân đội Việt Minh cầm tù được tướng De Castries vì trong bức điện cuối cùng gửi cho Bộ Tư Lênh Quân Đội Pháp đóng tại Hà Nội, tướng Castries cho hay ông đã ra lệnh cho toàn thể binh sĩ dưới quyền trú đóng tại cứ điểm Điện Biên Phủ “ngưng chiến đấu” . 2 bức hình – do phía Việt Cộng chụp – đã minh chứng điều này: một bức hình chụp từ phía sau một cán binh Việt Cộng cho thấy anh này đang cầm cờ trắng chạy lên cắm tại nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries chớ tướng De Castries không có cắm cờ trắng trên hầm chỉ huy của ông. Bức hình thứ hai chụp tướng De Castries từ trong hầm chỉ huy bước ra, ông không có dơ 2 tay lên cao khỏi đỉnh đầu thì sao Việt Cộng dám bảo là tướng De Castries đầu hàng ?

Chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Minh không phải là chiến thắng trọn vẹn vì sự sụp đổ của căn cứ Điện Biện Phủ chỉ đánh sập được ý chí chiến đấu của chính phủ Pháp và nhân dân Pháp chứ quân đội Pháp tại chiến trường Đông Dương vẫn giữ vững được các cứ điểm trọng yếu khác. Nhà báo Huy Đức cũng như các “bề trên” trong Đảng Cộng Sản Việt Nam chắc chắn không biết câu châm ngôn danh tiếng của binh đoàn Lê Dương: “nước Pháp không hỏi bạn từ đâu đến, thì bạn cũng đừng bao giờ hỏi nước Pháp sẽ đưa bạn đi đâu”. Một người chú họ xa của tôi, sau năm 1975, vào Sài Gòn có kể một câu chuyện về tính liêm sỉ của một người Đức – nguyên là lính SS của chế độ Quốc Xã sau năm 1945 tình nguyện vào binh đoàn Lê Dương – người lính Lê Dương này dù quân số ít hơn vẫn không chịu đầu hàng, sau cùng bị thương nặng ngất xỉu thì bị bắt làm tù binh. Sau khi được cứu chữa tỉnh dây, sĩ quan quân báo của Việt Minh đến hỏi lý do tại sao không đầu hàng để được sống, người lính Lê Dương gốc Đức này trả lời khiến mọi người ngạc nhiên: “tình nguyện vào binh đoàn Lê Dương tức là lính đánh thuê, tao mà đầu hàng thì về sau ai mà thuê người Đức làm lính đánh thuê nữa”.

Việt Cộng và Trung Cộng thì chê tướng Navarre (cha đẻ ra cứ điểm Điện Biên Phủ) là dở vì 16,000 quân Pháp nằm dưới thung lũng sẽ ăn đạn pháo mà chết không thể phản pháo được. Khi thiết lập căn cứ Điện Biên Phủ, tướng Navarre biết điều đó nhưng đây là chiến thuật “cục đường nhử đàn kiến”, 16,000 quân của Đại Tá De Castries nằm dưới thung lũng Điện Biên Phủ đã quyến rũ được 40,000 quân Việt Minh của tướng Võ Nguyên Giáp (không kể số dân quân đi tải vật liệu và trnag cụ vũ khí). Quân của tướng Võ Nguyên Giáp sẽ bị tiêu diệt bởi lực lượng Không Quân Chiến Lược của …Hoa Kỳ (vì không lưc của Pháp tại Đông Dương yếu lằm) . Khi căn cứ Điện Biên Phủ vừa bị tấn công, quân đội Pháp tại Đông Dương trông chờ tiếp cứu từ Không Lực Hoa Kỳ nhưng vì chính phủ Pháp vẫn còn đầu óc thực dân không chịu trao trả độc lập cho người quốc gia Việt Nam nên chính phủ Hoa Kỳ không muốn ủng hộ Đế Quốc Pháp để duy trì tình trạng thuộc địa tại Đông Dương.

Các hồ sơ được giải mật sau này cho thấy là Tổng Thống Eisenhower đã nói với đại diện chính phủ Pháp là Hoa Kỳ sẽ tham chiến nếu đồng minh Anh Quốc cũng đồng ý như vậy, trong khi đó Thủ Tướng Churchill trả lời với Thủ Tướng Daladier là: “nước Anh đã trao trả độc lập cho thuộc địa Ấn Độ từ năm 1947, thì không có lý do gì lại đi giúp nước Pháp để duy trì thuộc địa tại Đông Dương” . Như vậy sự sụp đổ của cứ điểm Điện Biên Phủ là do chính phủ Pháp chứ không phải do tướng lãnh và quân đội Pháp. Sau khi căn cứ Điện Biên Phủ sụp đổ, Thủ Tướng Daladier từ chức và chính khách Mendes France lên thay thế với khẩu hiệu “phải ký cho được một thỏa ước ngưng chiến với Việt Minh trong tháng 7/1954, nếu không được, chính phủ của tôi sẽ ra đi”.

Sự thua thiệt thứ tư: Tình hình căn cứ Điện Biên Phủ sắp tới hồi kết thúc, thì Thủ Tướng Bửu Lộc của chính phủ Quốc Gia Việt Nam từ chức, ông Ngô Đình Diệm lên thay thế. Tại hội nghị Geneve 1954, trưởng phái đoàn của chính phủ Quốc Gia Việt Nam lúc bấy giờ là luật sư Nguyễn Quốc Định được thay thế bởi ngoại trưởng Trần Văn Đỗ ( bác sĩ Trần Văn Đỗ là em trai của Luật Sư Trần Văn Chương, là chú ruột của bà Ngô Đình Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân). Khi mới sang Geneve, ông Phạm Văn Đồng có hỏi ngoại trưởng Trần Văn Đỗ là có nhận chỉ thị gì của chính phủ Sài Gòn về việc chia cắt đất nước Việt Nam hay không ? Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ trả lời là ông không có chỉ thị nào về việc này và cũng không nghe dư luận bên ngoài chính phủ bàn tán gì về việc chia cắt đất nước.

Thời gian sau đó, ngoại trưởng Trần Văn Đỗ mới biết là các đại cường đồng ý với việc chia cắt Việt Nam ra làm 2 , chỉ còn bàn cãi là cắt ở đoạn nào mà thôi. Phía Việt Cộng muốn lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới ( tức là toàn thể tỉnh Thừa Thiên tới sát Đèo Hải Vân), phía Pháp muốn lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới hoặc nếu Việt Minh muốn lấy tới vĩ tuyến 16 thì phải nhường hành lang Bùi Chu – Phát Diệm – Nam Định cho Pháp. Molotov cho Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng hay rằng Liên Sô có kinh nghiệm cay đắng về hành lang Tây Đức nối với Tây Bá Linh nên phía Liên Sô cảnh báo là không nên nhận giải pháp này vì “lợi bất cập hại”. Phía Mỹ thì không có ý kiến vì phái đoàn Mỹ đến Geneve trong vai trò giám sát và bảo chứng cho việc ký kết một hiệp định ngưng bắn giữa Pháp và Việt Minh. Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ điện về Sài Gòn báo cáo tình hình hình cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và xin chỉ thị về việc chia cắt đất nước. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chỉ thị cho ngoại trưởng Trần Văn Đỗ phản đối việc chia cắt đất nước Việt Nam và phía chính phủ của Quốc Gia Việt Nam sẽ không ký vào hiệp định Geneve 1954 .

Sau khi Đặng Tiểu Bình dạy cho Việt Cộng một bài học vào năm 1979, Ban Lãnh Đạo của Đảng CSVN mới công bố Sách Trắng về Trung Quốc, thì nhân dân miền Bắc và các đảng viên cấp dưới mới biết rằng chính Chu Ân Lai thúc ép Hồ Chí Minh và Phạm văn Đồng phải nhận Bắc Việt ( nói theo kiểu dân chơi trong giới giang hồ: “thế là mất mẹ miền Nam cho bọn Mỹ - Ngụy). Ông Huy Đức và những người có ăn học hiểu biết trong XHCN có bao giờ thắc mắc đặt câu hỏi là: tại sao đang thắng lớn mà lại không tiếp cuộc chiến để dành hoàn toàn độc lập cho VN ? Tại sao lại chịu nhận làm chủ chỉ có một nửa nước để rồi 6 năm sau phải thành lập MTGPMN và phải đợi tới 15 năm sau mới “giải phóng” toàn bộ VN với tổn thất riêng miền Bắc không thôi cũng đã lên tới con số suýt soát 3 triệu người ? Câu trả lời chắc chắn chỉ có Đảng CSVN mới đủ kích thước và tư cách để trả lời.

Sự thua thiệt thứ năm: từ năm 1969, phái đoàn Bắc Việt cãi chầy cãi cối, cãi lòng vòng rất mất thì giờ về bàn vuông, bàn tròn, bàn hình chữ nhật… với mục đích là để được nói chuyện tay đôi với Hoa Kỳ nhằm chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam .

Nhưng tới năm 1972, Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ là Henry Kissinger đi thăm Liên Sô và Trung Cộng,, thì không một ai trong hàng ngũ lãnh đạo của Bắc Việt lại chịu hiểu rằng số phận cả nước Việt Nam được định đọat tại điện Kremlin và khu biệt thự có tên gọi là Trung Nam Hải., chứ không phải được định đoạt tại hòa đàm Paris. Hiệp Định Paris năm 1973 là một “bẫy rập”, nhằm giúp Hoa Kỳ rút chân ra khỏi Đông Dương, miếng mồi béo bở mà Hoa Kỳ đặt trong bẫy này là điều 21B trong bản Hiệp Định: “Hoa Kỳ sẽ viện trợ 3 tỷ dollars cho Việt Nam nếu các bên tuân thủ các điều ký kết. Quyền tự quyết của nhân dân phải do nhân dân Việt Nam quyết định bằng lá phiếu bầu cử…” (hay đại loại gần giống như thế vì tôi không trích nguyên văn điều khoản này )

Khi Việt Cộng dứt điểm VNCH bằng vũ lực, tức là phía Việt Cộng ngang nhiên xé bỏ bản Hiệp Định Paris 1973 do chính họ đặt bút ký thì Hoa Kỳ đã có lý do để “xù nợ” tức là không viện trợ cho Việt Nam một xu nào hết mà bọn lãnh tụ Việt Cộng không thể kiện cáo vào đâu được. Nên nhớ là vào năm 1976, sau khi thống nhất 2 miến, chính quyền Việt Cộng kiểm kê dân số Việt Nam được 45 triệu người và tổng sản lượng quốc gia là 4 tỷ dollars, do vậy số tiền 3 tỷ dollars đối với chính quyền Việt Cộng là một số tiền rất lớn ( Cũng qua tờ báo Nhân Dân in tại Hà Nội, trong trại tù chúng tôi được biết rằng dòng họ Morgan có tích sản 170 tỷ dollars, được xếp hạng nhất tại Hoa Kỳ, dòng họ Rockefeller có tích sản 127 tỷ dollars được xếp hạng nhì, trong khi tồng sản lượng quốc gia GNP của Hoa Kỳ là 2,000 tỷ dollars. Nêu ra chi tiết để ký giả Huy Đức và các “bề trên” trong Đãng CSVN thấy rằng, tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam không bằng số lẻ của tích sản dòng họ Rockefeller)

Nếu ký giả Huy Đức và các đảng viên Đảng CSVN cứ ngoan cố cho rằng Việt Cộng là BÊN THẮNG TRẬN thi tôi yêu cầu ký giả Huy Đức hãy đưa ra những thành quả cụ thể mà phía Việt Cộng thủ đắc được sau khi cướp đoạt được miền Nam bằng vũ lực, dĩ nhiên thành quả cụ thể phải tính bằng tiền chứ nói thành quả chung chung như Việt Cộng đã nói từ hơn 50 năm qua, là điều người đọc không chấp nhận được.

Trung Cộng sẽ xâm chiếm Việt Nam và nếu họ chiến thắng Việt Cộng và cai trị toàn cõi Việt Nam, liệu ký giả Huy Đức và những “bề trên” cao cấp trong Đảng CSVN có đủ liêm sỉ để ca ngợi mấy anh Ba Tàu Đỏ là BÊN THẮNG CUỘC hay không ? Nếu có thì tiếp tục giữ tựa đề quyển sách này, nếu không thì có lẽ tựa đề VIỆT NAM ƠI ! HÃY KHÓC LÊN ĐI QUÊ HƯƠNG YÊU DẤU là thích hợp nhất.

Trần Trung Chính

San Jose ngày 25 tháng 12 năm 2012

12 THÁNG ANH ĐI