Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

26 thg 2, 2014

Công an Ukraine quỳ gối xin tha lỗi

Ngô Nhân Dụng

Nhân dân Ukraine thắng, cựu Tổng Thống Viktor Yanukovych thua, đang chạy trốn. Hơn ba tháng trước đây, cả ông Yanukovych và những người chống ông, không ai ngờ chuyện có ngày xảy ra. Bắt đầu, là một cuộc biểu tình nho nhỏ. Tháng 11 năm 2013, Tổng Thống Yanukovych bất ngờ tuyên bố ngưng bàn thảo về bản hiệp ước thương mại với Liên Hiệp Âu Châu (EU) mà hai bên đang chuẩn bị ký kết. Mấy trăm người, đa số là sinh viên, xuống đường phản đối. Họ không đòi ông tổng thống từ chức, chỉ đòi ông trở lại với chính sách thân thiện với EU mà nước Ukraine đã theo đuổi từ sau khi độc lập.

Tại sao các bạn trẻ này nổi giận? Có phải vì họ tính toán, thấy liên kết kinh tế với Châu Âu thì lợi hơn hay không? Chưa chắc. Nhưng họ đã thấy cảnh ông Yanukovych sang Nga bí mật gặp Tổng Thống Vladimir Putin, được Putin hứa cấp viện 15 tỷ đô la; khi về nước lập tức đổi chiều chữ U, cắt đứt liên hệ với Âu Châu. Chắc nhiều người cảm thấy nhục! Ukraine mới được độc lập từ năm 1990, sau nhiều thế kỷ bị các Nga hoàng thống trị, rồi bị nhập vào Liên Bang Xô Viết. Các hoàng đế Nga, trắng và đỏ, đã tìm cách tiêu diệt văn hóa Ukraine, di dân Nga sang đó; lưu đày các nhà chính trị, giới trí thức và văn nghệ sĩ lên Siberia nếu họ chống lại. Stalin dùng dân Ukraine làm thí nghiệm tập thể hóa nông nghiệp, khiến mươi triệu người chết đói. Người Ukraine nghĩ về chính phủ Nga cũng giống như người Việt Nam đối với các chính phủ bên Tàu. Hai đợt “cải tạo,” và “thanh trừng” của Stalin, (năm 1929-34 và 1936-38) đã giết chết gần 700,000 dân Ukraine. Trong đó đã giết 80% giới trí thức, văn nghệ; và ba phần tư các sĩ quan cao cấp. Vâng lệnh Putin quyết định tách xa Châu Âu khiến Yanukovych bị dân Ukraine khinh thường. Biểu tình đòi giao thương với Châu Âu là một cách bày tỏ thái độ với chính phủ Nga!

Nhưng chỉ có các sinh viên tỏ thái độ; các chính trị gia đối lập không tổ chức cuộc biểu tình. Nhiều lãnh tụ đối lập cũng vẫn muốn thân thiện với Nga. Dân thủ đô Kiev cũng không tham dự. Chắc vì họ thấy cuộc biểu tình này rồi sẽ chẳng đưa tới kết quả nào; sau khi các “ông lớn” đã đi đêm với nhau. Mọi chuyện bất ngờ thay đổi sau khi ông Yanukovych đàn áp.

Viktor Yanukovych đã nắm chính quyền nhiều lần. Người to như ông hộ pháp, tài sản giầu bậc nhất nước, mười năm trước ông đang làm thủ tướng, vừa đắc cử tổng thống, thì dân Ukraine cũng biểu tình chống bầu cử gian lận. Ông khuyên vị tổng thống đàn áp nhưng không được nghe, cho nên cả hai mất chức. Cuộc Cách Mạng Mầu Cam đưa Viktor Yushchenko lên ghế tổng thống và bà Yulia Tymoshenko làm thủ tướng. Năm 2006 ông lại liên minh với mấy đảng khác, và trở lại ngồi ghế thủ tướng. Năm 2010 thì ông đắc cử tổng thống!

Ðối với một nhà chính trị hoạt đầu, nắm chính quyền chỉ là một cơ hội trục lợi; mà từ bốn năm nay ông Yanukovych đã tích lũy được tài sản khổng lồ cho gia đình, con cái, các đại gia ghét ông nhưng cũng sợ ông. Chế độ Dân Chủ đối với ông là một cuộc chơi banh giữa các nhà chính trị cùng với các đại gia, họ chia nhau ghế, tranh cướp tài sản quốc gia; anh nào cũng tham lam và lạm dụng quyền hành như anh nào. Còn người dân, đến ngày bỏ phiếu sẽ mê hoặc họ, đánh lừa họ, họ tin rằng dân chúng ở đâu cũng vậy.

Theo bản năng sẵn có, ngay lập tức Viktor Yanukovych thẳng tay đàn áp đám sinh viên phản kháng. Kinh nghiệm mười năm trước nhắc nhở ông là phải tiêu diệt biểu tình ngay từ đầu. Các sinh viên bị đánh, bị bắt, đám đông bị dẹp tan. Hậu quả bất ngờ, là phản ứng của dân chúng Kiev. Họ phẫn nộ trước cảnh đàn áp, và họ đến ủng hộ với các sinh viên. Họ vẫn còn nhớ quyền lực của người dân trong cuộc Cách Mạng Mầu Cam mạnh thế nào. Ngay sáng hôm sau, hàng trăm ngàn người xuống đường, kéo tới tràn ngập công trường Maidan, ở trung tâm thủ đô, và cứ thế tiếp tục ngày này sang ngày khác. Cuộc biểu tình ngày càng đông đúc hơn; vì những người biểu tình rất trật tự, theo đúng kỷ luật, khiến cho không những dân chúng Ukraine mà cả thế giới cũng kính trọng. Họ dựng lều, làm hàng rào, đồng ca những bài hát yêu nước. Ðêm sang ngày, trong nhiệt độ dưới số không.

Phong trào phản kháng đã tự chuyển biến, như con nhộng hóa thành con ngài, con sâu biến thành con bướm. Người dân không những đòi phải tái lập giao thương với Châu Âu, mà đòi quyền được sống xứng đáng với tư cách công dân một nước độc lập. Xã hội Công dân xuất hiện, nhiều người lên tiếng tố cáo guồng máy chính trị thối nát, tham nhũng, và bất lực trước các khó khăn kinh tế, làm cho đất nước nghèo, nghèo và hèn! Ukraine là một miền đất phì nhiêu nhất trong Liên bang Xô viết thời xưa. Công nghiệp tiến bộ, 99% dân biết chữ, tỷ lệ người đi học đại học cao bậc nhất thế giới, cái máy computer đầu tiên của Liên Xô được sáng chế ở Ukraine! Vậy mà trong hai chục năm qua các nhà chính trị đã làm tiêu tán hết cả những di sản quý báu của tiền nhân, đưa đến cảnh phải sang Nga “ăn xin” ông Putin, và trả giá bằng cách bất ngờ đoạn tuyệt với EU! Các chính trị gia đã làm cho dân nghèo, làm cho cả dân tộc thành hèn yếu!

Dân trung lưu Ukraine lại đứng dậy, mười năm sau cuộc Cách Mạng Mầu Cam, cuộc cách mạng sau đó đã bị các chính trị gia chiếm đoạt và lợi dụng. Cả ông tổng thống và các chính trị gia đối lập đều không ngờ lòng dân trào lên nhanh như vậy. Ông Yanukovych không nói chuyện với dân chúng biểu tình, mà mời các lãnh tụ đối lập tới thương thuyết; dùng chiến thuật trì hoãn để xoa dịu dư luận thế giới. Dân vẫn biểu tình ngoài trời, trong không khí mùa Ðông giá lạnh, trong hai tháng trời.

Cố vấn của ông Putin đã công khai khuyên Yanukovych hãy thẳng tay đàn áp. Yanukovych đã học được phép chống biểu tình của ông thầy Putin. Ngày 16 Tháng Giêng, ông ban hành luật cấm biểu tình, ai chống chính phủ sẽ bị trừng trị bằng luật hình sự. Nhưng người dân Ukraine can đảm hơn ông tưởng. Trong ba ngày, gần một trăm người bị giết. Ngày 22 Tháng Giêng 2014, các thanh niên, sinh viên bắt đầu dùng gạch, đá, chai xăng chống lại công an. Công an an nổ súng. Mấy chục người chết. Bầu không khí thủ đô và ở công trường Maidan thay đổi, sau khi máu chảy. Người dân không sợ hãi mà còn mạnh bạo và cương quyết hơn. Yanukovych bèn rút lại đạo luật cấm biểu tình, bắt ông thủ tướng từ chức để chạy tội; mời một lãnh tụ đối lập thuộc đảng của bà Tymoshenko lên thay nhưng không được. Yanukovych bay sang Nga dự lễ khai mạc Thế Vận Hội Mùa Ðông.Tình hình êm dịu kéo dài, chắc nhờ Putin đã yêu cầu Yanukovych không được làm cho tin tức cuộc chơi mùa Ðông bị lu mờ so với tin tức Ukraine trên các báo đài khắp thế giới.

Những thanh niên lãnh đạo cuộc biểu tình đã chọn đúng thời điểm Putin đang lo thế vận hội mà phản công. Họ tự lập ra một Ðoàn Thanh Niên Tự Vệ, điều động dân dựng hàng rào kháng cự, tự võ trang, chuẩn bị đối đầu với đám công an xung phong. Chính quyền có lúc dọa đem cả quân đội tới đàn áp biểu tình, nhưng các tướng lãnh vẫn đứng ngoài cuộc tranh chấp chính trị. Yanukovych tiếp tục “câu giờ” bằng các cuộc thương thuyết với các đảng đối lập. Có lúc họ đã đạt được thỏa hiệp, sửa Hiến Pháp để trao quyền cho Quốc Hội nhiều hơn, chấp nhận cho Yanukovych có thể tiếp tục làm tổng thống đến cuối năm nay mới bầu cử. Trong khi đó bộ trưởng Công An tuyên bố đã phát “súng trận” cho công an, sẵn sàng giết. Khi các lãnh tụ đối lập công bố kết quả cuộc thương thuyết, nhiều người dân hô đả đảo. Một thanh niên đọc tên một người bạn cùng ở trong Ðoàn Thanh Niên Tự Vệ, cả anh ta với vợ và con nhỏ đã bị công an bắn chết. “Không thể thỏa hiệp! Yanukovych phải từ chức ngay!”

Trong thời gian đó, ở trong Quốc Hội, các đại biểu đảng viên của ông Yanukovych đã thấy gió đổi chiều. Một số thỏa hiệp với các đại biểu đối lập thay đổi Hiến Pháp, họ làm luật trả tự do cho bà Tymoshenko. Ngày Thứ Tư, sinh viên đánh nhau với công an cảnh sát. Ngày Thứ Năm, công an an xung phong Berkut dùng đạn thật bắn chết hàng chục người biểu tình, các đại biểu Quốc Hội thấy phải hành động. Một đại biểu đối lập đề nghị một lời kêu gọi công an ngưng bắn dân. Phe chính phủ phản đối, cảnh đấm đá lẫn nhau diễn ra. Ðể thay đổi không khí, một đại biểu đề nghị một phút tưởng niệm các người đã chết, bên dân cũng như bên công an. Trong không khí tĩnh lặng đó, chỉ nghe thấy tiếng hơi thở của mình, chắc nhiều người đã thay đổi ý kiến. Quốc Hội thông qua lời kêu gọi công an ngưng bắn dân.

Hình như các công an chỉ chờ cơ hội đó. Ngày Thứ Sáu, họ lặng lẽ giải tán. Khi đoàn biểu tình tiến tới trụ sở các bộ, các sở, cảnh sát, công an đã bỏ trống, đường phố thuộc về người dân. Sáng sớm Thứ Bảy, Yanukovych cùng gia đình bỏ trốn. Ông đến một tỉnh miền Ðông, nơi nhiều người gốc Nga sống, xưa nay vẫn là hậu cứ của ông. Ông tính qua biên giới sang Nga, nhưng lính biên phòng ngăn lại. Ông đưa tiền hối lộ, họ từ chối.

Yanukovych không ngờ cơ sự xảy ra như vậy. Các nhà chính trị đối lập cũng không ngờ. Trước đó, người ta vẫn lo Ukraine sẽ xảy ra nội chiến, vì tinh thần ái quốc của dân ở phía Tây rất mạnh, còn dân ở phía Ðông vẫn thân Nga hơn. Nước Georgia, trước cũng thuộc Liên Xô như Ukraine, đã từng bị quân Nga tấn công, rồi kéo hai vùng tách ra đòi tự trị, và thân Nga. Nhưng sau khi một chính phủ lâm thời thành lập ở Kiev, các tỉnh miền Ðông tuyên bố sẽ tuân phục chính quyền trung ương. Vùng Crimea, vốn trước kia thuộc nước Nga, chỉ được trao cho Ukraine từ năm 1954, nhiều người gốc Nga kéo đến bảo vệ tượng Lenin, sợ dân Ukraine tới kéo đổ. Nhưng chính quyền Crimea cũng tuyên bố sẽ không ly khai.

Một chế độ độc tài trông bên ngoài có vẻ rất kiên cố; đã sụp đổ nhanh chóng. Dân Ukraine đã giành lại quyền độc lập tự do thật sự. Nhưng bây giờ đến lúc xây dựng lại nền dân chủ, họ sẽ phải rút kinh nghiệm quá khứ. Chế độ Dân Chủ chỉ là một hình thức tổ chức cho xã hội. Nội dung là tự do, công bằng, và quyền tham dự của người dân vào việc đất nước. Dân Ukraine không có kinh nghiệm sống dân chủ, sau mấy thế kỷ sống dưới các chế độ chuyên chế của các Nga hoàng và các lãnh tụ cộng sản. Sau khi được độc lập và xóa bỏ chế độ cộng sản, chính quyền rơi vào tay đám chính trị hoạt đầu. Bọn họ cầm quyền nhưng cải tổ kinh tế rất chậm chạp để bảo vệ quyền lợi giới quyền quý, chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ làm giầu cho chính họ, gia đình, và phe đảng. Tham nhũng tràn lan. Các đại gia gây ảnh hưởng trên guồng máy cai trị.

Bây giờ dân Ukraine sẽ phải bắt đầu lại xây dựng dân chủ tự do từ những bước đầu. Sống dân chủ tự do khó hơn người ta tưởng. Nhưng chắc chắn sống tự do vẫn hơn làm nô lệ. Vì vậy hàng trăm thanh niên Ukraine đã đổ máu hy sinh. Trong ngày Thứ Bẩy, trong lúc các nhà chính trị đang bàn nhau lập chính quyền mới, dân thủ đô Kiev đã tổ chức tang lễ cho những người đã khuất. Ngày hôm qua, cả thế giới được nhìn thấy hình ảnh những người công an Ukraine quỳ gối xin tạ lỗi với nhân dân, vì nhiều đồng đội của họ đã bắn chết dân.

4 thg 8, 2013

Nhờ đâu vẫn còn nước Việt Nam?

Ngô Nhân Dụng
Các nhà nghiên cứu lịch sử nước ta, sau khi viết về thời Bắc thuộc ai cũng muốn giải thích tại sao dân Việt Nam không bị Hán hóa sau một ngàn năm bị đô hộ. Trần Trọng Kim viết chương “Kết quả của thời Bắc Thuộc” trong Việt Nam Sử Lược nhấn mạnh đến ý chí của tổ tiên: “Hết thời Bắc thuộc rồi thì người Giao Châu ta có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với người Tàu.” Sử gia Lê Thành Khôi trong Histoire du Việt Nam giải thích rằng hiện tượng người Việt bảo tồn được tiếng nói là một sức mạnh đề kháng bền bỉ nhất. Sử gia Keith Taylor, trong cuốn The Birth of Vietnam, đồng ý về yếu tố ngôn ngữ; ông ghi nhận thêm sự phát triển của Phật Giáo trong thời Bắc thuộc là một nhân tố quan trọng đóng góp vào sự hình thành nước Việt Nam. Trong cuốn Nhìn Lại Sử Việt (tập I) Lê Mạnh Hùng nêu thêm các yếu tố kinh tế, xã hội. Ông nhắc tới tình trạng tập trung dân số rất đông ở vùng Ðồng Bằng Sông Hồng, với nền tảng kinh tế vững chắc; dựa trên hai lợi thế đó, tổ tiên chúng ta bảo vệ được một nền văn minh cổ truyền trong hai thế kỷ đầu tiếp xúc với người Hán; nhờ thế về sau khả năng đề kháng càng vững mạnh hơn. Tất cả những ý kiến trên đều có lý. Nhưng người Việt học sử dân tộc vẫn còn tò mò muốn biết rõ hơn. “Cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng” mà Trần Trọng Kim nói, thực ra đó là gì, nhờ đâu tổ tiên chúng ta có được, và đã được thể hiện như thế nào?

Yếu tố quan trọng nhất giúp tổ tiên người Việt không bị Hán hóa có lẽ là, trước khi người Hán tới, dân Việt đã có sẵn một nền nếp trong cuộc sống chung, gọi là văn minh. Tổ tiên chúng ta đã có bản sắc văn hóa đủ vững chắc, nhiều đời trước khi bị chiếm đóng rồi bị đô hộ trực tiếp. Tổ tiên người Việt đã xây dựng một đời sống xã hội đủ chặt chẽ để họ có thể tự hào về chính mình. Nhờ thế họ không bị hấp dẫn, không bị cuốn chìm vào lối sống mà người phương Bắc đem tới, bắt phải theo. Ngoài những yếu tố chủ quan, như ngôn ngữ, chủng tộc, phong tục riêng, tinh thần bất khuất, vân vân, chúng ta còn thấy những điều kiện khách quan cũng thuận lợi cho ý thức dân tộc thành hình và phát triển. Có nhiều yếu tố bên ngoài hỗ trợ dân tộc Việt Nam. Vị trí nước ta ở ngã ba Châu Á, giữa Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương giúp cho dân Việt tiếp nhận nhiều nguồn văn minh trước khi gặp người Hán; cho nên bản sắc thêm vững chắc và bền bỉ đủ để tự vệ. Nhiều biến cố chính trị, kinh tế vào mỗi thời, ở Trung Quốc hay trong vùng Ðông Nam Á, cũng tình cờ tạo cơ duyên thuận lợi cho các cố gắng giành tự chủ của người Việt. Các điều kiện địa dư, khí hậu do thiên nhiên cống hiến góp thêm những hàng rào ngăn cản khiến người Hán bành trướng xuống tới biên giới nước Việt thì bị ngăn lại.

Chúng ta càng thấy rõ sức đề kháng mạnh tiềm ẩn trong dân tộc Việt khi hiểu những “sức mạnh mềm,” với chữ viết và các định chế chính trị, luân lý, tư tưởng của nền văn minh Trung Hoa mà họ dùng để đồng hóa sau khi chinh phục. Họ đã Hán hóa bao nhiêu sắc dân khác sống ở phía Nam Trường Giang, còn gọi là sông Dương Tử; vùng đất trước đời Tần còn đứng ngoài Trung Quốc. Khác với tổ tiên người Việt, các nhóm dân cư miền Hoa Nam nay đã hoàn toàn hòa nhập vào một quốc gia với khối người Hán từ phương Bắc. Con cháu họ bây giờ tự nhận là người Hán, hãnh diện là thành phần của một quốc gia đông dân nhất thế giới, với một nền văn minh cổ và tồn tại liên tục nhất trong lịch sử nhân loại. Còn người Việt Nam thì nuôi niềm hãnh diện khác: Họ giữ được một quốc gia độc lập không chịu biến thành người Hán. Có người sẽ hỏi: Giữa hai con đường này, làm dân một nước nhỏ độc lập, hay làm dân của một nước lớn như Trung Quốc, con đường nào tốt hơn, nghĩa là giúp cho người dân sống yên lành, hạnh phúc hơn? Tổ tiên người Việt Nam chọn con đường độc lập vì đã gây nên ý thức dân tộc và quyết tâm tự chủ. Lựa chọn đó có thể gọi là “phúc ấm” do tổ tiên để lại, cho chúng ta bây giờ hãnh diện nhận mình vẫn là dân Việt.

Việc tìm hiểu các nhân duyên khiến dân tộc Việt Nam vẫn còn độc lập sẽ giúp chúng ta hiểu công trình của bao nhiêu thế hệ trước, sẽ biết ơn tổ tiên và tin tưởng ở tương lai dân tộc. Nếu sau một ngàn năm Bắc thuộc dân Việt vẫn tồn tại, thì bây giờ cũng không lo sẽ mất. Ðã không bị đồng hóa thành người Hán, tổ tiên chúng ta còn thu hút được các di dân từ miền Bắc tới học sống theo mình, trở thành người Việt. Chúng ta sẽ thấy biến chuyển quan trọng nhất trong thời Bắc thuộc không phải là hiện tượng người Việt chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa. Các nước khác ở Á Ðông không bị đô hộ ngày nào mà cũng vẫn tự nguyện tìm học những điều hay của nền văn minh đó. Ảnh hưởng Khổng Giáo trên nước ta không phải là một điều đáng ngạc nhiên. Nếu nước Việt Nam không bao giờ bị lệ thuộc người Hán thì chắc chắn tổ tiên chúng ta cũng vẫn tìm học; không khác gì các dân tộc Triều Tiên và Nhật Bản. Khổng Giáo chỉ được triều đình nhà Lê đề cao từ những thế kỷ 15.

Hiện tượng đáng kể nhất trong một ngàn năm Bắc thuộc là quá trình chuyển hóa các di dân người Trung Hoa sang nước ta, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, họ đã dần dần hòa nhập vào khối người Việt ở địa phương; chính họ cũng góp phần bảo vệ và xây dựng nước Việt. Lâm Ngữ Ðường từng công nhận chính các di dân thuộc các sắc tộc “Rợ Hồ” từ phương Bắc tràn xuống vùng sông Hoàng Hà trong nhiều thế kỷ đã “góp máu,” giúp cho dân tộc Trung Hoa cường tráng, hùng mạnh gấp đôi. Người Hoa di dân sang nước ta trong một ngàn năm cũng đóng góp cho dân tộc Việt nhiều như vậy.

Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm người dân Việt, tiếp tục bảo vệ một nước Việt Nam?

Tìm hiểu niềm bí nhiệm đó, chúng ta càng thông được “cái nghị lực riêng và tính chất riêng” của tổ tiên mình, như Trần Trọng Kim nhận xét. Tổ tiên không những để lại một mảnh đất và một nền nếp văn hóa để chúng ta sống với nhau; mà còn để lại cả cái nghị lực và tính cách riêng mà họ đã nung nấu suốt ngàn năm Bắc thuộc.

Ngẫm nghĩ về lịch sử thời Bắc thuộc thì phải tin là nước Việt sẽ không bao giờ mất được. Ngàn năm trước đã không mất thì ngàn năm sau chắc chắn sẽ không mất. Ngàn năm trước, tổ tiên từng chịu đựng những áp lực lớn, nghĩ đã thấy rợn mình. Thế mà vẫn đứng vững. Bây giờ dân mình đông hơn, ý thức dân tộc vững chắc hơn, kinh nghiệm dày dạn hơn. Loài người bây giờ cũng văn minh hơn và liên đới chặt chẽ với nhau hơn, không để cho nước lớn hiếp nước nhỏ.

Hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa có thể sống bên nhau trong hòa bình và lòng tôn kính nếu nước Việt Nam vẫn giữ được chủ quyền của mình, không quá tùy thuộc vào Trung Quốc. Khi hai quốc gia đều sống trong dân chủ tự do thì những xung đột biên giới, biển, đảo, cũng sẽ được giải quyết một cách ôn hòa. Trên thế giới, chưa thấy hai quốc gia tự do dân chủ gây chiến tranh với nhau bao giờ. Vì khi người dân nắm quyền quyết định những việc quan trọng, thì bình thường họ sẽ thấy gây chiến tranh chỉ có hại, bên nào cũng bị thiệt. Trên quan điểm kinh tế, chiến tranh không bao giờ đạt được những lợi ích đủ lớn để bù lại những phí tổn phải chịu đựng. Hiện nay, bên cạnh nước Việt Nam cũng không phải chỉ có một cường quốc duy nhất, như thời Bà Trưng hay thời Ngô Quyền. Trên thế giới sẽ không còn nước lớn nào đi chiếm các nước nhỏ mà các nước khác đứng ngoài coi; vì quyền lợi kinh tế đều dính líu đến nhau.

Nước Việt Nam sẽ không bao giờ mất. Ðiều đáng lo không phải chỉ là mình còn được độc lập hay không. Ðáng lo hơn nữa là nước mình chậm tiến quá, trong khi những nước chung quanh, kể cả Trung Quốc, đang tiến rất nhanh. Ðáng lo hơn hết, là dù nước mình vẫn còn nhưng dân mình không đuổi kịp các nước trên thế giới về kinh tế, chính trị và cả văn hóa. Làm sao để kinh tế nước ta có thể tiến lên; để dân mình được sống tự do; để nền nếp đạo lý trong xã hội không tiếp tục suy đồi; để nước mình có thể so sánh ít nhất cũng ngang hàng với các nước đã phát triển vùng Á Ðông?

Nghiền ngẫm lại lịch sử ngàn năm Bắc thuộc chúng ta càng thấy rõ bổn phận của mình đối với các thế hệ tương lai.

Ngô Nhân Dụng

26 thg 7, 2013

Người Việt ở Mỹ biểu tình chống Chủ tịch CSVN Trương Tấn Sang

Người Mỹ gốc Việt biểu tình đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam

Người Việt ở Mỹ biểu tình chống Chủ tịch nước VN Trương Tấn Sang bên ngoài Nhà Trắng, sáng hôm 25 tháng 7. Photo: RFA

Hôm thứ Năm 25/7, có đông đảo đồng hương Việt Nam từ vùng thủ đô Washington và các cộng đồng người Việt tự do hải ngoại quy tụ về Washington D.C. để biểu tình nhân khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tại Toà Bạch Ốc.

Kêu gọi VN thả tù nhân chính trị

Theo ước tính thì có khoảng 2 ngàn đồng hương VN từ các cộng đồng, đoàn thể, đảng phái người Việt tự do hải ngoại hiện diện tại công viên La Fayette đối diện Toà Bạch Ốc để phản đối nhà cầm quyền VN cũng như lưu ý chính phủ Obama và đánh động công luận thế giới về việc Hà Nội ngày càng gia tăng đàn áp tự do, dân chủ, nhân quyền; tuỳ tiện bỏ tù dài lâu và hành hung nhiều nhà bất đồng chính kiến, lãnh đạo tôn giáo, giới bloggers, nhất là những người yêu nước phản đối phương Bắc xâm lấn lãnh hải, lãnh thổ VN; kêu gọi Hoa Kỳ đặt ưu tiên vấn đề nhân quyền trong cuộc thương thảo với VN; áp lực Hà Nội thả tất cả tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm; ngưng hành động cưỡng chiếm đất đai của người dân, chấm dứt tình trạng độc tài, quốc nạn tham nhũng…

Hiện diện tại cuộc biểu tình, ông Đoàn Hữu Định, Chủ tịch Cộng đồng VN vùng thủ đô Washington, Virginia, Maryland lên tiếng:

"Chúng tôi đến đây với tất cả phái đoàn người Việt từ khắp nơi đến - ở Hoa Kỳ, Canada cũng như từ bên Pháp qua. Lời chúng tôi muốn nhắn gởi trước nhất là tới Tổng thống Obama để cho ông Trương Tấn Sang biết là nhân quyền phải được tôn trọng. Quyền tự do ngôn luận của người dân bất khả xâm phạm. Và với tất cả tiếng nói đối kháng trong nước đang bị cầm tù, thì ông Trương Tấn Sang cùng chính quyền VN phải tức khắc thả những người đó ra. Đồng hương VN hải ngoại đòi hỏi ông Trương Tấn Sang phải thấy rõ rằng sự luồn cúi TQ của VN hiện giờ là không thể chấp nhận được. Chủ quyền VN phải được tôn trọng. Về vấn đề chủ quyền đất nước, nếu phía Hà Nội thấy qua đây cầu viện Mỹ mà Mỹ không chấp nhận, thì chính thể đương quyền cũng như đảng CSVN phải rút lui để cho có một cuộc bầu cử - toàn dân bầu ra một chính phủ hợp pháp và dân chủ."

Tham dự cuộc biểu tình, BS Đỗ Văn Hội, Chủ tịch Hội đồng Chấp hành Cộng đồng Người Việt Quốc gia Liên bang Hoa Kỳ cho biết ý kiến:

"Nhân dịp Chủ tịch CSVN qua thăm viếng Toà Bạch Ốc, chúng ta – những người Việt khắp nơi, kể cả những người Việt trong nước – rất muốn lên tiếng nói với ông Trương Tấn Sang rằng ông phải lắng nghe, để ý đến quyền lợi của dân tộc VN, đó là tự do, dân chủ, nhân quyền được tôn trọng; làm thế nào để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ VN. Đó là chúng tôi muốn nói với ông Trương Tấn Sang và giới lãnh đạo VN phải tôn trọng những quyền của người dân Việt, phải trả lại quyền cai trị cho người dân. Đồng thời, với tư cách người Mỹ gốc Việt, chúng tôi cũng muốn nói với Tổng thống Obama rằng ông nên nghĩ tới quyền lợi của đa số người dân Việt Nam, làm thế nào giúp cho dân tộc VN trong nước chúng tôi hưởng được tự do dân chủ thực sự. Và mọi cuộc thương thảo với ông Trương Tấn Sang, Tổng thống Obama cũng nên đặt nhân quyền là quan trọng qua những điều kiện ràng buộc, chứ không nên bỏ qua vấn đề nhân quyền, tự do, dân chủ khiến người dân Việt phải gánh chịu sự áp bức của chế độ CS hiện nay."

Ông Nguyễn Văn Tánh thuộc Ban Tổ chức Biểu tình, hiện là Cố vấn Cộng đồng Người Việt Quốc gia Liên bang Hoa Kỳ, lưu ý:

"Với khái niệm là người dân nước Việt trong giai đoạn cực kỳ quan trọng này, chúng ta phải lên tiếng chống đối những lãnh đạo CSVN như Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng…Họ là những người đã dâng đất, dâng biển cho ngoại bang và thực hiện những điều trái với một nước tự do, dân chủ, hoàn toàn sai lạc với chủ quyền quốc gia. Bởi vậy chúng ta phải hợp sức trong giai đoạn này để đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho tất cả dân tộc VN, không thể để cho TQ tiếp tục lấn chiếm lãnh hải, biển đảo của chúng ta nữa. Chúng tôi quyết tâm đấu tranh, thực hiện những điều mong muốn của toàn nước Việt – trong cũng như ngoài nước."

Những ý kiến vừa rồi có thể nói là tiêu biểu và thể hiện nguyện vọng của đồng hương người Việt biểu tình mà chúng tôi tiếp xúc. Trong khi đó, chúng tôi cũng nhận thấy sự hiện diện rải rác đó đây của người phương Tây tại địa điểm biểu tình. Khi được hỏi về tình trạng vi phạm nhân quyền hiện nay tại VN, một phụ nữ Mỹ cho biết:

"Hôm nay tôi mới biết. Người dân VN bị chính quyền ngược đãi chỉ vì họ chỉ trích chính phủ, họ phản đối những gì mà chính phủ VN hành động độc tài. Và cả người dân ở nơi đây cũng phản đối chính phủ Mỹ buôn bán với VN cho đến khi nhân quyền ở VN được tôn trọng."

Người Việt ở Mỹ biểu tình chống Chủ tịch nước VN Trương Tấn Sang bên ngoài Toà Bạch Ốc, sáng hôm 25 tháng 7. RFA PHOTO..

Mặc dù sự hiện diện của Chủ tịch Trương Tấn Sang tại Hoa Kỳ được biết nhằm thảo luận với Washington về những vấn đề như mối quan hệ an ninh-kinh tế, việc VN gia nhập Hiệp định Đối tác Xuyên TBD (TPP), hành động của TQ tại biển Đông, việc Hà Nội muốn mua võ khí sát thương của Hoa Kỳ, và cả vấn đề nhân quyền, nhưng, nếu so với những lãnh đạo tiền nhiệm của VN đi Hoa Kỳ, thì chuyến Mỹ du của ông Trương Tấn Sang hiện giờ khiến thế giới đặc biệt quan tâm và báo động về tình hình nhân quyền ngày càng tồi tệ ở VN.

Chẳng hạn như Tổ chức Nhân quyền Human Rights Watch lưu ý rằng số nhân vật bất đồng chính kiến, lãnh đạo tôn giáo, các bloggers tại VN bị án tù oan khuất, dài lâu trong 6 tháng đầu năm nay nhiều hơn so với toàn bộ năm 2012. Tổ chức này thúc giục hành pháp Mỹ phải can thiệp cụ thể tình cảnh tù đày của những nhà bất đồng chính kiến, từ Blogger Điếu Cày, TS Cù Huy Hà Vũ, LS Lê Quốc Quân cho tới các thanh niên yêu nước như Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha. Giám đốc Á Châu của Human Rights Watch, ông John Sifton, nhấn mạnh rằng Hà Nội không thể biện minh cho hành động đàn áp những nhà bất đồng chính kiến.

Trong thời gian gần đây, nhiều nhà lập pháp Mỹ ngày càng mạnh mẽ phản đối tình trạng VN liên tục đàn áp nhân quyền.

Các tổ chức nhân quyền thế giới cùng công luận trong và ngoài nước cũng không quên lên án Bộ Luật hình sự với những điều khoản chung chung, mơ hồ, tạo điều kiện cho nhà cầm quyền VN tuỳ tiện bỏ tù những người yêu nước về những tội danh như “tuyên truyền, âm mưu lật đổ chính quyền”, “phá hoại tình đoàn kết quốc gia”, “lạm dụng các quyền tự do, dân chủ để phương hại đến lợi ích của nhà nước, nhân dân”…

Cuộc biểu tình trước Toà Bạch Ốc diễn ra sau khi trước đó một ngày, tức hôm thứ Tư vừa rồi, Cộng đồng Người Việt Quốc gia ở Miền Đông Hoa Kỳ phối hợp với Cộng đồng Người Việt Liên bang Hoa Kỳ hỗ trợ cho cộng đồng Philippine tại hải ngoại biểu tình rầm rộ trước trụ sở LHQ ở New York để phản đối hành động TQ xâm lấn lãnh hải, biển đảo của VN và Philippines cũng như đe doạ lãnh hải của những nước thuộc vùng Đông Nam Á.

Thanh Quang tường trình từ Thủ đô Washington.

17 thg 7, 2013

Chui Đầu Vào Thòng Lọng Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng
Tuần trước, ông Bùi Tín, cựu phó chủ bút báo Nhân Dân (Hà Nội) hiện đang tị nạn tại Pháp, viết một bài nhận xét về bản “Tuyên bố chung” giữa Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, ký ngày 21 Tháng Sáu vừa qua tại Bắc Kinh: “Không hề có một chữ nào (xác định) về Hoàng Sa, Trường Sa là đất Việt Nam bị cưỡng chiếm bằng vũ lực. Không một lời yêu cầu nào đòi bảo vệ tính mạng tài sản của ngư dân Việt Nam trong vùng biển quốc gia của mình. Không một lời bác bỏ nào đối với cái ‘lưỡi bò’ phi pháp trên bản đồ Trung Quốc. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn từ bỏ.”

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ cũng công bố một bản Nhận Ðịnh về cùng vấn đề này, ngài viết: “Tuyên bố chung tại Bắc Kinh không hề có một dòng nào xác định việc Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần đảo Trường Sa của Việt Nam, hoặc hàng nghìn cây số trên đất dọc biên giới, đặc biệt tại Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, v.v. hay đòi hỏi Trung Quốc hoàn trả biển và đất đã xâm chiếm.
Những lời lên án trên khiến dư luận chú ý hơn đến văn kiện mà hai ông Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình đã ký sau một chuyến công du ba ngày. Trong thực tế, xưa nay người Việt ở trong và ngoài nước không mấy khi chú ý đến các bản thông cáo chung của lãnh tụ hai đảng Cộng Sản, vì biết trước rằng đó thường chỉ gồm những lời tuyên truyền trống rỗng.

Nhưng khi vị tăng thống thứ năm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phải viết rằng Hội Ðồng Lưỡng Viện của giáo hội “vô cùng quan ngại về nội dung bản tuyên bố chung này” thì mọi người Việt Nam yêu nước phải cùng chia sẻ nỗi lo lắng đó. Mặc dù bản tuyên bố chung có nhắc đến quan hệ giữa hai đảng Cộng Sản, Trương Tấn Sang đã ký kết với tư cách là chủ tịch nhà nước Việt Nam, nhân danh cả đất nước và dân tộc Việt Nam.

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ phải cảnh cáo: “Với kẻ cướp đã vào chiếm đóng một góc nhà rồi, ông chủ tịch nước vẫn ‘nhất trí’ với mưu kế của kẻ xâm lăng…” Giống như nhà báo Bùi Tín viết: “Lũ giặc bành trướng được coi là bạn bè thân thiết nhất, là đồng chí tin cậy nhất.” Ông lên án: “Chưa bao giờ có sự đầu hàng nhanh chóng và nhục nhã đến như vậy.”

Ðầu hàng nhanh chóng như thế nào? Chỉ trong ba ngày, ông Trương Tấn Sang đã ký tên vào một văn kiện dài bốn ngàn chữ, trong đó đề cập đến hàng chục bản văn khác về việc hợp tác giữa hai nhà nước; và hai bên cũng ký kết nhiều văn bản mới khác nữa. Chỉ trong ba ngày, họ đã xem lại để “nhất trí hợp tác” thi hành rất nhiều văn kiện. Trong đó có, thí dụ, “Nghị định thư hợp tác giữa hai Bộ Ngoại Giao; Ðối thoại chiến lược quốc phòng cấp thứ trưởng; Thỏa thuận hợp tác giáo dục giai đoạn 2011-2015; Kế hoạch hành động thực hiện Hiệp Ðịnh Văn Hóa Việt-Trung giai đoạn 2013-2015; Kế hoạch công tác năm 2013 của ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền hai nước,” vân vân. Hai bên còn thảo luận và “nhất trí” về việc “hoàn thành việc xây dựng trung tâm văn hóa của nước này ở nước kia, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực sản nghiệp văn hóa, nguồn nhân lực. Hai bên nhất trí tổ chức Liên Hoan Thanh Niên Việt-Trung lần thứ 2 vào nửa cuối năm nay;” lại “tăng cường hơn nữa hợp tác” giữa các bảy tỉnh của Việt Nam và bốn tỉnh của Trung Quốc ở hai bên biên giới. Bao gồm mọi lãnh vực, chỉ trong ba ngày đã ký kết xong.

Hãy nhìn vào danh sách các văn kiện mới được Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình cam kết với nhau, với các “thỏa thuận” cũ được duyệt xét, sửa đổi, bất cứ người nào có suy nghĩ cũng phải tự hỏi làm sao họ “thỏa thuận” với nhau nhanh chóng như vậy? Xin kể ra mấy bản văn mới ký: Một “Thỏa thuận hợp tác biên phòng giữa Bộ Quốc Phòng hai nước Việt Nam-Trung Quốc;” một “Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc;” một “Thỏa thuận giữa Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam và Bộ Nông Nghiệp Trung Quốc về việc thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển.” Lại thêm, “Thỏa thuận giữa Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam và Tổng Cục Giám Sát Chất Lượng, Kiểm Nghiệm, Kiểm dịch Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu;” “Ðiều lệ công tác của ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc;” “Bản ghi nhớ giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Trung Quốc về việc thành lập trung tâm văn hóa tại hai nước;” “Bản ghi nhớ về kế hoạch hợp tác giai đoạn 2013-2017 giữa liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và hội hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc;” “Thỏa thuận sửa đổi lần thứ 4 giữa Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam và Tổng công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc liên quan tới vịnh Bắc bộ;” đặc biệt còn có một bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” và nhiều thỏa hiệp hợp tác kinh tế khác. Tất cả đều được ký kết trong chuyến thăm trong ba ngày.

Trong trường bang giao quốc tế, ít có hai quốc gia nào lại ký kết với nhau, cùng một lúc, nhiều văn kiện “hợp tác” bao trùm đủ các lãnh vực sinh hoạt của quốc dân như vậy. Hai nước Canada và Mỹ đã sống bên cạnh nhau một cách hòa bình hơn hai thế kỷ, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao lãnh vực nào cũng hợp tác với nhau. Nhưng họ cũng chưa bao giờ ký kết cùng một lúc nhiều thứ cam kết ràng buộc nhau, sau ba ngày thăm viếng như vậy!

Phải nhấn mạnh đến các điều liên quan đến quân đội, vì quân đội nước nào cũng là lực lượng bảo vệ quốc gia. Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang ký kết, hứa hẹn với nhau sẽ “…làm sâu sắc thêm hợp tác giữa quân đội hai nước… đi sâu trao đổi kinh nghiệm công tác đảng và chính trị trong quân đội, tăng cường đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ.” Chúng ta phải chú ý tới việc “đào tạo cán bộ” trong quân đội, đặc biệt về “công tác đảng” và “chính trị,” nghĩa là giáo dục, đào tạo não bộ của các sĩ quan trong quân đội. Theo tinh thần những cam kết này, chúng ta có thể thấy tái diễn cảnh “rèn cán chỉnh quân” mà Hồ Chí Minh đã đem vào Việt Nam trong thời kháng chiến chống Pháp: Việc huấn luyện chính trị và nhồi sọ lý thuyết Mác Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Ðông cho các sĩ quan trẻ Việt Nam có thể sẽ được đặt dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng; hoặc đưa họ sang Trung Quốc thụ huấn các giáo điều tương tự! Chính trong các đợt “rèn cán chỉnh quân” bắt đầu từ những năm 1950, sau khi Hồ Chí Minh đưa tư tưởng Mao Trạch Ðông lên hàng lý thuyết chỉ đạo cho đảng Lao Ðộng, mà rất nhiều sĩ quan trẻ tài ba đã bị nghi kỵ, bị hạ tầng công tác, nhường chỗ cho thành phần bần cố nông được các cố vấn Trung Cộng chấp thuận.

Tuy việc nhồi sọ các cán bộ trong quân đội là điều đáng lo ngại nhất, nhưng bản Tuyên bố chung của Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang còn mở rộng chương trình “đồng hóa” về tư tưởng, về lý luận bao trùm hầu hết các lãnh vực khác, không giới hạn trong quân đội. Họ ký kết như sau: “Hai bên… nhất trí làm sâu sắc thêm hợp tác giữa hai đảng, thúc đẩy cơ chế giao lưu hợp tác giữa hai ban đối ngoại và ban tuyên giáo, tuyên truyền của hai đảng vận hành thuận lợi, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ đảng và nhà nước. Hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ, cùng nhau tổ chức tốt hội thảo lý luận hai đảng lần thứ 9, tăng cường hơn nữa trao đổi kinh nghiệm về xây dựng đảng và quản lý đất nước… ở mỗi nước.”

Ðọc những lời cam kết bao gồm đủ các lãnh vực từ quân sự đến “đào tạo cán bộ đảng và nhà nước,” đến “Ðối ngoại, Tuyên giáo, Tuyên truyền” như trên, chúng ta cảm thấy có một “âm mưu đồng hóa” của đảng Cộng Sản Trung Quốc; mà họ đang được đảng Cộng Sản Việt Nam tích cực ủng hộ để thi hành. Chưa kể tới những cam kết giữa hai đảng cộng sản khi nhắc tới các tranh chấp đang xảy ra trên biển Ðông; sẽ bàn trong mục này vào dịp khác.

Nhà báo Bùi Tín cũng nhận thấy: “Ðọc kỹ các văn bản, có cảm giác như Việt Nam đã hội nhập vào trong lòng Trung Quốc. Tuy hai mà một. Hòa nhập triệt để về mọi mặt, đặc biệt là về quốc phòng, về đối ngoại, về an ninh, trị an xã hội, về đảng, nhà nước, về quân đội, về công tác đảng, bảo vệ đảng, bảo vệ quân đội.”

Có thể nói, Cộng Sản Việt Nam đang tiếp tục đưa cả nước chui đầu vào trong cái thòng lọng do Trung Cộng đưa ra. Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ giải thích sự hợp tác mật thiết giữa hai đảng cộng sản hiện nay đã “xuất phát từ ý thức nô lệ của ông Hồ Chí Minh khi ông làm bài thơ tuyên truyền ‘Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ’ (Cứu Trung Quốc là tự cứu mình) đưa đăng trên báo Cộng Sản Tàu Cứu Vong Nhật Báo năm 1940 tại Quế Lâm.” Chúng ta thông cảm với Hòa Thượng Quảng Ðộ khi ngài viết: “Người con Phật không thể khoanh tay đứng ngó hay chỉ thắp hương cầu nguyện, mà phải đem từng biệt nghiệp chuyển hóa cộng nghiệp ác hành.”

Hơn tám mươi triệu người Việt Nam cũng không thể chỉ “khoanh tay đứng ngó hay chỉ thắp hương cầu nguyện!”

7 thg 6, 2013

Những Bàn Chân Nổi Giận


Nhật báo hàng đầu của Mỹ New York Times hôm 6/6 cho đăng bài xã luận với tiêu đề "Vietnam's Angry Feet" do giáo sư Tương Lai, một giáo sư ngành xã hội học từng làm cố vấn cho 2 thủ tướng Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2006, viết. Xin giới thiệu đến độc giả bản tiếng Việt của bài viết do giáo sư cung cấp.

Tương Lai
Tháng trước, Tòa Án tỉnh Long An Việt Nam đã kết án nặng nề hai sinh viên yêu nước ở độ tuổi 20. Trong những tội danh bị áp đặt có tội "nói xấu Trung Quốc". Những cáo buộc này đã chạm vào điểm nhạy cảm bậc nhất trong tâm thế người Việt Nam là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Người ta phẫn nộ vì như thế là ai đó đã hợp đồng với Trung Quốc xâm lược để quay lại đàn áp người yêu nước. Bi kịch lớn nhất của một số người lãnh đạo Việt Nam là sự ám ảnh về cái gọi là "cùng chung một ý thức hệ xã hội chủ nghĩa" nên đã không quyết liệt đáp trả những thủ đoạn bành trướng nham hiểm và những hành động xâm lược ngang ngươc của Trung Quốc. Họ lại quyết liệt đàn áp những người yêu nước, bóp nghẹt dân chủ, bưng bít thông tin và khủng bố tư tưởng công dân mình. Đầu tuần này, công an Hà Nội đã đàn áp một cuộc biểu tình chống Trung Quốc và bắt nhiều người, hành hung, đánh đập họ, trong đó có cả phụ nữ.

Dân tộc Việt Nam có quyền tự hào về truyền thống bất khuất, quật cường của mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước trong vị thế oái ăm, sát cạnh một láng giềng khổng lồ chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng bành trướng nhằm nuốt chửng Việt Nam. Đất nước này đã từng chìm đắm cả nghìn năm Bắc thuộc. Trong cái đêm dài đau đớn ấy, kẻ thù luôn tìm cách đồng hóa dân tộc Việt. Và chúng đã thất bại.

Việt Nam đã từng đánh bại đế quốc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII và những kẻ xâm lược khác trong thế kỷ XV, XVIII và XX. Bản lĩnh dân tộc Việt đã được hun đúc qua những cuộc chiến tranh khốc liệt chống ngoại xâm. Nhưng hôm nay, bất chấp luật pháp quốc tế và chà đạp trên nguyên tắc và đạo lý, Trung Quốc đã ngang nhiên thực hiện mộng bành trướng trên Biển Đông, cái "lưỡi bò" ham hố và bẩn thỉu đang thè ra chực nuốt cả vùng biển rộng lớn, nơi có trữ lượng dầu mỏ đủ đáp ứng cơn khát nguyên liệu của một nền kinh tế đang cố ngoi lên vị thế siêu cường. Nơi đây cũng là con đường huyết mạch trên biển để Trung Quốc thực hiện tham vọng của họ.


Vì thế, những “bàn chân nổi giận” đã rầm rập xuống đường biểu tình chông Trung Quốc xâm lược. Cùng với những cuộc biểu tình ấy, những khiếu kiện tập thể của nông dân cũng dồn dập bùng lên. Sự nối kết giữa tầng lớp trí thức với giới trẻ ở đô thị và nông dân – những người bị đẩy vào cuộc sống đói nghèo vì mất đất sản xuất khi người ta nhân danh "sở hữu toàn dân" để tước đoạt quyền sở hữu mảnh đất cha ông họ để lại mà không được đền bù thỏa đáng. Cùng với điều đó, mạng lưới thông tin qua Internet đã trỗi lên như nấm sau cơn mưa biểu thị tinh thần yêu nước bất chấp mọi đàn áp đang đang mở ra một cục diện mới.

Sự nổi giận của người Việt Nam lại càng tăng lên khi một số những người lãnh đạo lùi bước trước những hành động tội ác của Trung Quốc xâm lược Việt Nam nhưng lại quyết liệt đàn áp người yêu nước đấu tranh đòi dân chủ và tự do. "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa " là một khái niệm rất mơ hồ, những người lãnh đạo lại dùng nó để duy trì một hệ thống chính trị đã quá lỗi thời.


Nếu không có những đổi mới ở thập niên 80, nền kinh tế tập trung có lẽ đã đưa Việt Nam đi đến bờ vực sụp đổ. Tuy nhiên, những cải cách kinh tế đó đã bị đình trệ vì không có cải cách chính trị song hành. Tuy nói rất nhiều về một nhà nước "của dân do dân và vì dân" nhưng người ta chưa bao giờ muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự đúng với ý nghĩa đích thực của nó.

Với cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước thắng lợi, Việt Nam đã nhận được sự đồng cảm, lòng tôn trọng và ngưỡng mộ của nhiều người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đáng tiếc là từ đỉnh cao của chiến thắng, người ta lại duy trì một hệ thống chính trị lạc hậu và một hệ tư tưởng giáo điều nên nền kinh tế Việt Nam đã không thể phát triển mạnh mẽ như nó cần làm và có đủ điều kiện để làm. Để rồi họ trở thành thành mục tiêu phê phán của cộng đồng quốc tế về đàn áp dân chủ và vi phạm nhân quyền.

Chính vì một số nhà lãnh đạo Việt Nam bị "cái mũ kim cô" của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán siết chặt nên đã đẩy đất nước ra khỏi quỹ đạo dân chủ để gánh chịu lạc hậu và lạc điệu so với thế giới văn minh, một thế giới mà Việt Nam đang rất cần hòa nhập để đất nước có điều kiện phát triển.

Ấy thế mà từ lâu, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội để thay thế bằng một "Chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc" man rợ nhằm nuôi dưỡng mộng bành trướng của cha ông họ mà họ chưa bao giờ từ bỏ. Cho nên, cái gọi là "cùng chung ‎ ‎thức hệ" mà ai đó đưa ra chỉ là cái bình phong che đậy cho tham vọng quyền lực, nhằm giữ bằng được cái ghế mà họ đang ngồi. Những ngôn từ đạo đức giả được đưa ra, rồi mười sáu chữ bịp bợm về "láng giềng hữu nghị" được tung hứng chỉ là trò khôi hài.

Nhằm bảo vệ cái ghế quyền lực của một số người đang giành được những vị thế quan trọng, để củng cố và mở rộng những lợi ích béo bở của mình, người ta đang quay lưng lại với nhân dân. Một số trí thức và nhân sĩ, trong đó có người viết bài này, đã đưa ra hàng loạt kiến nghị về thực thi dân chủ và nhân quyền trong Hiến pháp nhằm hướng tới việc tạo ra một hệ thống chính trị thực sự dân chủ. Tuy nhiên, đề xuất của chúng tôi đã gặp phải những lời lăng mạ và vu khống trên các tờ báo chính thống được chỉ đạo sát sao.

Người ta đã không thấy được rằng, một khi phong trào yêu nước chống ngoại xâm gắn kết được với cuộc đấu tranh dân chủ và thực hiện quyền con người đã được ghi vào trong Hiến pháp, sẽ đẩy tới những bước hợp trội trong sự phát triển, tạo ta những đột phá không lường trước được, hình thành một cục diện mới, đưa đât nước đi lên.

Cho nên, càng sử dụng bạo lực và đàn áp, càng cho thấy sự phi dân chủ, vô nhân tính của những người sử dụng nó.

Người lãnh đạo nắm bắt được cục diện mới, nhanh nhạy đáp ứng được lợi ích dân tộc, đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết và trước hết, sẽ nhận được hậu thuẫn mạnh mẽ của dân và sự đồng tình của bạn bè quốc tế.

Ngược lại, nếu tiếp tục quay lưng lại với dân, nấp dưới chiêu bài ý thức hệ đã lỗi thời, bám chặt mô hình toàn trị phản dân chủ, chỉ cốt giữ cho được cái ghế quyền lực đã rệu rã và đưa đất nước vào ngõ cụt không lối thoát, thì sự cáo chung là điều không thể tránh khỏi.

7 thg 5, 2013

Những con rận ở trong quần


Những con rận ở trong quần


Ngô Nhân Dụng

Ðọc các tin tức về hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Cộng Sản Việt Nam đang diễn ra ở Hà Nội, bỗng nhiên lại nhớ đến một đoạn văn trong Tấn Thư. Ðoạn văn nay nói về “Những con rận ở trong quần,” phê bình thái độ và hành vi của những người thuộc loại “hủ nho,” chỉ sống trong các giáo điều rỗng tuếch trong lúc xã hội băng hoại, kinh tế suy sụp, đạo lý suy vi, không còn ai tin vào một trật tự tinh thần nào nữa.

Theo báo Người Lao Ðộng, Hội nghị Trung ương Bảy đang “xem xét, quyết định các vấn đề lớn” của nước Việt Nam, trong đó có vụ “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị; Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Sơ kết 1 năm thực hiện nghị quyết trung ương 4; Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược...” Ðọc bản chương trình nghị sự này, điều đáng chú ý không phải là quý vị ủy viên trung ương đảng sắp bàn những chuyện gì. Ðáng kinh ngạc nhất là những chuyện họ không bàn!
Bài diễn văn khai mạc của ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra một thực đơn sáu món, trong đó không có món nào liên quan đến những vấn đề sôi bỏng của đất nước! Kinh tế chậm lụt, không. Tham nhũng lộng hành, không. Trẻ em thất học, sinh viên ra trường thất nghiệp, cũng không. Tất nhiên họ không bàn về bản án xử ông Ðoàn Văn Vươn, nhưng cũng không hề nói câu nào đến vấn đề quyền sử dụng ruộng đất của nông dân, không nghĩ tới những oan khuất của đồng bào Dương Nội, Vụ Bản, vân vân. Không một câu nào nhắc tới mối đe dọa của Trung Quốc trên biển Ðông với những hành động gây hấn trắng trợn.
Hội nghị Trung ương Bảy không màng đến những vấn đề đó; nhất là vấn đề quốc phòng. Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản làm như không hề biết đến “cuộc chiến tranh tàng hình” mà giới lãnh đạo Bắc Kinh đang thực hiện trong vùng Ðông Nam Á. Xin quý vị độc giả đọc Lê Phan trên nhật báo Người Việt, giới thiệu bài “China's stealth wars of acquisition” của Brahma Chellaney trên nhật báo Japan Times ngày 29 Tháng Tư, 2013. Brahma Chellaney đã vạch ra những chiến thuật chiến tranh tàng hình của Bắc Kinh; sử dụng khí cụ chiến tranh rất đa dạng. Họ lập các đập trên thượng nguồn các sông chảy qua vùng Ðông Nam Á để sau này sẽ kiểm soát cả nguồn sống lúa gạo của các nước phía dưới. Họ dùng từ chiến tranh kinh tế cho đến việc thành lập một loạt các chiến binh trá hình (stealth warriors) núp bóng dưới các cơ quan bán quân sự, như hải giám, ngư chính và cơ quan quản trị hải dương. Chellaney nhắc lại Mao Trạch Ðông vẫn tâm đắc một quy tắc của Tôn Tử: “Khuất phục được địch thủ mà không cần đánh trận mới là chiến lược tối hảo.”
Thay vì lo suy nghĩ về mối nguy hiểm mà nước Việt Nam đang phải đối đầu, trung ương đảng sẽ họp nhau 10 ngày để bàn những vấn đề có thể nói là “chuyện nội bộ,” trong đảng với nhau, dân chúng sống thế nào, an ninh của đất nước sẽ ra sao, họ không cần bàn tới. Thái độ đó không khác gì các hủ nho tiếp tục ngồi rung đùi bàn những câu “chi, hồ, giả, dã” trong lúc dân chúng ở Lạc Dương, kinh đô nhà Tấn đang chết đói và các đạo quân Ngũ Hồ đang đe dọa ngoài biên ải.
Nhà báo tự do Người Buôn Gió đã nhận xét về bài diễn văn của Nguyễn Phú Trọng và “dịch nghĩa ra,” cho người bình dân hiểu các câu văn đầy “chi, hồ, giả, dã” trong bài diễn văn rỗng tuếch đó. Người Buôn Gió tóm tắt rằng: Lần họp này đảng sẽ chỉ bảo ban nhau, không có ai bị đe dọa kỷ luật hay xử lý hết; nhân sự chủ chốt từ nay đến 2016 chả có gì thay đổi, ai nguyên vị trí đấy; nhưng sẽ có thêm nhiều dư luận viên, tuyên truyền viên để “dân vận”; và chắc chắn sẽ giữ nguyên điều 4 hiến pháp bằng mọi giá.
Muốn thưởng thức phong cách văn chương “chi, hồ, giả, dã” của bọn hủ nho thời nay, quý vị chỉ cần đọc bất cứ một đoạn nào trong bài diễn văn khai mạc của ông Nguyễn Phú Trọng. Thí dụ, ông dặn dò các ủy viên trung ương thế này: “Tinh thần chung là phải... kiên trì những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc về bản chất của chế độ chính trị và nhà nước ta, tiếp tục khẳng định nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nòng cốt là liên minh giai cấp công-nông và đội ngũ trí thức...”
Toàn những chữ nghĩa viển vông nghe đã chán lỗ tai. Nếu quý vị đã ù tai, thì xin nhảy qua đọc đoạn dưới. Nếu chưa, thì xin đọc tiếp; chúng tôi hứa sẽ không trích dẫn nhiều. Tới một đoạn khác, ông Nguyễn Phú Trọng tự thú nhận “Vai trò lãnh đạo của cấp ủy và tổ chức đảng chưa được phát huy đầy đủ; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chậm được nâng cao; việc đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt Trận Tổ Quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội chưa mạnh, tình trạng ‘hành chính hóa’ chậm được khắc phục...” Nếu còn sức, xin đọc tiếp văn chương của ông Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta cần xác định đúng mục tiêu, yêu cầu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và nhiệm vụ, giải pháp để đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới...”
Ðọc tất cả các khẩu hiệu ròn tan, những “phát huy,” “nâng cao,” “khắc phục;” từ 60, 70 năm nay, người dân và các đảng viên nào không thấy chán ngấy thì chắc tai đã điếc rồi. Nhưng thế nào sau hội nghị họ cũng sẽ còn “tổng kết” bằng cách nhắc lại các chữ tương tự, nghe kêu oang oang nhưng hoàn toàn viển vông và rỗng tuếch. Quang cảnh giống hệt như các hủ nho đời Tấn thời xưa ngồi rung đùi bàn nhau các “chữ nghĩa thánh hiền!” Họ làm như không biết tất cả các khẩu hiệu trong “kinh điển” đã cạn hết ý nghĩa và mất hết hiệu lực. Bởi vì dân phải nghe nhiều quá đã hết tin. Ngay đến những kẻ cầm quyền cũng không còn ai nghe và chắc chắn không ai làm theo nữa. Trong lúc đó dân chúng lo chết đói, nước đang lâm nguy vì nạn ngoại xâm.
Chính vì vậy mà trong khi đọc bài diễn văn của ông Nguyễn Phú Trọng, phải nhớ ngay đến một đoạn văn trong Tấn Thư, tức lịch sử triều đại nhà Tấn ở bên Tàu (265-420). Từ gần một thế kỷ trước đó, nước Trung Hoa rơi vào một thời kỳ khủng hoảng, dẫn tới hỗn loạn, tan rã. Cảnh suy đồi bắt đầu từ năm 184 khi dân đói nổi lên gây Loạn Khăn Vàng, trải qua thời Tam Quốc, sang đến nhà Tấn, Loạn Ngũ Hồ, Nam Bắc triều, vân vân; kéo dài cho đến năm 589 khi nhà Tùy thống nhất Trung Quốc trở lại.
Trong thời gian đó, các hủ nho ở nước Tàu vẫn không tỉnh giấc trước cảnh xã hội suy đồi. Họ vẫn tiếp tục nói những chuyện viển vông nhưng đầy chữ nghĩa thánh hiền nhưng không dính gì đến đời sống thực. Có người so sánh họ giống như “những con rận,” giống vật ký sinh không bao giờ dám rời khỏi “cái quần giáo điều”. Tấn Thư ghi lại những lời phê phán như sau: “Các ông có bao giờ thấy một con rận sống trong cái quần hay không? Nó chạy từ một đường chỉ khâu, trốn vào lỗ rách trong miếng vải độn, và nó coi đó là ngôi nhà êm ấm của mình. Khi dạo quanh, nó cũng không dám (chệch hướng) ra bên ngoài cái đường khâu; khi di chuyển nó không dám chui ra khỏi phạm vi của cái quần (ý thức hệ). Nhưng nó vẫn tự coi cuộc đời như thế là mãn nguyện lắm rồi. Khi đói, nó cắn người ta, coi cái anh chàng mặc quần đó là một nguồn tài nguyên vô tận cho nó hưởng. Nhưng rồi lửa bốc từ trên đồi lan xuống đốt trụi các làng mạc. Con rận bị cháy, đành chịu chết trong cái quần (giáo điều) vì không thể thoát ra được. Quý vị “quân tử” đang sống gói kín trong thế giới của mình, hãy ngẫm xem mình có giống con rận sống trong cái quần hay không?” (Tấn Thư, chương 49)
Xin quý vị ủy viên trung ương đảng đang họp ở Hà Nội tha lỗi; mục này không có ý so sánh quý vị giống như những con rận. Vì người viết không quen biết ai trong số hàng trăm vị đang nhóm họp, không có ý nói xấu bất cứ cá nhân nào. Nhưng đọc bài văn chương đầy khẩu hiệu của ông Nguyễn Phú Trọng thì không thể nào không nhớ đến đoạn Tấn Thư trên. Cách ví von trong bài không nhắm vào một cá nhân hay tập thể nào cả; mà chỉ nói về một hiện tượng chung trong lịch sử nước Tàu. Nghe cho biết để tránh đừng để tái diễn, tiếp tục diễn mãi trong lịch sử nước ta.

15 thg 3, 2012

Chiến Dịch Vận Động Nhân Quyền tại Tòa Bạch Ốc


Jackie Bông

Tuy tôi ghi danh với đài truyền hình SBTN-DC để đi vào Tòa Bạch Ốc (TBO) ngày 5 tháng 3, nhưng tôi đại diện cho Mạng Lưới Nhân Quyền. Có 165 đại biểu được chánh thức có giấy mời vào, nhưng giờ chót, có thêm 30 thành viên cộng đồng và báo chí từ xa đến cũng được lọt vào sổ. Cho nên con số đại biểu lên đến gần 200 người tất cả. Sự việc nầy xẩy ra là đễ đáp ứng lại chiến dịch ký tên Thỉnh Nguyện Thơ (TNT/Petition, We The People, TBO tạo dựng lên) mà nhạc sĩ Trúc Hồ chủ xướng kêu gọi Tổng Thống Obama can thiệp trả tự do cho nhạc sĩ Việt Khang và các nhà đấu tranh đang ngồi tù tại Việt Nam Cộng Sản.

Sau bốn ngày vận động ráo riết thì TNT được hơn 25,000 chữ ký, một kỷ lục chưa từng thấy trong lịch sử Hoa Kỳ. Vì thế, Tòa Bạch Ốc ngỏ ý mời NS Trúc Hồ và 100 người Việt đại diện vào Nhà Trắng để có một cuộc gặp gỡ. Đến ngày hẹn đi vào Tòa Bạch Ốc là ngày 5 tháng 3, sau ba tuần lễ, thì TNT đã có trên 130,000 chữ ký. Đó là một hiện tượng xuất chúng nói lên lòng hăng say yêu nước và sự đòan kết, tranh đấu của tòan thể người Mỹ gốc Việt trên tất cả các tiểu bang tại Hoa Kỳ.

Hơn nữa, có bà Bảo Khánh, Giám Đóc Đài Việtnam Sydney Radio, bên Úc Châu, cũng như ông Đổ Thông Minh bên Nhật và ông Lại Thế Hùng từ Paris đến, đứng bên ngoài Nhà Trắng, để yễm trợ một ngày lịch sử tranh đấu cho nhân quyền của tất cả nguời Việt,chẳng những tại Hoa Kỳ, mà còn lan rộng trên cả năm châu thế giới.

Chủ đề cuộc gặp gỡ trong Nhà Trắng được gọi lả Briefing with National Vietnamese American Leaders trên màn ảnh chiếu trên tường phòng hợp TBO. Trước khi mở đầu cuộc gặp gỡ nầy thì anh Trúc Hồ tưởng mình đi lầm phòng vì anh giải thích trên đài SBTN-DC sau đó, là anh không thấy có chữ gì đề cặp đến TNT hay hai chữ Nhân Quyền gì cả. Anh yêu cầu Luật Sư Tuyết Dương, nhân viên Tòa Bạch Ốc, một trong những người tổ chức cuộc gặp gỡ nầy, sữa đổi lại là cuộc gặp gỡ với toàn thể người Mỹ gốc Việt – Vietnamese Americans – chớ không phải cho riêng những người lãnh đạo – Leaders – mà thôi. Họ đã đáp ứng và sửa liền chủ đề nầy đúng theo như lời yêu cầu của anh Trúc Hồ là Briefing with Vietnamese Americans.

Sau khi ông Jon Carson, Director, Office of Public Engagement, tại White House chào mừng quan khách. thì có ba người trẻ lên sân khấu trình bày quan điểm của mình. Cô Cindy Đinh ở Houston, và anh Billy Le ở South Carolina nói về quá trình hoạt động nhân quyền của hai người trong Đại học và trong cộng đồng của họ. Người thứ ba là ca sĩ Quốc khanh từ California.

Cô Cindy đề cập đến việc cô vào Liên hiệp Quốc năm 2008 để tranh đấu cho nhân quyền. Cô cầm hình của Cha Lý bị bịt miệng, cũng như cô đi vận động với các dân biểu của cô tại Texas để họ can thiệp thả Cha Lý. Cô cũng đề cập đến Dự Luật Nhân Quyền và kêu gọi những nhà lập pháp ở Texas ký tên thông qua. Cô cũng có viết thơ yêu cầu Ngoại Tưởng Condi Rice kêu gọi Việt Nam thực thi nhân quyền tại Việt Nam.

Anh Billy Le nói về viêc anh giúp thành lập Hội Sinh Viên Việt Nam tại các Đại Học ở South Carolina, góp sức với người lớn tuổi làm việc chung cùng một mục tiêu là tranh đấu cho nhân quyền. Anh nói anh cũng hợp tác với nhiều nhóm trẻ khác trên thế giới và dùng những kỹ thuật mới, social media, lập thành một mạng lưới kêu gọi giới trẻ trên tòan cầu, tranh đấu cho có nhân quyền tại Việt Nam.

Sau cùng, ca sĩ Quốc Khanh nói là anh dùng lời ca tiếng hát của mình để tranh đấu cho Việt Khang sớm được tự do. Anh nói Việt Khang là nguồn cảm hứng cho anh để anh định rõ vai trò của mình, một công dân được sống trong tự do. Anh kêu gọi tât cả mọi người cùng anh đòi cho bằng đươc sự công bằng để tất cả công dân Việt Nam được sống với quyền tự do tối thiểu của môt con người.

Sau cùng, Đìều Hợp Viên Tuyết Dương nói Việt Khang là ngọn lửa, là cây đuóc soi sáng cho tất cả cộng đồng Việt Nam hợp lại thành một khối đòan kết lớn mạnh để cuộc gặp gỡ lịch sử ngày hôm nay tại TBO được thành hình. Cô cho đó là ngày đẹp đẽ và hãnh diện nhất của cộng đồng Việt Nam.

Lúc đó thì anh Trúc Hồ bỏ ra ngoài phòng họp TBO, đi ra ngoài công viên Lafayette Park, tiếp xúc với hơn một ngàn người Việt, đi từ nhiều tiểu bang đến, đứng trước Nhà Trắng trong cơn lạnh buốt của tháng Ba. Họ hy sinh, biễu dương nồng nhiệt sự ủng hộ của họ với những đại biểu Việt Nam ngồi bên trong Nhà Trắng để cùng nhau đòi nhân quyền tại Việt Nam. Sau đó, Trúc Hồ cũng giải thích trên đài SBTN-DC là anh giao trọn quyền cho TS Nguyễn Đình Thắng liên lạc với TBO để tổ chức cuộc gặp gỡ nầy. Anh nói là hai người trẻ Cindy và Billy không đi sâu vào đề tài nhân quyền cũng như không đề cập gì đến TNT.

Kế tiếp, diển giả chánh, keynote speaker, là ông Quintan Wiktorowicz, Senior Director of Community Partnerships, National Security Council (Giám Đốc Thâm Niên về Cộng Đồng, Đối tác thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia) tại Tòa Bạch Ốc. Trước hết, ông khen ngợi 130,000 người Việt Nam đồng lòng với nhau hợp tác ký TNT, chứng tỏ là cộng đồng Việt Nam là một khối rất chặt chẽ và vững mạnh để bênh vực và bảo vệ quyền lợi cho cộng đồng sống tại hải ngoại và tại quê nhà.

Ông mong được partner liên hệ đối tác với công đồng Việt Nam trên ba phương diện. Trước hết là 1) Getting to Know, to build trust, làm quen, hiểu với nhau và gây niềm tin cho nhau, 2) thứ nhì là Action & Engagement, tức là giai đoạn bắt tay làm việc, cùng chung đề cập đến những vấn đề then chốt của cộng đồng, và 3) thứ ba, là Partnership, lập ra một liên hệ đối tác giữa cộng đồng vả TBO giúp cho giới chức phụ trách chánh sách trong chánh phủ hiểu rỏ vấn đề để tìm ra những giảii pháp chung hữu hiệu hơn.

Ông cũng đề cập đến vấn nạn buôn người trên phương diện tình dục cũng như việc bóc lột lao động. Ông kêu gọi một triệu rưỡi người Việt sống tại hải ngoại, trong đó có những người thành công về thương mại như 225,000 Vietnamese businessesvà những người chuyên nghiệp, hãy đứng lên, cùng cất tiếng nói, và take action, hành động tranh đấu bênh vực cho quyền lợi của tât cả được bảo vệ.

Thuyết trình đoàn của nhóm thứ ba gồm có ba giới chức trong Bộ Ngoại Giao (BNG) Hoa Kỳ. Đó là các ông Thomas Debass, Director of Global Partnenrships Initiative, Giám Đốc Đối Tác Toàn Cầu, và ông Eric Barboriak, Acting Director, Office Mainland SouthEast Asia, Văn phòng Đông Nam Á Châu Lục Địa, trong đó có Việt Nam, và cuối cùng là Trợ Lý Thứ Trưởng Ngoại Giao, ông Michael Posner, Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor, Văn phòng Dân Chủ, Nhân Quyền, và Lao Động.

Ông Posner là người thương thuyết với các nhà độc tài bên Miến Điện cho đến khi nào bà Aun Sang Su Kyi được thả ra khỏi nhà tù. Ông cũng lót đường cho Ngoại Trưởng Hillary Clinton qua gặp bà Su Kyi, Lãnh Tụ Đối Lập, để Bà nầy được che chở và được tự do vân động tranh cử trong Quốc Hội Miến Điện như hiện nay bà đang làm..

Trước hết, ông Debass cho biết là cách đây bốn năm, bà Ngoại Trưởng Clinton, chủ xướng văn phòng Global Partnership Initiative trong Bộ Ngoại Giao để chánh quyền đặt nặng sự hợp tác rất quan trọng với những nhóm trở thành công dân Mỹ trong cộng đồng Hoa Kỳ. Ông nói có tất cả 62 triệu người Mỹ gốc Phi Châu, Châu Mỹ Latinh, và Á Châu. Ông nói khối mạnh nầy là tài sản và nền tảng (diasporas, assets, bridges), là gạch nối vận động giúp cho chánh quyền Hoa Kỳ thương thuyết trên nhiều phương diện với các quốc gia nguyên thũy mà họ chào đời. Họ giúp đem đến những cải cách và thay đổi dẫn đến dân chủ và hoà bình cho cả hai bên Hoa Kỳ và nơi quê họ sanh ra.

Còn ông Barboriak thì nói đến những hơp tác của các quốc gia trong vùng Đông Nam Á trở thành những liên minh như ASEAN ( Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á), làm việc với những cơ quan quốc tế như World Bank, Liên Hiệp Quốc và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, để các quốc gia trong vùng thành liên minh toàn cầu và trợ gíúpvới nhau (global alliance and global cooperation), thực hiện những chương trình chung, mong đem đến sự cải thiện cần thiết trong đời sống của dân chúng họ. Ông cũng có đề cập đến Việt Nam trong khối đó.

Thứ Trưởng Posner, nói tổng quát về việc văn phòng ông và nhân viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam luôn gặp gỡ, đối thoại thường xuyên với các giới chức Việt Nam về những vấn đề thương mại và nhân quyền ở Việt Nam. Các thuyết trình viên của Bộ Ngoại Giao cũng trã lời thỏa đáng từng câu hỏi của 30 đại biểu về những vụ đàn áp tôn giáo, về các tù nhân lương tâm, về sự bóc lột lao động, về việc bắt bớ những người thiểu số Kmer Krom và Montagnards, cũng như vể những vụ buôn trẻ em và phụ nữ.

Sau cùng, Bà Christina Lagdameo, Deputy Director, White House Initiative on Asian American and Pacific Islanders, kết luận bằng những lời khen ngơi nồng nhiệt cộng đồng Việt Nam chúng ta đoàn kết vượt bực. Bà làm việc trong ba đời Tổng Thống, từ ông Clinton đến ông Bush, và nay ông Obama, nhưng chưa từng thấy cộng đồng Á Châu nào kêu gọi được hơn một trăm ngàn người ký tên tranh đấu cùng chung một chiến tuyến trong một thời gian hết sức ngắn ngủi như thế nầy.

Bà nhắn nhủ chúng ta tranh đấu cho nhân quyền, chẵng những cho những người bé cổ không có tiếng nói tại quê nhà, mà còn giúp đỡ cho những người làm nail tại Hoa Kỳ, không được vào TBO gặp gỡ với giới chức vì trỡ ngại ngôn ngữ. Bà khen ngợi họ cũng là một khối lớn mạnh thành công trong nghề nghiệp, chịu khó làm lụng cực khổ rất nhiều giờ mổi ngày, và phải ngửii mùi thuốc hóa chất nguy hiễm ngày nầy qua năm kia nên sức khõe họ bị giảm sút. Bà nhắn chúng ta giúp thông dịch cho họ nếu họ cần, và cũng giúp cho họ hội nhập vào cộng đồng trong xã hội chúng ta đang sống.

Sau hai tiếng đồng hồ tiếp xúc trong Nhà Trắng, chúng ta thấy những chủ đề gì then chốt mà các giới chức trao đổi với chúng ta? Tại sao hai bên TBO và BNG, sau khi thấy con số chữ ký chúng ta lên cao tột độ, quá mức tưởng tượng của họ, lại đưa những chuyên viên, Giám Đốc những văn phòng về Partnership and Engagement, Đối Tác và Bắt Tay Làm Việc để trao đổi với chúng ta? Họ có ngụ ý gì và mong ước gì đối với chúng ta? Có phải là họ muốn chúng ta hợp tác với họ để trở thành một khối mạnh, đại diện cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, làm gạch nối cho những cuộc thương thuyết sau nầy với nhà cầm quyền Việt Nam chăng?

Họ trình bày là họ đã làm những công việc nầy với những nhóm cộng động khác rồi. Họ nói đây là một bước đầu giữa họ và chúng ta để gặp gỡ, làm quen, thông cảm trước tiên (Getting to know). Họ mong có một bước tiến thứ nhì là Action & Engagement như ông Wictorowigz, GĐ Cộng Đồng Đối Tác thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia trong TBO trình bày rất rỏ những điểm ông đưa ra. Ông kêu gọi chúng ta hợp tác làm chung những công tác quan trọng, thực tế, và có chất lượng mà chánh quyền Obama thiết kế ra.

Jackie Bông có gặp ông Wictorowicz và trao tận tay ông Bản Báo Cáo đầy đủ 55 trang của Mạng Lưới Nhân Quyền trình bày về những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2011. Trước mặt GS Nguyễn Ngọc Bích, người viết bài nầy cũng yêu cầu ông tiếp cận và đối tác với Công đồng Việt Nam trong tuơng lai sắp tới.

Còn 140,000 người trong 50 tiểu bang nước Mỹ kỳ vọng những gì đối với các đại biểu được chọn vào gặp gỡ với các giới chức nầy? Sau khi trình bày sơ lược về nguyện vọng nhân quyền của chúng ta, thì có những bước tiến nào đi kế tiếp? Qúy vị đại biểu nào có thể hy sinh đứng lên đáp lời sông núi, nhận lãnh trách nhiệm, tiếp tục con đường TBO và BNG đã vạch ra cho chúng ta để chúng ta tiếp cận không?

Toàn dân Việt Nam ở hải ngoại và tại quê nhà mong đợi qúy vị đại biểu hợp tác với chánh quyền Hoa Kỳ để đi đến việc tranh đấu cho 90 triệu dân tại Việt Nam được nhân quyền như thế nào? Xin qúy vị kiên trì đi thêm bước thứ nhì cũng như bước thứ ba nữa để làm tròn nghĩa vụ mà dân chúng đang mong đợi, giao phó cho qúy vị. Đây là một con đuờng tranh đấu trường kỳ chông gai và gian khổ, đầy mồ hôi và nước mắt. Anh Trúc Hồ cùng đội banh nhân quyền hùng mạnh của anh hứa sẽ tiếp xúc trực tiếp với Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao. Mong lắm thay!

13 thg 3, 2012

Phỏng vấn TS Nguyễn Đình Thắng về vụ “Thỉnh Nguyện Thư”


LGT: một đề tài thời sự đang được sự quan tâm của đồng hương khắp nơi: vụ gửi Thỉnh Nguyện Thư do Ô Trúc Hồ (SBTN) kết hợp với Ts Nguyễn Đình Thắng (BPSOS). Sự việc này khởi đầu từ đầu tháng 2/2012 và đang tiếp tục diễn tiến. Xin mời theo dõi buổi phỏng vấn của Nguyễn Lê Vũ ( Bút Tre Magazine-Arizona) với TS Nguyễn Đình Thắng để sáng tỏ một số điều quanh sự việc này. Bút Tre hoan nghênh mọi sự lên tiếng khác, đặc biệt là phía Nhạc Sĩ Trúc Hồ để đồng hương có thể nghe được cả hai phía.

1- Nhạc sĩ Trúc Hồ là người gửi TNT lên trang "We the People" và nhanh chóng có con số vài ngàn ngay những giờ đầu tiên. Xin cho hỏi TS gặp nhạc sĩ Trúc Hồ và cùng cộng tác trong chuyện này từ cơ duyên nào và bao giờ?

Trước đây tôi không hề quen biết với Trúc Hồ, chỉ một hai lần gặp chào xã giao.Trung tuần tháng Giêng vừa rồi, một người bạn đã giới thiệu Trúc Hồ với tôi.Qua điện thoại, Trúc Hồ cho biết là rất lo lắng cho sinh mạng của Việt Khang.Tôi hứa là sẽ vận động để dân biểu Ed Royce (Cộng Hoà, CA) lên tiếng về Việt Khang tại buổi điều trần ngày 24 tháng 1 vừa qua.Đây là buổi điều trần về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, chuẩn bị cho việc đưa Đạo Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam vào Hạ Viện. Sau đó tôi có thảo văn thư để SBTN khởi động nỗ lực lấy chữ ký gởi cho Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện để xin họ can thiệp.
Rồi một hôm Trúc Hồ hỏi tôi là có thể làm gì thêm.Tôi hỏi lại, “liệu trong 30 ngày có lấy được 25 ngàn chữ ký không?”, Trúc Hồ cam đoan rằng được.Tôi hướng dẫn Trúc Hồ vào trang “We the People” của Toà Bạch Ốc. Trúc Hồ rất phấn khởi và xông trận. Thấy vậy, tôi cũng xắn tay áo lên để hỗ trợ.

2- Thỉnh nguyện thư gửi ra và được hưởng ứng nồng nhiệt qua hệ thống truyền thông SBTN và sự cộng tác đắc lực của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển. Xin hỏi với những vị cao niên không biết sử dụng computer thì BPSOS đã giúp họ "ký" như thế nào?
Trúc Hồ với tôi biết trước rằng nhiều bác cao niên sẽ lúng túng trong việc ký thỉnh nguyện thư trực tuyến. Do đó bên SBTN sắp xếp dàn máy điện toán ở ngay cơ sở của họ ở Quận Cam và kêu gọi thiện nguyện viên giúp đỡ các bác cao niên ký tên. Còn chúng tôi thì huy động hệ thống 10 văn phòng của BPSOS ở các nơi khác, vốn đã có sẵn các “trung tâm điện toán cộng đồng” để nhập cuộc. Đồng thời, chúng tôi vận động mạng lưới của trên 700 chuyên gia trẻ và sinh viên tham gia. Trong những ngày đầu của chiến dịch, họ là đội ngũ tiên phong đưa số người ký thỉnh nguyện nhanh chóng vượt qua mốc điểm 25 ngàn. Trong những tuần sau đó một số người trong đội ngũ này đã tự động đặt bàn với máy điện toán ở các nơi công cộng để vận động và giúp đỡ đồng hương ký trực tuyến.

3- Trong bức thư đầu tiên gửi ra vào đầu tháng 2/2012, TS có viết rằng : quý vị có thể vào trang web của "Tuổi Trẻ Yêu Nước" để biết thêm tin tức. Cho hỏi TS đã biết tổ chức này từ bao giờ, sự giao thiệp giữa TS và ông Vũ Trực?
Tôi chỉ biết về nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước qua vụ Việt Khang.Tôi có gặp Vũ Trực một lần cách đây vài năm tại Đại Hội Liên Mạng tổ chức ở Houston.Sau đó không liên lạc gì và cũng không nhớ mặt.Tôi làm quen với Vũ Trực là qua vụ Việt Khang.

4- Đa số mọi người đoán rằng dù Nhạc Sĩ Trúc Hồ là người đưa ý kiến và tác giả TNT nhưng TS là người thông thạo Hoa Thịnh Đốn nên đã “lobby” khá nhiều. Như vậy tại sao trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch TNT, chúng tôi không thấy đôi bên hợp tác để có một Ban Tổ Chức, một phát ngôn nhân chính thức?
Chiến dịch thỉnh nguyện thư là do Trúc Hồ và SBTN chủ trương và khởi xướng. Tôi có hướng dẫn cho Trúc Hồ về trang “We the People” để làm thỉnh nguyện thư trực tuyến. Thực ra chiến dich thỉnh nguyện thư thuần tuý thì đâu cần ban tổ chức. Bên SBTN thì vận động khán thính giả của mình còn chúng tôi thì huy động tầng lớp sinh viên và chuyên gia trẻ cũng như các văn phòng BPSOS ở nhiều nơi trên nước Mỹ để cùng góp tay cho chiến dịch. Chỉ sau này, khi thấy chiến dịch diễn tiến khả quan, chúng tôi đề nghị thêm với bên Toà Bạch Ốc để có buổi tiếp xúc.Và để chuẩn bị thì tôi có mời SBTN cử người cùng tham gia các buổi làm việc với bộ phận tổ chức của Toà Bạch Ốc. Ngoài ra tôi cũng mời thêm một số người nữa thuộc các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền của người Việt cùng tham gia các buổi làm việc như vậy.
Còn vấn đề tổ chức thì cũng đơn giản thôi. Tổ chức cho ngày 5 tháng 3 là SBTN còn ngày 6 tháng 3 là BPSOS.Tôi đã giới thiệu một số nhân sự của SBTN để làm việc trực tiếp với Ls Tuyết Dương trong việc sắp xếp cho ngày 5 tháng 3. Họ đã chỉ định Ls Đỗ Phủ làm người liên lạc để phối hợp với bên Toà Bạch Ốc.
Và chúng tôi đã đồng ý là chỉ có hai phát ngôn nhân chính thức: Trúc Hồ và tôi. SBTN nhận trách nhiệm sẽ đưa ra bản thông cáo báo chí trước khi phái đoàn vào Toà Bạch Ốc và bản tin ngay sau đó, xem như đấy là quan điểm chính thức củanhóm tổ chức. Nhưng khi thực hiện thì bị trục trặc nênkhông có thông cáo báo chí mà cũng chẳng có bản tin, trong khi đó lại có vài người tự dưng cũng phát ngôn và trả lời báo chí. Riêng tôi thì cùng với phái đoàn cộng đồng Arizona phải họp với Thượng Nghị Sĩ John McCain nên không về kịp để tham dự buổi họp báo.Có lẽ một phần vì vậy nên có sự trục trặc về người phát ngôn và trả lời báo chí.

5- Trong một bài viết mới đây, TS nhấn mạnh chiến dịch này đã được giới trẻ hưởng ứng ngay những ngày đầu khi các vị cao niên còn đang lúng túng và sắp tới đây, cũng sẽ có nhiều "người trẻ" vào Tòa Bạch Ốc. Nếu được, xin TS có thể cho chúng tôi biết về 2 người trẻ đã vào Tòa BO? Và cơ duyên nào TS "biết" những tài năng trẻ này?Phải chăng từ "Đại Hội Leader" của Ts được tổ chức hàng năm?
Ban đầu tôi đề nghị với Toà Bạch Ốc một số người như: cựu DB Cao Quang Ánh, Uỷ Viên Quận Tarrant Nguyễn Xuân Hùng, Chủ Tịch Hội Nhân Quyền Cho Người Montagnard; Ông Rong Nay, Chủ Tịch Nghị Hội Người Việt Toàn Quốc Tại Hoa Kỳ; Ông Nguyễn Ngọc Bích, trưởng nhóm các gia đình Cồn Dầu; anh Trần Thanh Tùng, Chủ Tịch Hội Khmer Krom; Ông Giáp Trần, Hoà Thượng Thích Viên Lý đại diện cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Chủ Tịch Uỷ Ban Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản Bác Sĩ Nguyễn Quốc Quân…Nhạc Sĩ Trúc Hồ thì sẽ trao thỉnh nguyện thư và tôi thì sẽ trao danh sách các tù chính trị, tôn giáo và lương tâm.Cả hai sẽ không phát biểu.
Ban tổ chức bên Toà Bạch Ốc cắt xuống còn 3 người và yêu cầu có những người trẻ tuổi tham dự. Tôi đề nghị 3 người: cựu DB Cao Quang Ánh, nữ BS Hồ Trâm thuộc Hội Văn Hoá Khoa Học, và Ông Rong Nay. DB Ánh sẽ phát biểu về tình trạng đàn áp tôn giáo, BS Trâm trình bày về sựđàn áp những người bất đồng chính kiến, và Ông Rong Nay lên tiếng vềsựđàn áp nhắm vào các đồng bào thiểu số Montagnard, Hmong và Khmer Krom. Cả DB Ánh và BS Trâm có thể xem là thành phần trung niên, tương đối trẻ.
Bên Toà Bạch Ốc cho biết là DB Cao Quang Ánh, vì là cựu dân biểu nên phải gởi qua bộ phận đặc trách mời các giới chức dân cử chuẩn duyệt và tiến trình chuẩn duyệt này rất lâu, e không kịp.Tôi lại đề nghị Ông Nguyễn Xuân Hùng, nhưng cũng được trả lời như trên.Trong khi ấy thì BS Trâm cho biết vì bận việc riêng nên không thể tham dự và đề cử cô Cindy Đinh thay thế.
Tôi biết Cindy từ lâu.Cô ấy là thành viên của Hội Văn Hoá Khoa Học, rất có lòng và không thuộc đảng phái nào cả. Tôi nhấn mạnh điểm này vì ngay từ đầu tôi quan niệm rằng đây là nỗ lực chung của quần chúng với mong ước tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê hương và dân tộc. Còn các đảng phái có mục tiêu tối hậu là giành quyền lực và nắm chính quyền, không phù hợp và có thể làm hỏng ý nghĩa của chiến dịch thỉnh nguyện thư.
Bên Ông Rong Nay đề cử một luật sư trẻ là cô Anna Buonya.
Vẫn còn thiếu một người. Tôi bèn hỏi han những sinh viên mà tôi biết. Các em đề nghị một người bạn là Billy Lê, một người mà tôi chỉ gặp thoáng qua một lần ở Hội Nghị của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Bắc Mỹ ở Denver năm ngoái. Khi liên lạc, tôi hỏi ngay Billy là có thuộc đảng phái nào không. Em khẳng định là không, “em hoàn toàn độc lập.” Tôi tin vào sự trong sáng và chân thật của người trẻ ấy.
Phút cuối, ban tổ chức của Toà Bạch Ốc cắt đi phần trình diễn của ASIA , và đổi lại là cho thêm một người nữa phát biểu.Tôi hỏi thăm thì Trúc Hồ đề nghị ca sĩ Quốc Khanh.
Ở đây tôi muốn mở ngoặc là cô Anna đã không kịp vào bên trong để phát biểu vì phái đoàn Montagnard đã bị sót tên vào phút chót, mặc dù trước đó đã có trong danh sách để vào Toà Bạch Ốc. Chờ quá lâu, họ bỏ về. Tôi cảm thấy hết sức áy náy vì họ đã lặn lội từ North Carolina , bỏ công việc để tham dự. Họđã thức thâu đêm để soạn thảo bản thuyết trình để rồi cuối cùng về không.
Trong cả 4 người trẻ được chọn phát biểu thì chỉ có Cindy là tham gia Hội Nghị Những Người Lãnh Đạo Mỹ Gốc Việt lần đầu tổ chức ngày 2 tháng 7 năm ngoái ở Hoa Thịnh Đốn.

6- LS Tuyết Dương giữ nhiệm vụ gì trong Tòa Bạch Ốc và với mối giao tình cũ khi LS Tuyết còn là nhân viên BPSOS, LS Tuyết đã đóng góp gì cho chiến dịch TNT này?
LS Tuyết Dương đã thôi việc với BPSOS từ lâu. Sau đó cô làm việc cho tổ chức Asian American Justice Center, rồi làm cho Bộ Nội An, và được đề cử sang làm việc trong bộ phận đặc trách cộng đồng Á Châu của Toà Bạch Ốc. Dĩ nhiên là người Việt nên LS Tuyết có cảm tình đặc biệt với cộng đồng chúng ta và cô đã hết sức vận động cho cộng đồng Việt có được tiếng nói. Nhưng chính cô lại bị áp lực từ bộ phận khác của Toà Bạch Ốc để cắt lẹm dần đi chương trình đãđược đồng ý từ trước.
Có lẽ có người sẽ thắc mắc tại sao lại có hai bộ phận trong Toà Bạch Ốc trống đánh xuôi kèn thổi ngược.Đó là việc rất bình thường trong hệ thống chính quyền ở các quốc gia dân chủ, mà chúng ta quen gọi là nguyên tắc cân bằng và kiểm soát (check and balance).
Điều hơi trớ trêu là bộ phận kia của Toà Bạch Ốc đã nhập cuộc sau khi một vị dân biểu ở Bắc Cali, vì muốn yểm trợ chúng ta, đã gọi thẳng vào Toà Bạch Ốc để cằn nhằn rằng tại sao Hành Pháp Obama đã không lắng nghe tiếng nói của tập thể người Mỹ gốc Việt từ đầu để đến giờ cả tập thểấy phải lên tiếng rầm rộ qua thỉnh nguyện thư. Chính cú điện thoại trực tiếp này đến giới chức cao cấp của Toà Bạch Ốc đã đánh động bộ phận kia nhập cuộc. Họ cảm thấy phải hết sức cẩn thận để tránh những việc xảy ra ngoài ý muốn và có thể trở thành xì-căng-đan ngay trong Toà Bạch Ốc vào giữa mùa tranh cử.
Điều này tôi hiểu được và thông cảm. Nhưng những người ở ngoài cuộc vì thiếu thông tin nên đã có nhiều suy diễn không chính xác chút nào.

7- Nhóm phóng viên của báo Calitoday cho rằng 2 thuyết trình viên trẻ đã không phát biểu vào ý chính của petition, xin TS giải thích?
Như đã nói trên, một bộ phận rất cao cấp của Toà Bạch Ốc nhập cuộc và muốn giới hạn những rủi ro có thể xẩy ra. Thay vì thuyết trình, họ đổi sang kiểu hỏi đáp. Và những câu hỏi đã được soạn trước, hỏi gì thì trả lời theo đấy. Tuy nhiên tôi thấy đây không phải là vấn đề phải quan tâm gì cả. Trong sự sắp xếp, tôi đã làm việc trước với Quốc Khanh để Quốc Khanh là người nói về thỉnh nguyện thư, về nhạc sĩ Việt Khang. Không ai khác hơn Quốc Khanh có thể nói về điều này và Quốc Khanh đã nói bằng con tim, làm xúc động cả hội trường. Hai người kia thì nói về sự dấn thân của những người sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ cho nhân quyền Việt Nam . Gom lại thì các lời phát biểu bổ trợ cho nhau thay vì trùng lập.

8-Sau khi vào Tòa BO, trong buổi tường trình, Ban Tổ Chức gồm Nhạc Sĩ Trúc Hồ và Việt Dzũng đã có những phát biểu như: nơi tiếp không xứng đáng với con số 130,000 chữ ký, nhân viên cấp thấp, thuyết trình viên trẻ không nói vào chủ đề…, xin TS giải thích?
Tuần ngay trước ngày 5 tháng 3, tôi có tham dự buổi briefing của Tổng Thống Obama, cũng tổ chức ngay tại hội trường tiếp đón phái đoàn người Việt. (Xem thêm tin tức tại đây:http://www.whitehouse.gov/blog/2012/02/21/president-obama-got-done-because-you.) Do đó, nếu nói rằng nơi tiếp không xứng đáng thì không đúng. Có lẽ những ai nghĩ vậy là do không quen với sinh hoạt ở Toà Bạch Ốc.
Có một yếu tố nữa mà chúng ta phải biết để thông cảm.Số người tham dự từ phía chúng ta kháđông và ban tổ chức của Toà Bạch Ốc chỉ có hai tuần để sắp xếp. Họ phải chạy đôn chạy đáo để tìm phòng. Cuối cùng họ tìm được hội trường lớn nhất mà còn lấy được. Đó là South Court Auditorium nằm trong Eisenhower Executive Office Building là phần nối dài của Toà Bạch Ốc, nơi Phó Tổng Thống và nhân viên của Ông làm việc.
Còn thế nào là thấp, thế nào là cao thì đó làý kiến chủ quan của mỗi người.Tham dự có ba vị giám đốc văn phòng của Toà Bạch Ốc và Bộ Ngoại giao. Không những vậy, còn có vị Phụ Tá Ngoại Trưởng, Giám Đốc Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động Mike Posner tham gia. Ông ta là người đã mở đường cho Hoa Kỳ vào Miến Điện trong thời gian qua.Nếu có ai đó cho rằng đó là thấp, không tương xứng thì tôi cho rằng quá khắt khe.
Khi làm việc với Toà Bạch Ốc để chuẩn bị cho ngày 5 tháng 3, tôi đề nghị mời các giới chức liên quan đến nội dung của thỉnh nguyện thư: vận dụng cơ hội thương thảo mậu dịch với Việt Nam để đòi hỏi nhân quyền. Ông Mike Posner là giới chức cao cấp nhất của Bộ Ngoại Giao về nhân quyền.Tôi đề nghị mời Phụ Tá Ngoại Trưởng Kurt Campbell, Giám Đốc Vụ Đông Á và Thái Bình Dương -- Việt Nam nằm dưới bộ phận này của Bộ Ngoại Giao.Người thứ ba, mà đích thân tôi mời, là Bà Barbara Weisel, người đặc trách khu vực Đông Nam Á của Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ; bà là người chịu trách nhiệm thương thảo mậu dịch với chính quyền Việt Nam. Văn thư trả lời thỉnh nguyện thư của chúng ta có lẽ sẽ do Ông Posner đảm nhận trách nhiệm soạn thảo với sự hội ý với hai người kia.
Ông Posner đã hiện diện. Ông Campbell cử vị phụ tá là Eric Barboriak, Quyền Giám Đốc Văn Phòng đặc trách khu vực Đông Nam Á có Việt Nam, tham dự. Bà Weisel trả lời là phải đi công tác xa nhưng có theo dõi chiến dịch thỉnh nguyện thư và sẽ hội ý với các giới chức hiện diện.
Còn các bạn trẻ không nói vào chủ đề thì như đã giải thích ở trên, họ được đặt cho câu hỏi để trả lời. Và họ đã thay phiên nhau nói về các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do, và chiến dịch thỉnh nguyện thưcũng như vai trò của người trẻ và giới nghệ sĩ trong cuộc vận động cho nhân quyền ở Việt Nam, tất cả trong phạm vi thời gian rất hạn chế.

9- Chúng tôi có nghe và được biết TS chủ trương đưa người trẻ vào phát biểu tại Tòa BO. TS nhắc đi nhắc lại rằng đây là những người trẻ, sinh ra hay lớn lên ở hải ngoại, không dính líu đến quá khứ.Ý của TS là gì khi muốn giới thiệu như vậy?
Như đã giải thích, trước hết là Toà Bạch Ốc yêu cầu những người trẻ vì quan tâm của Hành Pháp Obama là nhắm vào thế hệ tương lai. Nương vào đấy tôi thấy rằng có thể gởi đến Toà Bạch Ốcmột thông điệp mà họ cảm nhận được: nhân quyền là vấn đềchung, thể hiện những giá trị của dân tộc Hoa Kỳ. Những người trẻ Việt sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ là người Mỹ và cũng theo đuổi các giá trị này, nhưng vì họ mang dòng máu Việt nên quan tâm của họáp dụng vào tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Đó là một thông điệp mạnh mẽ: Mọi thành phần người Mỹ gốc Việt đều quan tâm như nhau, chứ không phải chỉ có những ai lớn lên ở Việt Nam , kinh qua cuộc chiến Việt Nam mới quan tâm.

10- Vấn đề nhân quyền đã được nói tới nhiều lần. Lần này cũng sẽ như những lần trước hay có gì khác, thưa TS?
Đúng vậy.Trong suốt 37 năm qua cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳđã nhiều lần lên tiếng về nhân quyền.Nhưng lần này có hai điểm khác.
Thứ nhất là lần này có sự phối hợp hài hoà giữa vận động hậu trường và vận động quần chúng.Vận động hậu trường là hình thức vận động có tính cách chuyên môn, xảy ra trong hậu trường để trao đổi thông tin và thương lượng về chính sách.Theo bản chất, vận động hậu trường cần kín đáo, không trưng hình chụp, không công bố báo chí.
Vận động quần chúng thì ngược lại, mang tính cách biểu dương thanh thế nhằm tạo áp lực, cần phô trương càng nhiều càng tốt.Tuy nhiên vận động quần chúng tự nó không dẫn đến việc thay đổi chính sách vì môi trường công cộng hay diễn đàn công chúng không phải là nơi để trao đổi về vấn đề chính sách. Biết phối hợp nhịp nhàng hai hình thức hành động sẽ giúp tăng hiệu quả của nỗ lực vận động.
Đặc điểm thứ hai là sự tham gia của lớp trẻ, rất trẻ, mà trước đây nhiều người trong chúng ta bi quan về mức độ quan tâm của họ đối với cộng đồng và dân tộc. Trong cả chiến dịch thỉnh nguyện thư vừa qua thì các em ấy đã đóng vai trò tiên phong, có khi còn là chủ lực. Nhiều nhóm trẻđã tự phát đặt bàn ở những nơi công cộng để vận động và giúp bà con ký thỉnh nguyện thư. Chuyển qua cuộc vận động ở Quốc Hội, nhiều em đã sẵn sàng hướng dẫn và thông dịch cho các cô, chú, bác. Các em rất phấn khởi và nhiều em đã liên lạc với tôi trong mấy ngày qua, ngỏý muốn học hỏi thêm về kinh nghiệm vận động hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ. Thấy các em hoà mình với cộng đồng trong 30 ngày của chiến dịch, tôi có thêm niềm tin cho tương lai của cộng đồng và tiền đồ của dân tộc.

11- Theo kinh nghiệm của TS, để những nguyện vọng của chúng ta có kết quả, chúng ta phải đi những bước gì sau khi đệ nạp cho cơ quan cứu xét? Cụ thể, sau khi trình thỉnh nguyện thư về “nhân quyền cho Việt Nam ”, giai đoạn tiếp theo là gì?
Các bước kế tiếp gồm có:
Cung cấp ngay cho Bộ Ngoại Giao các thông tin cập nhật và danh sách 600 tù nhân chính trị, tôn giáo và lương tâm vì tuần tới đây một nhân viên cao cấp của Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động sẽ đi Việt Nam để nêu vấn đề nhân quyền.
Liên lạc tất cả các văn phòng Dân Biểu và Thượng Nghị Sĩ đã tiếp xúc để cảm ơn và nhắc nhở họ về những đề nghị của mình.Một ngày họ gặp vài chục nhóm và phải lắng nghe vài chục vấn đề khác nhau.Nếu không nhắc nhở thì họ sẽ quên vấn đề của chúng ta rất sớm.
Tiếp tục hướng dẫn cho đồng hương liên lạc trực tiếp với các vị dân cử qua văn phòng địa phương.Đây là bước để giúp họ chuyển từ vận động quần chúng sang vận động hậu trường. Như đã giải thích, phải vận động hậu trường thì mới mong đạt được sự thay đổi về chính sách.
Nhân đây, xin cảm ơn Báo Bút Tre hỏi câu này. “Những bước tiếp theo” rất quan trọng. Nó thể hiện thái độ của những ai có cách nhìn chiến lược.Và công cuộc mở vận hội để giải thoát dân tộc là công cuộc dài lâu, đòi hỏi cách nhìn chiến lược.Trong cách nhìn chiến lược, mỗi nỗ lực chỉ là một bước trong một hành trình dài. Chiến dịch thỉnh nguyện thư vừa rồi cũng vậy. Nhìn vậy thì không có chuyện thắng hay thua, thành hay bại ở từng bước. Câu hỏi đúng đắn phải là, “ở bước này có những thành quả nào chúng ta gặt hái được để làm nền móng cho những bước tiếp theo?” Do đó chỉ có thành quả nhiều hay ít, chứ không có thắng hay thua. Luận bàn thắng, thua thể hiện cách nhìn không phù hợp với tình hình của đất nước hiện nay.

12-Còn về sự vận động tại địa phương thì sẽ làm như thế nào?
Tôi đã trả lời phần nào câu hỏi này rồi. Các phái đoàn đến từ từng địa phương sẽ phải gởi thư để cảm ơn và nhắc nhở các văn phòng dân cử đãtiếp xúc về các đề nghị của chúng ta. Và sau đó sẽ cần tổ chức thành lập phái đoàn ở từng địa phương để tiếp xúc với chính vị dân cử hay nhân viên của họ tại địa phương nơi mình cư ngụ. Cứ mỗi lần diễn tập như vậy, cộng đồng chúng ta càng thêm kinh nghiệm để rồi khi đồng bào trong nước cần sự yểm trợ quốc tế vận thì tất cả chúng ta đã sẵn sàngđể phối hợp nhịp nhàng cả hai hình thức vận động quần chúng và vận động hậu trường.

13- Dư luận quần chúng có vẻ chờ đợi một lời hứa hẹn là “can thiệp với nhà cầm quyền vc để trả tự do cho Việt Khang”, nay không được như vậy nên họ cho rằng “thất bại”, xin TS giải thích?
Mục tiêu của chiến dịch rất rõ ràng ngay từ đầu: vận động 25 ngàn người ký thỉnh nguyện thư trong 30 ngày để Toà Bạch Ốc có câu trả lời chính thức. Và ngay tại buổi tiếp xúc ở Toà Bạch Ốc, chính Ông Posner đã cho biết là sẽ cử vị phụ tá sang Việt Nam để nêu vấn đề nhân quyền, trong đó có Việt Khang. Có thể những ai thất vọng là người ở ngoài Toà Bạch Ốc hay vào bên trong mà nghe sót điểm này.
Ở đây cần nhắc lại là ngôn ngữ của thỉnh nguyện thư đâu có chỉ đòi hỏi tự do cho riêng Việt Khang, mà là tự do cho mọi tù nhân chính trị, tôn giáo và lương tâm.Có người cũng đã quên điều này.

14- Có người nói rằng lẽ ra TS nên để những người thế hệ gạch nối làm thuyết trình viên thì hay hơn là 2 người quá trẻ của TS? Vì những người trẻ này hoàn toàn không dính líu gì đến cuộc chiến vừa qua, thì sự hiểu biết cũng như mức quan tâm của họ chắc chắn không “sâu sắc”. Chỉ những ai từng trải qua mới có kinh nghiệm bản thân, xin TS giải thích?
Như đã trình bày, tôi đã đề nghị nhiều người phát biểu. Còn chấp nhận là do bên Toà Bạch Ốc. Hơn nữa, những ai hiểu biết về kỹ thuật nghị trường thì ý thức được rằng phải khởi đầu bằng “công tâm” rồi mới “công thành”. Khi Toà Bạch Ốc chọn những người trẻ này, tôi đã nhắc nhở họ là hãy nói bằng con tim chứ đừng lý luận nhiều, hãy đánh động lương tâm của người nghe, nhất là đối với người Mỹ khó cảm nhận được mối quan tâm của chúng tavề Việt Nam vì không cùng chia sẻ kinh nghiệm sống. Tôi nhắc các bạn trẻ hãy nêu lên những gì mà những người Mỹ ấy liên hệ đến được qua chính kinh nghiệm bản thân của họ.Truyền thông chỉ bắt đầu khi có người nghe chứ không phải khi có người nói. Nói cho nhiều mà đối tượng không lắng nghe và tiếp thu thì đâu đã có sự truyền thông? Do đó, truyền thông hiệu quả phải nhắm vào kinh nghiệm của người nghe chứ không thể chỉ nói theo kinh nghiệm của người nói.
Các nhân viên và giới chức Toà Bạch Ốc không chuyên về các lãnh vực nhân quyền, vốn không phải là phần vụ trách nhiệm của họ, nhưng họ có thể đôn đốc các bộ phận hữu trách. Chúng ta cần họ cảm thông bằng con tim và yểm trợ cho chúng ta. Khi nói chuyện với các bộ phận hữu trách, như bên Bộ Ngoại Giao chẳng hạn,thì chúng ta dùng lý, trình bày dữ kiện, và đưa ra giải pháp.Những việc này thuộc vào những “bước kế tiếp” mà chúng ta đã trao đổi ở trên. Muốn có hiệu quả, trong bất kỳ lãnh vực nào cũng vậy, không những phải làm đúng việc mà còn phải làm việc đúng cách, dùng đúng phương tiện.

15- Về những vận động hôm sau ở Quốc Hội, xin chia sẻ?
Hôm sau, có khoảng trên 500 đồng hương (theo danh sách mà chúng tôi có trong tay), đã chia nhau thành gần 50 toán. Họ chia nhau tiếp xúc với trên một trăm văn phòng dân biểu và thượng nghị sĩ. Có nơi thì chính các vị dân cử đã tiếp xúc với phái đoàn, có chỗ thì là nhân viên lập pháp của họ. Điểm mà tôi muốn nhắc nhở là cuộc vận động Quốc Hội quan trọng không kém, có khi còn hơn, cuộc tiếp xúc với Toà Bạch Ốc vì Quốc Hội làm luật và có chức năng theo dõi việc thi hành luật. Vì sự đánh động dư luận của chiến dịch thỉnh nguyện thư, đồng hương chú tâm nhiều đến việc phái đoàn dưới 200 người vào Toà Bạch Ốc mà ít để ý đến việc vận động Quốc Hội với trên 500 người tham dự.
Mục đích của cuộc vận động Quốc Hội là yểm trợ cho hai đạo luật về nhân quyền cho Việt Nam, kêu gọi các vị dân cử yểm trợ tiếng nói của chúng ta với Toà Bạch Ốc, ngăn cản việc cắt giảm trầm trọng chương trình Việt ngữ của đài Voice of America và tài trợ cho các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam.
Cuộc vận động Quốc Hội rơi vào đúng thời điểm quan trọng: ngay ngày hôm sau Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện đã thảo luận và thông qua Đạo Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam .

16-Sau ngày 5/3, với bài của ký giả Phạm Trần, dư luận quần chúng "hồ nghi" về một “thế lực đen tối" đã làm xáo trộn mọi thời khóa biểu của buổi gặp gỡ. TS có thể cho biết sự thật? Có đảng phái nào tham dự vào việc này không?
Làm gì có đảng phái người Việt nào có khả năng ấy.Có chăng thì chỉ chạy vòng ngoài thôi.Và cũng chẳng có thế lực đen tối nào cả. Như giải thích ở trên, sau khi một vị dân biểu Liên Bang, vì muốn ủng hộ mình, gọi điện thoại thẳng vào Toà Bạch Ốc làm toáng lên nên đã “bứt mây động rừng” và một bộ phận cao cấp hơn của Toà Bạch Ốc (đó là bộ phận An Ninh Quốc Gia với tư cách cố vấn cho Tổng Thống), đã nhập cuộc. Họ thu hẹp dần chương trình lúc ban đầu, kể cả cắt luôn phần phát biểu của người Việt, cắt phần trình diễn văn nghệ và cấm báo chí, cho ăn chắc. Văn Phòng Tiếp Cận Quần Chúng (Office of Public Engagement) phải tranh đấu mãi mới giữ lại được phần phát biểu, nhưng bị thu ngắn lại và dưới hình thức hỏi đáp.
Người viết lẽ ra đã phải truy cứu và phối kiểm nguồn tin trước khi viết bài theo tính cách “conspiracy theorist”, tức là giả thuyết có âm mưu nào đó ở đằng sau. Chỉ cần dăm cú điện thoại đến vài ba người trong cuộc thì, chỉ trong nửa giờ đồng hồ chuyện trò, vấn đề sáng tỏ ngay thôi. Đó là cung cách chuyên môn của một ký giả.
Vì Bút Tre dùng chữ “hồ nghi”, tôi muốn nhắc nhở đến nguyên tắc “lợi ích của sự hồ nghi” (benefit of the doubt), nghĩa là khi mình còn hồ nghi về một con người, một hành động thì phải nghĩ rằng người ấy tốt, hành động ấy có ý tốt cho đến khi có chứng cớ ngược lại không thể chối cãi, chứ không phải chỉ dựa vào suy diễn hay cáo buộc. Áp dụng vào luật pháp thì là “vô tội cho đến khi chứng minh là có tội”. Các xã hội thiếu nhân bản thì ngược lại: “có tội cho đến khi chứng minh là vô tội”. Chúng ta ở Hoa Kỳ đã lâu thì cũng nên thấm nhuần đạo đức nhân bản này của Hoa Kỳ, vốn rất cần thiết để hoà mình vào nền dân chủ ở xứ này và rồi truyền đạt tinh thần ấy cho đồng bào ở trong nước.
Một số nguyên tắc về đạo đức và hành xử, và ngay cả một số nhận định về sự thiếu đạo đức của một đảng chính trị, tôi đã trình bày nhiều lần trước đây rồi. Có một số bài viết đã được gom lại trong quyển sách Thông Điệp Hy Vọng và Trách Nhiệm mà giờ đây đã có ấn bản điện tử.

17-Ông Trúc Hồ đã lên ngay SBTN để phản đối về việc dòng chữ trong ngày 5/3. Ông cho rằng đây là buổi nói chuyện về thỉnh nguyện thư, không phải là buổi gặp gỡ của các "leader" người Mỹ gốc Việt. Xin TS giải thích?
Đây là một vấn đề rất đơn giản nhưng đã đẻ ra nhiều suy diễn đi rất xa với thực tế, cũng do cái bệnh chủ quan của một số người. Hạt đậu chẳng mấy chốc đã ra thành trái núi. Chẳng qua là, ngay từ đầu, nhóm tổ chức của Toà Bạch Ốc rất phấn khởi và đã chạy đôn chạy đáo để tìm một thính đường có thể chứa được nhiều người nhất. Họ tìm được South Court Auditorium và chỉ có chỗ trống vào ngày 5 tháng 3. Đầu tiên tôi đề nghị tổ chức sau ngày 8 tháng 3, sau khi đóng lại chiến dịch, nhưng đành chịu thôi.Thính đường này có 150 chỗ ngồi. Họ dự định xếp thêm 20 ghế nữa, thành ra được 175 chỗ.
Khi tôi báo cho Trúc Hồ, thì Trúc Hồ mừng lắm và cho biết sẽ rút thăm 50 người từ 50 tiểu bang để về dự trong tư cách cá nhân. Trúc Hồ lại muốn thêm 50 chỗ dành cho phái đoàn SBTN, ASIA cũng như một số cơ quan truyền thông đã yểm trợ cho chiến dịch. Do đó SBTN lúc nào cũng nói đến con số 100 mà thôi, làm nhiều người tưởng là sẽ chỉ có 100 người được mời vào Toà Bạch Ốc. Vậy là còn 75 chỗ, tôi bàn với Trúc Hồ là sẽ dành cho những người với kiến thức về nhân quyền, đại diện các tổ chức cộng đồng và nhân quyền, và một số vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo.
Nhưng rồi đến cận ngày thì bên Toà Bạch Ốc cho biết là tối đa chỉ có 165 ghế và có một số người đã được gởi gắm bởi các vị dân biểu và do đó cả bên SBTN và chúng tôi đã phải cắt người xuống. Bên SBTN chỉ còn 15 chỗ để rút thăm người đi với tư cách cá nhân, trong đó lại có vị là nghị viên thành phố và vị kia là cựu tướng lãnh VNCH. Thành ra danh sách cuối cùng nộp cho Toà Bạch Ốc tuyệt đại đa số là những vị đại diện các hội đoàn, tổ chức, tôn giáo, hay là dân cử, chức sắc, nhân sĩ. Có lẽ vì vậy mà bên Toà Bạch Ốc, khi thấy tổ chức và chức vị được liệt kê trong danh sách đã ghi lên màn ảnh cụm từ Vietnamese American Leaders nhằm chứng tỏ sự tôn trọng đối với phái đoàn.
Nhưng Trúc Hồ nghĩ khác, muốn rằng mọi người chỉ đến với tư cách cá nhân. Tôi ở ngoài Toà Bạch Ốc, cố gắng giải quyết cho khoảng 30 người bị sót tên mặc dù trước đó đã nằm trong danh sách, cho đến gần lúc khai mạc mới chạy vào trong để đốc thúc người trong Toà Bạch Ốc ra tận cổng để giải quyết cho số người ấy. Lúc ấy tôi thấy Trúc Hồ không được vui.Tôi hỏi thì được biết là Trúc Hồ không đồng ý với nhóm chữ Vietnamese American Leaders. Tôi chạy ra xem thì thấy có mấy chữ ấy nên quay lại thấy anh Eddie Lee, người phối hợp nhóm tổ chức của Toà Bạch Ốc,đang ngẩn người vì không hiểu tại sao người Việt mình lại giận dữ khi được gọi là “Vietnamese American Leaders”. Chẳng có thì giờ để giải thích, tôi nói với anh ta là đổi thành “Vietnamese Americans” cho êm chuyện. Việc chỉ có vậy và đã được giải quyết nhanh chóng. Tôi thấy là kiểu suy nghĩ “có âm mưu gì đây” đã lây lan sang một số người rồi đó. Đúng là từ hạt đậu, nghi hoặc rồi suy diễn riết thành ra trái núi.
Nếu ai còn nghi hoặc thì nên phối kiểm vì nhiều người bây giờ đã có địa chỉ email của anh Eddie Lee rồi.

18- Đúc kết, theo TS những cái nào là “được” và “chưa được” trong chiến dịch này?
Chiến dịch thu hoạch được nhiều thành quả hơn dự kiến lúc ban đầu. Về công việc thì đã đạt được những điều sau đây:
(1) Chắc chắn sẽ có văn thư trả lời chính thức của Toà Bạch Ốc mà người trà lời có lẽ sẽ là Ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Mike Posner.
(2) Các giới chức liên quan đến thỉnh nguyện của chúng ta đã tiếp xúc với phái đoàn người Việt vào Toà Bạch Ốc. Chỉ có bên Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch là vắng mặt và phái đoàn từ Dallas-Fort Worth đang nhờ Dân Biểu Joe Barton (Cộng Hoà, TX) sắp xếp buổi họp với họ trong thời gian tới đây.
(3) Thông tin cho Quốc Hội biết về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam để họ có hành động thích ứng về cả lập pháp lẫn theo dõi Hành Pháp trong vấn đề thực hiện chính sách.
Về nội lực chúng ta đạt những thành quả sau:
(1) Thu thập kinh nghiệm về vận động quần chúng.
(2) Trên 500 đồng hương vào Quốc Hội tăng thêm hiểu biết và học hỏi kinh nghiệm vận động hậu trường. Họ sẽ đóng vai trò chủ lực cho cuộc vận động tiếp theo ở từng địa phương.
(3) Cuộc tranh luận đang diễn ra trên các diễn đàn internet hay báo chí, truyền thanh, truyền hình là cơ hội để chúng ta rà soát lại khả năng lý luận, tính chất chuyên nghiệp và ý thức dân chủ qua cung cách hành xử. Biết người biết ta thì mới có cơ hội thành công trên con đường dài để giải thoát dân tộc.

19- Tóm lại, về buổi gặp gỡ của các viên chức chính phủ với cộng đồng Việt Nam ngày 5/3 tại Tòa Bạch Ốc thì chúng tôi xin tóm tắt như thế này có đúng không?
Thứ nhất, TS giúp ô Trúc Hồ biết về trang web We the People để gửi TNT. Thứ hai, TS đã vận động để có một buổi gặp gỡ với các viên chức chính phủ. Thứ ba, phía bên Việt Nam gửi danh sách ban đầu khoảng 10, sau còn 7 thuyết trình viên nhưng cuối cùng Tòa Bạch Ốc đã lần lượt thay đổi để chỉ còn 4. Thứ tư, ban đầu bên Tòa Bạch Ốc cũng cho vào nghị trình, màn trình diễn của Asia nhưng cuối cùng đã cắt và thay thế vào đó là thuyết trình viên thứ 4. Thứ năm, có những thành viên Việt Tân bằng sự vận động riêng của họ với sự giúp đỡ của một nữ dân biểu, họ đã hiện diện trong buổi họp mà không qua phía bên TS hay ông Trúc Hồ. Thứ năm, Billy Lê , Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Nam Cali, người thuyết trình viên trẻ, đã trả lời TS là " không đảng phái" và sau này thì được biết anh ta là thành viên của nhóm "Phan Bội Châu", một tổ chức ngoại vi của Việt Tân. Thứ sáu, Tòa Bạch Ốc đã cử viên chức cao cấp nhất về "nhân quyền" đến họp. Thứ bảy, chúng ta phải cung cấp ngay cho Bộ Ngoại Giao các thông tin cập nhật và danh sách 600 tù nhân chính trị, tôn giáo và lương tâm vì tuần tới đây một nhân viên cao cấp của Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động sẽ đi Việt Nam để nêu vấn đề nhân quyền. Nếu thiếu sót xin TS bổ túc để kết thúc bài phỏng vấn này và Bút Tre rất cảm ơn TS đã dành thì giờ trả lời để làm sáng tỏ một số vấn đề chung quanh vụ "Thỉnh Nguyện Thư" này..
Có mấy điểm mà tôi muốn nói cho rõ.
Thứ nhất, về các tài liệu thì chúng tôi đã thường xuyên cung cấp cho Bộ Ngoại Giao, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, Hội Đồng Cố Vấn An Ninh Hoa Kỳ (của Toà Bạch Ốc), Uỷ Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Của Hoa Kỳ, và các văn phòng dân cử liên bang. Lần này chúng tôi gom các danh sách tù chính trị, tôn giáo và lương tâm lại để trao một lần, xem như là đi kèm với thỉnh nguyện thư gởi Tổng Thống Obama. Đồng thời chúng tôi cũng phối hợp với các phái đoàn địa phương để đồng loạt gởi các danh sách ấy cho các vị dân cử Liên Bang nhằm tạo thêm áp lực đối với Hành Pháp.
Có dư luận cho rằng SBTN giao cho tôi trách nhiệm liên lạc với Toà Bạch Ốc, điều này không đúng.Tôi tự ý liên lạc với Toà Bạch Ốc để vận động cho buổi tiếp xúc. Ngày 19 tháng 2, khi vừa biết được là Toà Bạch Ốc sẽ tiếp một phái đoàn người Việt, tôi báo ngay cho Trúc Hồ và lập tức sắp xếp buổi họp sơ bộ để SBTN và một số nhân vật và tổ chức khác làm việc thẳng với Toà Bạch Ốc. Tại buổi họp này, SBTN đề cử Ls. Đỗ Phủ đại diện liên lạc với Toà Bạch Ốc và hai bên đã trao đổi địa chỉ email với nhau. Nghĩa là, tôi thấy có cơ hội thì tự động khai thác và sau đó giới thiệu ngay cho SBTN để trực tiếp làm việc với Toà Bạch Ốc. Tôi nghĩ, nên để các người tham gia buổi họp này, và một buổi họp nữa sau đó, cung cấp thêm thông tin để mọi người cho có cái nhìn chính xác.
Tôi chủ trương không nêu tên bất kỳ ai hay tổ chức nào để tránh những cuộc tranh luận vô bổ, mất thời gian. Do đó tôi không xác nhận hay phủ nhận những thông tin liên quan đến các cá nhân hay tổ chức được nêu trên.
Điều này tôi có thể nói, đảng chính trị mà tôi nhắc đến đã không can dự vào tiến trình tổ chức hay nội dung của buổi tiếp xúc Toà Bạch Ốc ngày 5 tháng 3. Họ chỉ hiện diện dưới danh nghĩa đảng và đưa tin về buổi tiếp xúc với những hình ảnh dễ tạo ngộ nhận. Cuộc vận động ở Quốc Hội ngày 6 tháng 3 thì khác. Nhưng đó lại là câu chuyện cho một bài phỏng vấn khác.
Cuối cùng là một tâm tình. Trước đây tôi không quen Trúc Hồ, nhưng trong 30 ngày làm việc với nhau, tôi vô cùng cảm mến người bạn trẻ này, xem như một người em. Trúc Hồ là người bộc trực, hành xử theo cảm tính, đặt tất cả niềm tin và ước vọng vào chiến dịch thỉnh nguyện thư, không một chút tư lợi. Đó là vốn quý của dân tộc mà tất cả chúng ta, nếu nặng lòng với dân tộc, thì phải bằng mọi cách bảo vệ và gìn giữ.
Nguyễn Lê Vũ thực hiện riêng cho nguyệt san Bút Tre ( Arizona )

Lời kết của Nguyễn Lê Vũ : làm truyền thông là tìm sự thực để gửi đến quý độc giả nhưng trong cái gọi là tìm sự thật đó cũng phải “Luôn có mục đích hướng thượng, nghĩa là chú ý đại cuộc, bỏ qua tiểu tiết; một người được coi là vô tội cho đến khi chứng minh người đó có tội; không nghe lời đồn vô căn cứ”. Vì thế trong sự kiện Nhạc Sĩ Trúc Hồ vì tình cảm cá nhân muốn cứu Việt Khang ( như lời Trúc Hồ nói nhiều lần ở SBTN) và đã nhờ Ts Nguyễn Đình Thắng cộng tác và sau khi vào Tòa Bạch Ốc ngày 5/3/2012, đã có một số điều “không vui” xảy ra nhưng chúng tôi không nghe tin đồn và chúng tôi hỏi đích danh những người có trách nhiệm. Trong cách hỏi, chúng tôi cũng không “xoáy vào những tiểu tiết” phương hại đại cuộc nhưng chúng tôi cũng cố gắng soi rọi những chi tiết xét ra có thể giúp cộng đồng ngăn ngừa sự lũng đoạn của các đảng phái thiếu đạo đức, luôn có hành động giống như “cướp chính quyền”, một thủ đoạn lập lại của Việt Minh. Điều trên cũng để trả lời cho những người trẻ của ta hôm nay, họ không có kinh nghiệm với vc và đã cho rằng thế hệ cha anh là (quá khích, mang tư tưởng hận thù từ cuộc chiến vừa qua nên nghi kị tất cả).
Một số điều đã được giải thích bởi Ts Nguyễn Đình Thắng nhưng chúng tôi mong những điều còn lại sẽ được Nhạc Sĩ Trúc Hồ trả lời. Và từ những bản phỏng vấn này, quý độc giả có thể có những tin tức chính xác thay vì “suy diễn” và sau đó sẽ nhận định để rút kết luận cho chính mình.
Điều mong ước sau cùng của chúng tôi là cả hai ông Trúc Hồ và Ts Nguyễn Đình Thắng phải cố gắng tìm giải pháp tốt đẹp nhất để lấy lại niềm tin nơi quần chúng, tiêu biểu là 140,000 người đã ký vào TNT do quý ông phát động. Vì vậy hai ông chắc chắn phải hiểu trách nhiệm và hành động của mình đối với tập thể đã gửi gắm niềm tin nơi quý ông.

12 THÁNG ANH ĐI