Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

16 thg 5, 2014

Trung Cộng toan tính gì?

Ngô Nhân Dụng

Việc đưa giàn khoan HD 981 tới “lô 143” trong vùng biển Việt Nam không thể là do một công ty CNOOC đề ra. Quyết định này phải xuất phát từ một tính toán của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Tại sao Bắc Kinh muốn “gây sự” với Việt Nam vào thời điểm này? Họ tính toán những gì? Người Việt cần tìm hiểu các động cơ của Trung Cộng trong hành động ngang ngược này. Cần biết bên địch muốn gì để có thể đoán trước các nước cờ của họ trong thời gian sắp tới, ngõ hầu biết cách đối phó thích hợp.
Giàn khoan HD 981 mới bắt đầu hoạt động vào năm 2011; từ đó đến nay chỉ hoạt động ở ngoài khơi Hồng Kông mà không đi hơn. Trước đây Cộng sản Trung Quốc từng ký hợp đồng cho các công ty nước ngoài tìm dầu, khí trong vùng biển Hoàng Sa. Nhưng các công ty Âu Mỹ đã rút lui khi được Việt Nam cho biết đang tranh chấp chủ quyền tại đó. Trung Cộng hợp tác với các công ty ngoại quốc giầu kinh nghiệm và trường vốn thì có lợi hơn; vì các công ty Trung Quốc còn kém trong kỹ thuật tìm tòi dầu khí ở dưới đáy biển sâu. Công việc phức tạp, nhiều rủi ro vì chi phí cao mà kết quả không chắc chắn. Năm nay, Trung Cộng phải tự đem giàn khoan tới tìm dầu tại “lô 143.” Nhưng mục đích của hành động này không thuần túy để dò tìm dầu lửa. Giới lãnh đạo Bắc Kinh còn nhắm nhiều mục tiêu khác. Nếu trong sáu tháng, một năm, họ rút giàn khoan về, vì vùng biển này không đáng công sức và phí tổn, thì nhiều mục tiêu khác, từ gần tới xa, cũng đã đạt được. Chúng ta không thể giả thiết họ chỉ nhắm vào một mục tiêu trước mắt.

Kế hoạch của Bắc Kinh về lâu dài gồm hai mặt. Về chính trị, họ muốn làm chủ vùng biển Ðông Nam Á, gây ảnh hưởng trên các quốc gia trong đó. Về kinh tế họ muốn chiếm đoạt các tài nguyên, đặc biệt là các mỏ dầu và khí đốt vì nhu cầu nền công nghiệp đang lên; đồng thời kiểm soát con đường hàng hải thiết yếu đối với kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan và Hàn Quốc. Nói chung, mục tiêu của họ là mở rộng biên cương ảnh hưởng về phía Nam, tiếp tục tham vọng của các đế quốc từ thời nhà Tần, nhà Hán cho tới nhà Ðại Thanh.

Người Việt Nam đã có kinh nghiệm về tham vọng của các triều đình phương Bắc. Trong quá trình bành trướng về phương Nam từ hơn 200 năm trước Công Nguyên cho tới thế kỷ thứ 20, đế quốc Hán tộc chỉ phải dừng lại khi gặp một “nút chặn” ngăn cản. Nút chặn đó dân tộc Việt, với tinh thần tự chủ và óc quật cường, Ðứng Vững suốt một Ngàn Năm bị đô hộ. Người Việt Nam cần giải thích cho các nước Ðông Nam Á biết vai trò “nút chặn” của dân tộc mình. Việt Nam đã tạo một hàng rào bảo vệ các nước khác không bị người Hán tràn lấn phương Nam trong hai ngàn năm qua. Các nước Ðông Nam Á phải đoàn kết cùng dân Việt đề kháng chống tham vọng của đế quốc Hán tộc.

Sau ngàn năm Bắc thuộc, đế quốc vẫn tiếp tục xâm lăng trong thế kỷ 15, nhà Minh, và thế kỷ 18, nhà Thanh. Trước khi Ðại Chiến Thứ Hai chấm dứt, ông Tưởng Giới Thạch xin đồng minh cho ông đưa quân vào nước ta, từ vĩ tuyến 16 ra Bắc, để tước khí giới quân Nhật đầu hàng. Trong thời dân Việt đánh Pháp, Mao Trạch Ðông viện trợ đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện kế tràn xuống Ðông Nam Á. Năm 1952, Mao bác bỏ chủ trương đánh chiếm các thành phố vùng đồng bằng của đảng Cộng sản Việt Nam. Mao cho mở mặt trận ở Lào và Campuchia; để cộng sản ba nước Việt, Miên, Lào liên kết lại, do các cố vấn Trung Cộng chỉ đạo. Cùng lúc đó các đảng cộng sản Thái, Mã Lai, Indonesia được Trung Cộng giúp đỡ; thực hiện kế hoạch nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á. Ðảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục theo con đường bành trướng cũ, mặc dù bây giờ họ không còn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản nữa.

Mục tiêu lâu dài của Bắc Kinh vẫn là chiếm ảnh hưởng trùm trên vùng Ðông Nam Á, như ao cá sau nhà của họ. Họ cần tháo gỡ cái “nút chặn” trên con đường bành trướng của người Hán trong hai ngàn năm qua, là một nước Việt Nam độc lập. Hành động đưa giàn khoan dầu HD 981 tức Hải Dương Thạch Du (Haiyang Shiyou 981) vào vùng biển nước ta trước hết là một thử thách khả năng đề kháng của người dân Việt Nam còn mạnh tới mức nào. Ðó cũng là một cuộc trắc nghiệm xem đảng Cộng sản Việt Nam phản ứng ra sao. Chính sách của Bắc Kinh vẫn là “mềm nắn, rắn buông,” tùy phản ứng của đối thủ mà thay đổi.

Ngoài thử thách nhắm vào người Việt, Bắc Kinh còn muốn thăm dò phản ứng của thế giới khi chứng kiến cảnh Trung Cộng trâng tráo chèn ép một nước láng giềng nhỏ hơn. Trước hết, họ muốn xem phản ứng của chính quyền Mỹ ra sao trong một tình thế khó xử. Ông Obama mới khẳng định những liên hệ quân sự của Mỹ với các nước Nam Hàn, Nhật Bản, và Philippines. Trong khi dư luận đang bàn tán về chính sách Mỹ “chuyển trục sang Á Châu” thì Trung Cộng gây hấn với Việt Nam để các nước Ðông Nam Á thấy rõ Mỹ không hề phản ứng mạnh. Ngoài ra, Bắc Kinh nhân dịp này cũng thách đố các nước ASEAN xem họ có dám đứng ra bênh vực một nước hội viên đang bị xâm lấn hay không.

Có thể nói, Trung Cộng đã trắc nghiệm thành công. Họ thấy phản ứng rất nhẹ, gần như hờ hững của Mỹ và các nước ASEAN, khi nghe chính quyền cộng sản Việt Nam kêu cứu.

Nước Mỹ không có nhu cầu can thiệp vào quan hệ Việt Trung. Trong thập niên 1950, sau khi Cộng sản Bắc Hàn tấn công Nam Hàn, Mỹ muốn ngăn chặn không cho khối cộng sản nuốt chửng các nước Ðông Nam Á, nên giúp miền Nam Việt Nam. Nhưng khi Nga Xô và Trung Cộng công khai chống lẫn nhau, chính quyền Mỹ đã giao thiệp trực tiếp với Bắc; Việt Nam không còn là một địa điểm chiến lược quan trọng nữa. Năm 1974, khi Hải Quân Trung Cộng tấn công chiếm Hoàng Sa của nước ta, hạm đội Mỹ ở ngay bờ biển Philippines vẫn không can thiệp, họ còn làm ngơ không cứu các quân nhân Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bị đắm tàu. Năm nay, chắc chắn Mỹ phải biết trước việc Trung Cộng đưa HD 981 tới vùng biển nước ta, vì giàn khoan này phải di chuyển trong hàng chục ngày, đi từ đâu, theo hướng nào, chắc chắn vệ tinh nhân tạo của Mỹ đã chụp hình cho các cơ quan tình báo Mỹ phân tích nhưng họ không hề báo động cho chính quyền Việt Nam cũng như Philippines; cũng không tiết lộ tin tức cho các nhà báo.

Ðối với quyền lợi của nước Mỹ, những tài nguyên nằm dưới đáy Biển Ðông thuộc chủ quyền nước nào không quan trọng. Ðiều quan trọng là dù nước nào làm chủ, các công ty Mỹ được tham dự vào công việc khai thác bình đẳng với các quốc gia khác. Và Mỹ muốn bảo vệ đường hàng hải được an ninh không bị gián đoạn. Trái với lời tuyên truyền của Bắc Kinh, nước Mỹ không có nhu cầu ngăn cản việc phát triển kinh tế của Trung Quốc. Ngược lại, khi các nước giầu có hơn thì sẽ mua hàng hóa đắt tiền của Mỹ nhiều hơn. Sau Thế Chiến Thứ Hai, Mỹ không ngăn cản mà còn giúp cho các nước đối thủ cũ là Ðức và Nhật Bản phục hồi kinh tế. Người Mỹ tin tưởng vào sức mạnh kinh tế của họ, sức mạnh đó đặt trên hệ thống giao thương tự do. Trong chính sách ngoại giao, các dân tộc không có bạn mà cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia mà thôi.

Cho nên, đối với biến cố giàn khoan HD 981 phản ứng của chính phủ Mỹ vẫn chỉ nằm trong đường lối cũ của họ. Chính phủ Mỹ không có ý kiến về chủ quyền trên các hòn đảo tranh chấp; họ chỉ yêu cầu không gây nổ súng, không làm giao thông đường biển mất an ninh. Và họ kêu gọi các cuộc tranh chấp phải được giải quyết bằng pháp luật. Bắc Kinh không mong gì hơn.

Phản ứng của các nước ASEAN còn đáng thất vọng hơn nữa. Ðáng lẽ trong hội nghị ở Naypyitaw, thủ đô Miến Ðiện các nước này phải tỏ ra đoàn kết với Việt Nam hơn. Nhưng bản thông cáo chung của hội nghị cũng nói những điều tổng quát không khác gì thái độ của chính phủ Mỹ. Chúng ta không thể chỉ trích thái độ hững hờ của các nước Ðông Nam Á. Từ xưa đến nay, chính quyền Việt Nam lúc nào cũng nhất thiết theo chủ trương chỉ nói chuyện “song phương” với Trung Cộng. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ ra hoàn toàn hững hờ trước các cuộc tranh chấp giữa Trung Cộng và Malaysia, Philippines. Ðến khi “giặc vào nhà” mới kêu cứu, nhưng vẫn vừa tố cáo vừa xin hòa.

Trung Cộng đã thắng khi các nước ASEAN và Mỹ không có một hành động nào cụ thể. Họ có thể tiếp tục kéo dài tình trạng giằng co hiện nay ở Lô 143 trong một thời gian dài nữa. Ðây là hành động “dạy cho đảng Cộng sản Việt Nam một bài học,” nhưng theo cách mới. Nhưng Trung Cộng có thể kéo dài trò mèo vờn chuột này cho đến bao giờ?

Chính dân Việt Nam sẽ quyết định. Trong ngày Chủ Nhật vừa qua, dân chúng Việt Nam đã được phép biểu tình công khai “chống Trung Quốc xâm lược.”
Ðảng Cộng sản bất đắc dĩ phải cho phép, vì không cho không được. Nhưng các cuộc biểu tình, từ Nam ra Bắc, đã mở ra những cánh cửa mới cho những người Việt yêu nước! Ai cũng biết, từ mười năm nay những người Việt tham dự biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng cũng chính là những người tha thiết muốn cho dân tộc được hưởng cuộc sống tự do dân chủ. Người đi biểu tình chống Trung Cộng đã bị đảng Cộng sản đàn áp bao năm qua. Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần, tới Ðinh Nguyên Kha, vân vân, nay vẫn bị tù, cho nên muốn chống Trung Cộng xâm lược thì phải chống cả bè lũ độc tài lệ thuộc 16 chữ vàng.

Những cuộc biểu tình khắp nước từ Chủ Nhật vừa qua giống như một vị thần trong chuyện cổ tích đã thoát ra khỏi cây đèn thần của Aladin. Không ai có thể nhét vị thần vào trong cây đèn trở lại được nữa. Phong trào này sẽ gia tăng cường độ, càng đàn áp càng mạnh hơn. Tiêu biểu trong phong trào này, nhà báo Huy Ðức viết rằng đã tới lúc đảng Cộng sản Việt Nam phải xét lại chính sách giao thiệp với Bắc Kinh, và từ bỏ không bắt chước mô hình kinh tế của Trung Cộng. Huy Ðức thấy biến cố giàn khoan 981 có thể là động cơ thúc đẩy đảng Cộng sản quay đầu trở lại với dân tộc Việt, đánh đuổi quân xâm lược Bắc Kinh.

Với đà phát triền của phong trào chống đối, này, sẽ tới lúc đảng Cộng sản Trung Quốc thấy họ phải ra tay cứu mạng các đàn em trong đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu không đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tự tan vỡ hoặc bị lật đổ. Trung Cộng sẽ thấy duy trì một chế độ cộng sản dễ bảo ở Hà Nội là con đường ít tổn phí nhất trên con đường gây ảnh hưởng trong vùng Ðông Nam Á. Ngược lại, nếu tiếp tục con đường uy hiếp, tới lúc nước Việt Nam có một chính quyền thật sự do dân chúng bỏ phiếu bầu lên, thì chính quyền đó chắc chắn sẽ “khó bảo” hơn. Con đường tồi tệ nhất là xâm lăng bằng vũ lực. Sẽ tốn tiền bạc, mạng sống, và phải đối đầu với một dân tộc đã quen đánh du kích từ thời Triệu Quang Phục. Xâm lăng Việt Nam sẽ khiến tất cả các nước vùng Á Ðông và Ðông Nam Á bắt đầu một cuộc chạy đua vũ trang để tự vệ. Tất cả các nước đó sẽ giảm bớt việc thương mại với Trung Quốc; kinh tế nước Trung Hoa sẽ đứng khựng lại. Các nước Ðông Nam Á sẽ cùng Mỹ và các nước Âu Châu viện trợ vũ khí cho người Việt kháng chiến.

Cho nên, nếu trong những ngày tháng tới dân Việt tiếp tục biểu lộ tinh thần quật cường, nếu Cảnh sát biển Việt Nam tiếp tục kiên nhẫn và dũng cảm bảo vệ mặt biển di sản của tổ tiên, thì sẽ tới ngày chính Bắc Kinh sẽ phải xuống thang. Không thể đoan chắc ngày nào chuyện đó sẽ xảy ra. Vì tất cả tùy thuộc thế cân bằng lực lượng; giữa khả năng đề kháng của dân tộc Việt và tham vọng lớn nhỏ của các hoàng đế nhà Hán nhà Ðường. Người Việt đang sống lại kinh nghiệm của tổ tiên trong hai ngàn năm đối đầu với các bạo chúa phương Bắc; lại nghe tiếng sóng Bạch Ðằng, tiếng ngựa hí ở Ải Chi Lăng. Các hoàng đế nhà Minh, nhà Thanh đã từng phải bỏ tham vọng thôn tính nước Việt, tìm đường gỡ thể diện tháo lui. Nhưng dù Trung Cộng rút lui sớm hay muộn, vị thần trong cây đèn đã thoát ra ngoài, dân Việt không thể nào cúi đầu chịu nhục nữa.

10 thg 7, 2013

Đông Đô Đại Phố - China Town ở Việt Nam

Âm Mưu Thâm Độc

Đất nước ta có 54 dân tộc anh em đang sinh sống và hình thành một xã hội, một nước Việt Nam. Ngoài dân tộc Kinh nguồn gốc Lạc Hồng, trong số các dân tộc anh em đó thì người Hoa chiếm một phần không nhỏ. Đa số người Hoa có mặt ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 70s của thế kỷ thứ 17, tuy rằng từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên cũng đã có rồi nhưng con số không đáng kể.

Năm 1671 Mạc Cửu đến vùng Man Khảm nay là Hà tiên khai khẩn đất hoang lúc này còn quyền kiểm soát của Vương quốc Khmer. Sau đó Mạc Cửu thần phục nhà Nguyễn-Mạc. Cửu cũng là một trong thành phần phản Thanh phục Minh.

Năm kỷ mùi 1679 tổng binh Thành Long Môn Quảng Tây Dương Ngạn Địch, phó tướng Huỳnh Tấn cùng các tổng binh khác vùng Châu Cao, Châu Liêm, Châu Lôi thuộc Quảng Đông là Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình dấy lên phong trào phản Thanh phục Minh và cuối cùng bị quân nhà Thanh đánh tan bỏ chạy, dẫn binh tướng theo đường biển vào Đà Nẵng qui hàng chúa Nguyễn và xin làm dân Việt. Họ được chúa Nguyễn nhận và cho vào khai khẩn vùng đất phương Nam, một vùng trù phú nhưng hoang vu và đầy chướng khí - dưới sông sấu lội trên bờ cọp kêu. Đó là vùng Định Tường-Gia Định (Đông Phố) Đồng Nai, Biên Hòa (Cù Lao Phố)... Cộng đồng người Hoa này chuyên về thương mại và khai khẩn đất hoang và được gọi là người Minh Hương (có nghĩa là hương hỏa của nhà Minh). Đến năm 1827 vua Minh Mạng sợ động chạm đến nhà Thanh nên đổi chữ hương trên thành chữ hương khác nghĩa là làng và được gọi là làng trong sáng nên từ đó có câu:

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng,
Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương?

Từ đó người Hoa sinh sống rải rác các vùng kể trên và một bộ phận không nhỏ tập trung về vùng Sài Gòn-Bến Nghé khi vùng Phiên Trấn-Bến Nghé-Sài Gòn được hình thành vào năm 1698. Khu Gia Thạnh Chợ Lớn được người Hoa khuếch trương thương mại mua bán sầm uất và phần lớn qui tụ nhiều ở khu vực bao gồm Quận 5,11,10,6,8 thuộc Tp Sài Gòn ngày nay. Nơi đây cộng đồng người Hoa sinh hoạt tất cả mọi mặt văn hóa, thương mại, tôn giáo, giáo dục và các dịch vụ khác. Trong quá trình này họ đã xây dựng những ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Bà Thiên Hậu, chùa Ông, các trường học và các hội quán. Khu thương mại Chợ Lớn sau bị cháy được xây lại và gọi là chợ Bình Tây nhưng dân Sài Gòn vẫn quen gọi là Chợ Lớn mới cùng các dãy phố mua bán sầm uất nhất là trung tâm Quận 5, Quận 6.

Sỡ dĩ tôi lan man ngược dòng lịch sử người Hoa ở VN là muốn mở ra một tầm nhìn xa hơn về thời gian ban đầu của công cuộc mở đất phương Nam để lượng giá âm mưu Hán hóa Việt Nam của Trung Quốc và những quan tâm cần có đối với những vùng nhạy cảm như trên.

Sau vụ biên giới Việt-Trung 1979 rồi vịnh Bắc bộ, kéo dài đến biên giới Tây Nam, rừng núi Tây nguyên nóc nhà của đất nước VN và liên tục các trận hải chiến từ năm 1974,1988 và những năm gần đây khắp vùng biển đông thềm lục địa VN, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa... Lưỡi bò Trung Quốc đã và đang liếm dần da thịt của tổ tiên ta. Từ khi Tây Nguyên một dãi điệp trùng tập đoàn CSVN cam tâm bán nước giao cho Trung Quốc khai thác tài nguyên chiếm đóng thì lực lượng người Trung Quốc tràn ngập vùng rừng núi cao nguyên.

Các gói thầu EPC trên cả nước hết 90% là của Trung Quốc thực hiện. Trên cơ sở này Trung Quốc ngang nhiên đưa nguyên vật liệu (hay vũ khí) đội ngũ kỹ thuật (hay chuyên gia cố vấn chính trị, quân sự) và kể cả lao động phổ thông (hay quân lính) một cách hợp pháp - rải rác chiếm lĩnh tất cả những nơi trọng yếu mà chuyên gia quân sự của Trung Quốc với danh nghĩa chuyên viên kỹ thuật đã định sẵn. Những nơi này phía VN, từ cán bộ đến các thành phần khác và dân chúng đều không được vào; có nghĩa là bất khả xâm phạm. Đây là mối nguy cực kỳ lớn mà đảng CSVN không thấy được hay có thấy cũng không dám hé môi vì chủ trương thần phục Thiên triều.

Tình hình biển đảo, biên giới là vậy. Một mối đe dọa khác cũng không kém phần nguy hại; đó là Trung Cộng đã cài người vào các hải cảng, các vùng bờ biển trọng yếu của Việt Nam trong suốt nhiều năm qua với sự làm ngơ hoặc âm thầm hợp tác của một số các quan chức đảng CSVN. Người Trung Quốc đã ngang nhiên tự do thoải mái, lập nên những cơ sở nuôi và bán buôn hải sản ngay bên sườn hải cảng tối quan trọng Cam Ranh, cảng Vũng Rô nổi tiếng là yếu điểm trên vùng biển dọc dài của Việt Nam. Từ đây, với tầm nhìn của các nhà quân sự, gián điệp thì chuyện gì sẽ đến với chúng ta?

Công An CSVN luôn vênh váo khua môi với tất cả các nước trên thế giới là có một trình độ nghiệp vụ cao, nhạy bén, tinh tường. Đối với nhân dân thì một mảnh nhỏ để che chỗ kín thì công an cũng đều biết rõ. Nồi cơm xoong cá nhà nào ra sao, ăn gì, sướng khổ đều không qua khỏi cặp mắt cú vọ của an ninh. Nhà nào có người thân đến ở thăm chơi một vài ngày không khai báo là có giấy công an gọi lên tra xét ngay. Thế mà trong một thời gian dài người của Trung Quốc xâm nhập vào vùng trọng yếu, đội lớp ngư dân nuôi hải sản, lấy vợ sinh con đẻ cái ở Cam Ranh mà bộ máy công an không hề hay biết!? Một điều thật vô lý, ngàn lần vô lý.

Bây giờ vỡ lẽ ra, nhân dân cả nước đều biết. Sự kiện bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ công du tới VN mà điểm đầu tiên lại là cảng Cam Ranh cũng cho thấy tầm quan trọng về mọi mặt, nhất là quân sự, của cảng Cam Ranh. Trước sự lên tiếng của dư luận, các quan chức của đảng CSVN mới phải thừa nhật, "vào cuộc" điều tra nhưng vẫn tuyên bố... chuyện không có gì nghiêm trọng, đồng thời dàn xếp cho một vài tên Trung Quốc chuồn êm như con sâu "Chí Dũng" bò đi trong đêm trường lúc mà nhân dân đang chìm trong ác mộng.

Tại Sài Gòn với hơn 500 ngàn Hoa kiều sinh sống, nếu có người của Trung Quốc trà trộn vào, vàng thau lẫn lộn - tuy rằng Hoa kiều đã bao đời gắn bó và xem Việt Nam là quê hương thứ hai- sẽ tạo thêm nhiều hệ luỵ.


Ngoài Sài Gòn thì các tỉnh rải rác với số lượng cũng không nhỏ người Hoa sinh sống, như Đồng Nai 95 ngàn, Sóc Trăng 65 ngàn, Bạc Liêu 20 ngàn, Bình Dương 19 ngàn, Bắc Giang hơn 18 ngàn v. v... Tổng cộng dân số người Hoa gần đến 1 triệu người. Số người Hoa này đa phần tập trung ở thành phố, hầu hết kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hầu như ít nhiều có đủ trên 63 tỉnh thành cả nước. Xem như thế thì ta cũng thấy cái khó khăn phức tạp một khi Trung Quốc ý đồ manh nha thôn tính nước ta.

Đây chính là mối lo sinh tử của Việt Nam khi tập đoàn bành trướng Bắc Kinh triển khai các mũi xung kích từ Tây Nguyên, Tây Nam, biên giới phía bắc và suốt dọc dài hơn 3000 KM bờ biển, kết hợp đoàn binh công nhân trá hình ở các dự án trên khắp nước, cùng với khối người Trung Quốc đang lẫn lộn với những người Việt gốc Hoa - cùng lúc phát pháo báo hiệu giờ "G"... còn tại Ba Đình thì các quan thái thú của đảng CSVN đã sẵn sàng giao nộp bản dư đồ tổ quốc và nhận ấn chư hầu. Thôi rồi đất nước VN ta ơi!!!

Những âm mưu mà tập đoàn Bắc Kinh soạn sẵn cho chương trình Hán hóa Việt Nam không phải chỉ trong một lúc mà nó kéo dài từng bước một như những sự kiện đã nêu.

Đông Đô Đại Phố-Một China Town ở VN

Đây là một trong những cái vòi bạch tuột của Trung Quốc len lỏi vào Việt Nam bằng cách kết hợp với tập đoàn tư bản đỏ, các quan chức CSVN để xây dựng một China Town tại Bình Dương. Nằm trên một diện tích 26ha trong một thành phố mới, nơi mà dự kiến sẽ là trung tâm đầu não của tỉnh. Trong lúc này xu thế của các tỉnh miền Đông nam bộ như Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương... sẽ xây dựng một khu vực thành phố mới đặc biệt để dời các cơ quan hành chánh, đầu não của tỉnh về nơi đó.

Riêng Bình Dương thì nơi đó đã sắp đặt sẵn ngay trong dự án, một khu dành riêng cho khu phố Trung Quốc! Đây rõ ràng là một quyết định xuất phát từ một âm mưu có hệ thống. Khi xây dựng các công trình công cộng, hạ tầng cơ sở cho chương trình dời đô thì công trình China Town cũng được song hành!?

Đây là một dự án đầu tiên được xây dựng dành riêng cho cộng đồng người Hoa, nhưng thực chất là mượn danh nghĩa Hoa kiều để thực hiện mưu đồ dài hạn của Trung Quốc trong kế hoạch Hán hóa Việt Nam. Khu Đông Đô Đại Phố tập trung nhiều hạng mục như các khu nhà ở, văn phòng, phố ăn uống, thương mại mua sắm cùng các cơ sở giáo dục, thông tin, dịch vụ và các khu liên hợp thể thao tín ngưỡng... Tất nhiên là kiến trúc mang đậm sắc thái văn hóa Trung Hoa. Rõ ràng, từng bước Trung Quốc đã và đang gầy dựng những hạt mầm, những vương quốc riêng cho Đại Hán trên đất nước VN, làm hậu phương cho mưu đồ lớn hơn là thêm sao trên nền cờ bá quyền của chúng.

Nhìn xa hơn, những đặc khu của người Hán-Trung Quốc trên đất Việt sẽ có một đặc quyền và sẽ có luật lệ riêng của nó một khi VN đã là thuộc quốc hoặc vùng lãnh thổ của thiên triều. Lúc bấy giờ người VN sẽ không được tự do hoặc tuyệt đối không được vào những đặc khu đó. Những nơi giải trí vui chơi sẽ có cửa nhỏ dành riêng cho người VN và thú vật vào. Còn cửa chính là của người Hoa. Giống như tình cảnh người TQ trong thời gian bị Bát Cường xâu xé tả tơi trong những năm đầu thế kỷ trước. Với sự tàn độc và gian manh của cộng sản Trung Quốc thì không việc gì mà chúng không làm được. Trước mắt tại Đà Nẵng đã có một Casino, và tại Mống Cái nơi địa đầu biên giới phía bắc đã có một sân Golf mà hai nơi này dân VN không được vào từ mấy năm qua.

Bây giờ với những âm mưu thành lập các đặc khu cho Trung Quốc nằm chung trong những nơi mà các tỉnh thành chuẩn bị dời đô cũng là một tính toán của cộng sản Trung Quốc lẫn Việt Nam. Theo dự tính của bọn cướp nước và bán nước là không trước thì sau những cơ quan đầu não, hành chính, quân sự, an ninh của tỉnh thành đó cũng phải bàn giao cho các thái thú thiên triều tiếp quản mà thôi. Vì vậy khi xây dựng khu hành chính mới phải kèm theo một China Town.

Độc hại hơn nữa là trước mắt khu Đông Đô Đại Phố sẽ có những nơi vui thú như xóm Bình Khang... mà bọn chúng cố tình gieo vào đầu, tiêm vào máu thanh thiếu niên nam nữ VN những chất vô cùng độc và di hại về sau cho nhiều thế hệ để đánh gục bao lớp trẻ VN. Mục tiêu lại giống như cuộc chiến tranh nha phiến vào những năm 40s của thế kỷ 19 mà Trung Hoa lúc đó đã đắng cay nếm phải và kết quả là phải ký 2 điều ước Nam Kinh và Bắc kinh bán cả Hương Cảng, Tân Giới, Cửu Long cho Hoàng Gia Anh thời hạn 99 năm dưới triều vua Đạo Quang và Quang Tự.

Những “Đông Đô Đại Phố” này khi màn đêm buông xuống, những cuộc vui bất kể thời gian, khi tất cả quay cuồng theo cơn lốc điên rồ mà quên đi mối thù vong quốc.

Biết bao bướm lả ong lơi...
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm...

Thương nữ bất tri vong quốc hận.
Cách giang do xướng hậu đình hoa!

(Kiều - Nguyễn Du)

Trong tương lai rất gần, nếu nhân dân VN không nắm tay cùng nhau đứng lên đạp đổ độc tài hèn với giặc ác với dân thì họa mất nước sẽ không tránh khỏi. Người dân Việt Nam sẽ không còn được làm chủ trên chính mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình.

David Thiên Ngọc

6 thg 7, 2013

Mỹ - Trung Quốc đang tiêu lòn ?



Bài "Biển Đông : Mỹ - Trung hòa dịu, nhiều nước Đông Nam Á quan ngại"do đài RFI cho phổ biến ngày 1/7/2013 đã làm nhiều người Việt chống cộng ngạc nhiên, vì nó hoàn toàn khác với những gì các bình luận gia chống cộng ở hải ngoại đang rao truyền trên các các cơ quan truyền thông, đó là Mỹ đang xoay trục về Đông Nam Á để bao vây Trung Quốc về cả quân sự lẫn kinh tế.

Những điều đáng lo ngại

Bài báo nói trên đã nhận định :

"Sự chú ý muộn màng của người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ đến một khu vực từng được người tiền nhiệm ưu tiên đã làm dấy lên quan ngại từ nhiều nước nhỏ trong vùng, vốn chờ đợi hậu thuẫn mạnh mẽ hơn của Hoa Kỳ để giải tỏa sức ép ngày càng mạnh của Trung Quốc trên vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

"Mối quan ngại tại Đông Nam Á lại càng tăng vào lúc Washington - bị phân tâm vì hồ sơ Trung Đông - đang cố gắng tìm kiếm một quan hệ hòa dịu hơn với Bắc Kinh, mà biểu hiện nổi bật là cuộc họp thượng đỉnh Obama-Tập Cận Bình tại California hồi tháng 6/2013".

Tổng thống Obama và chủ tịch Tập Cận Bình đã nói với nhau những gì khiến các quốc gia Đông Nam Á lo ngại ?

Chúng tôi xin nhắc lại,trong cuộc gặp gỡ hôm 7/6/2013, tổng thống Obama nói : "Mỹ hoan nghênh sự vươn lên của Trung Quốc. Trên thực tế, sự phát triển của Trung Quốc cũng là lợi ích của Mỹ. Mỹ tin tưởng rằng, một Trung Quốc hòa bình, thịnh vượng và ổn định không chỉ tốt cho Trung Quốc mà còn cho cả Mỹ và cộng đồng quốc tế".

Ông Tập Cận Bình trả lời : "Tôi và tổng thống Obama gặp nhau để vạch ra tương lai cho quan hệ Trung-Mỹ và thiết kế kiểu quan hệ mới. Năm ngoái khi tới thăm Mỹ tôi đã từng nói, Thái Bình Dương rộng lớn đủ không gian dung nạp cả hai nước lớn Trung - Mỹ chúng ta, và bây giờ tôi vẫn cho là như vậy" (Tân Hoa Xã ngày 8/6/2013).

Qua hai lời tuyên bố này,một số nhà phân tích đã đặt ra hai câu hỏi:

(1) Phải chăng đã có một sự thỏa thuận ngầm giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về vấn đề Biển Đông và Biển Hoa Đông ? Nếu Trung Quốc từ bỏ việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông và tôn trọng quyền tự do hàng hải trên Biển Đông,Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào vấn đề Biển Đông?

(2) Phải chăng việc Trung Quốc đẩy mạnh cuộc tranh chấp về quần đảo Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông trong những tháng đầu năm nay là để làm vật đối chác với Mỹ khi chủ tịch Tập Cận Bình gặp tổng thống Obama?

Nhiều nhà quan sát tin rằng các cuộc thao diễn quân sự giữa Mỹ với một số nước Á Châu trên Thái Bình Dương vừa qua và lời tuyên bố triển khai "Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương" của Hoa Kỳ chỉ là một cách trấn an.

Con đường Hoa Kỳ đi tới

Trong bài "The Future of US - Chinese Relations, Conflict Is a Choice, Not a Necessity" (Tương lai của quan hệ Mỹ - Trung Quốc, xung đột là một sự lựa chọn, không phải là một điều cần thiết) được đăng trên tạp chí Foreign Affairs tháng 3 và tháng 4 năm 2012, tiến sĩ Henry A. Kissinger đã bàn về sự hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc. Trước hết ông nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Obama và chủ tịch Hồ Cẩm Đào ngày 19/1/2011. Trong cuộc gặp gỡ này hai bên đã đưa ra một bản tuyên bố chung cam kết chia sẻ "một mối quan hệ Mỹ-Trung tích cực, hợp tác và toàn diện".Hoa Kỳ đã nhắc lại rằng Hoa Kỳ "hoan nghênh một Trung Quốc phú cường và thành công và đóng một vai trò lớn hơn trong các vấn đề thế giới". Trong khi đó, Trung Quốc "hoan nghênh việc Hoa Kỳ là một quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương đóng góp cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực".

Nếu so sánh lời cam kết giữa Obama và Hồ Cẩm Đào năm 2011 và lời cam giữa Obama với Tập Cận Bình năm nay, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã xích lại với nhau gần hơn.

Khác với khi xâm nhập vào các quốc gia nhược tiểu, Kissinger cho rằng khi xâm nhập vào Trung Quốc, chính quyền Mỹ đã không bao giờ tìm cách làm thay đổi thực tế của Trung Quốc như một trong những quốc gia lớn trên thế giới, về nền kinh tế và văn minh. Tại sao?

Tại vì tại các nước nhược tiểu như Việt Nam Cộng Hòa trước đây hay Iraq, Lybia, Ai-cập... hiện nay, Hoa Kỳ có thể dùng viện trợ, hệ thống tình báo và quân sự để thay đổi chính thể ở các nước đó theo ý muốn của Hoa Kỳ, nhất là đưa bọn tay sai lên cầm quyền và chi phối toàn bộ, còn Trung Quốc quá to lớn về cả lãnh thổ, văn hóa lẫn kinh tế, nên Hoa Kỳ khó làm được chuyện đó. Nhưng cũng có thể Kissinger đưa ra nhận định như vậy là để trấn an Trung Quốc.

Kissinger nói thêm : "Mỹ sẽ làm tốt để nhớ rằng ngay cả khi GDP của Trung Quốc là tương đương với Hoa Kỳ, nó sẽ cần phải được phân bố trên một dân số gấp bốn lần lớn, lão hóa,và tham gia vào các biến đổi trong nước phức tạp gây ra bởi sự tăng trưởng và đô thị hóa của Trung Quốc".

Do đó, Hoa Kỳ không lo sợ Trung Quốc có thể vượt lên trên Hoa Kỳ.

Kissinger khuyên : "Cả hai bên nên mở cửa cho việc nhận thức các hoạt động của nhau như là một phần bình thường của đời sống quốc tế và không phải chính nó là một nguyên nhân để báo động".

Bài này rất dài, chúng tôi chỉ mới tóm lược một số nét chính.

Hà Nội phản ứng nhanh

Theo dõi chuyến đi của Tập Cận Bình, Hà Nội tiên đoán được số phận của các quốc gia nhược tiểu trong vùng Biển Đông trong những ngày sắp tới, nên đã cố gắng tìm một lối thoát.

Ngày 19/6/2013, chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã sang Bắc Kinh và chiều hôm đó, 10 "văn kiện hợp tác" đã được ký kết giữa Hà Nội và Bắc Kinh, trong đó có thỏa thuận thăm dò dầu khí chung trong Vịnh Bắc Việt : mở rộng khu vực xác định từ 1.541 km2 lên thành 4.076 km2.

Ông Đỗ Văn Hậu, tổng giám đốc Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam cho biết : "Theo dự báo, khu vực này có cấu tạo địa chất liền nhau, có khả năng có dầu khí, nên hai bên xác định để có lợi cao nhất, thì cùng hợp tác thăm dò và tiến tới khai thác. Điều này chỉ phục vụ lợi ích kinh tế hai nước, không liên quan đến nước thứ ba".

Ngày 21/6/2013, hai bên đã đưa ra một thông cáo chung nói rằng hai bên nhất trí cùng nhau thực hiện tốt "Chương trình hành động triển khai Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc" được ký kết trong chuyến thăm này, thúc đẩy hợp tác thực chất giữa hai nước đạt được tiến triển mới.

Đầu tháng 7 này, ông Vương Đình Huệ, trưởng ban Kinh tế trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam lại dẫn một phái đoàn qua Trung Quốc để "tìm hiểu kinh nghiệm quản lý kinh tế của nước láng giềng".
Tưởng cấn nhắc lại, theo bản tin của hãng thông tấn Kyodo ngày 21/1/2012, trong cuộc viếng thăm Việt Nam vào tháng 12/2011, ông Tập Cận Bình, lúc đó còn là phó chủ tịch nước, đã cảnh cáo nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam "không được dựa vào Mỹ trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông". Thế nhưng trong khi chủ tịch Trương Tấn Sang qua Trung Quốc, Hà Nội cho thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, đến Washington gặp tướng Martin Dempsey, chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Mỹ. Phát ngôn viên của tướng Dempsey cho biết "ngoài các vấn đề khu vực [Châu Á-Thái Bình Dương], hai ông Dempsey và Đỗ Bá Tỵ còn thảo luận về chính sách chuyển dịch trọng tâm về khu vực của chính quyền Obama".

Như vậy, mặc dầu có sự cảnh cáo của Bắc Kinh, Hà Nội vẫn tiếp tục chơi trò đu dây.

Mỹ không chọn xung đột

Chúng ta nhớ lại, ngày 10/1/2012 một nhóm tác giả thuộc Trung tâm An ninh Hoa Kỳ Mới đã đưa ra một tài liệu có đề tựa là "Hợp tác từ Sức mạnh : Hoa Kỳ, Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa". Trong tài liệu này, các tác giả đã kêu gọi Washington thi hành chính sách hợp tác trong thế mạnh trên Biển Đông để tránh xung đột và bảo vệ tự do đi lại cùng độc lập của các nước nhỏ hơn.

Nhiều người tin rằng tài liệu này được đưa ra là nhắm ngăn chặn Hoa Kỳ bỏ rơi các nước trong Biển Đông, nhầt là Philippines và Việt Nam. Vấn đề được đặt ra là Hoa Kỳ đang tiến tới hợp tác với Trung Quốc "trong thế mạnh" hay bằng "quan hệ hòa dịu" ?

Hiện nay, ngoài những lời tuyên bố suông, chúng ta chưa thấy Washington có hành động cụ thể nào cho thấy Hoa Kỳ quyết tâm ngăn chặn sự lộng hành của Trung Quốc trên Biển Đông. Ngày 1/7/2013 khi đến dự hội nghị ASEAN tại Brunei, ngoại trưởng Mỹ John Kerry chỉ nói một cách vu vơ : "Với tư cách là một quốc gia ở Thái Bình Dương và là cường quốc trong khu vực này, Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì hòa bình và an ninh, tôn trọng luật pháp quốc tế, trao đổi thương mại không bị ngăn cản và tự do hàng hải tại Biển Đông".

Ông còn tái khẳng định : "Hành động chúng tôi không nhằm làm chủ hoặc chống lại một nước nào".

Ngoài việc bận lo vấn đề Trung Đông và xây dựng lại sự hợp tác với Âu Châu, Hoa Kỳ còn nhận thấy rằng những quyền lợi của họ tại Trung Quốc còn lớn hơn gấp nhiều lần quyền lợi của 10 nước ASEAN cộng lại, nên xung đột với Trung Quốc về Biển Đông không có lợi gì. Còn vấn đề khai thác dầu lửa tại Biển Đông, các chuyên gia ước tính Trung Quốc phải cải tiến kỹ thuật ít là 20 năm nữa mới khai thác được. Vì vậy, trong hiện tại, Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào Biển Đông trừ khi Trung Quốc ngăn chặn hải lộ quốc tế trên biển này, một điều ít ai tin rằng có thể xảy ra.

Lời nhận định của ôngEllen Tordesillas, một nhà phân tích kỳ cựu của Philippines, được coi là chính xác : "Mặc dù Mỹ muốn ngăn chặn thế lực của Trung Quốc, nhưng nước này sẽ không muốn làm kẻ thù của người khổng lồ Châu Á. Họ cũng không muốn bị lôi kéo vào cuộc chiến giữa Philippines và Trung Quốc".

Hà Nội chắc chắn cũng đã có nhận định như thế đối với Việt Nam, vì Hoa Kỳ đã có cam kết bảo vệ Philippines chứ chua hề có cam kết như thế đối với Việt Nam.

Lữ Giang (4/7/2013)

12 thg 3, 2013

Mỹ

Đại tướng Lưu Á Châu

(Đây là phần lược dịch bài diễn văn của Đại tướng Lưu Á Châu, hiện đang là Chủ nhiệm chính trị lực lượng Không quân của Quân khu Bắc Kinh.)

Trong quá khứ, vì để giúp Trung Hoa thoát khỏi ách thống trị thực dân mà Mỹ đánh bại Nhật, họ có cống hiến lớn đối với tiến bộ văn minh của xã hội Trung Hoa.

Hai nước Trung Hoa - Mỹ không có xung đột vi` lợi ích căn bản. Ngày nay, do lợi ích của Mỹ rải khắp toàn cầu nên 2 nước có xung đột. Nhưng chúng ta vẫn phải dùng tấm lòng đạo đức để bình xét sự vật chứ không thể kích động.

Tôi từng nói rằng đối với Nhật, một nước từng tàn sát mấy chục triệu đồng bào ta, mà chúng ta thường xuyên nói 2 nước "phải đời đời kiếp kiếp hữu hảo với nhau". Thế thì chúng ta có lý do nào để căm ghét nhân dân Mỹ từng giúp ta đánh bại Nhật?

Đâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ?

Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái đó không đáng sợ.

Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc rất thoải mái, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của họ không phải là những thứ ấy.

Năm 1972, tôi học ở Đại học Vũ Hán, lên lớp giờ chính trị. Một thầy giáo khoa chính trị nói: "Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết hơi rồi."

Tôi, một sinh viên công nông binh mặc bộ quân phục, đứng ngay lên phản bác:

- "Thưa thầy, em cảm thấy thầy nói không đúng ạ. Tuy rằng nước Mỹ không giống Trung Quốc là mặt trời nhô lên lúc 8- 9 giờ sáng, nhưng Mỹ cũng chẳng phải là mặt trời đang lặn gì gì đó, mà là mặt trời lúc giữa trưa ạ."

Thầy giáo bực mình, tái mét mặt ấp úng nói: "Cái cậu học sinh này, sao dám nói thế hả!" Ông ấy không hỏi tôi tại sao lại nói thế, mà dùng một chữ "dám". Lúc đó tôi thấy hết tâm trạng của ông.

Chính là cái nước tư bản mục ruỗng suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ trước đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới. Tôi tốt nghiệp đại học đúng vào lúc bắt đầu cải cách mở cửa.

Tôi lại có một quan điểm: Nước Mỹ là quốc gia do hàng chục triệu con người đều rất yêu nước Mỹ. Hồi ấy rất nhiều người lãnh đạo TQ vừa chửi Mỹ vừa gửi con cái mình sang Mỹ. Một sự tương phản lớn!

Vậy thì cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi cảm thấy có ba điểm.
- Điểm thứ nhất, không thể coi thường cơ chế tinh anh của Mỹ. Chế độ cán bộ, chế độ tranh cử của Mỹ.
Bi kịch của Trung Quốc chúng ta :phần lớn tình hình là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có chức vụ, có chức vụ thì không có đầu óc.


Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên. Nhờ thế,
1 - họ không mắc sai lầm;
2 - họ ít mắc sai lầm;
3 - mắc sai lầm thì có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì mắc sai lầm, thường xuyên mắc sai lầm, mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai.

Mỹ dùng một hòn đảo Đài Loan nhỏ xíu để kiềm chế Trung Quốc chẵn nửa thế kỷ.
Nước cờ này họ đi thật linh hoạt, thật thần kỳ. Một Đài Loan làm thay đổi hẳn sinh thái chính trị quốc tế.

Điều tôi lo ngại nhất là bộ khung chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ mới sẽ vì vấn đề Đài Loan mà biến dạng. Ngày nay, đối với các dân tộc có thế mạnh thì tính quan trọng của lãnh thổ đã giảm nhiều, đã chuyển từ tìm kiếm lãnh thổ sang tìm kiếm thế mạnh của quốc gia.

Người Mỹ không có yêu cầu lãnh thổ đối với bất cứ quốc gia nào. Nước Mỹ không quan tâm lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân chứ còn gì nữa! Có lòng dân thì quốc gia có lực ngưng tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì khẳng định đất đai sở hữu sẽ bị mất.

Có nhà lãnh đạo quốc gia chỉ nhìn một bước. Nước Mỹ hành sự thường nhìn 10 bước. Vì thế cho nên mỗi sự kiện lớn toàn cầu xảy ra sau ngày Thế chiến II chấm dứt đều góp phần làm tăng cường địa vị nước Mỹ. Nếu chúng ta bị họ dắt mũi thì có thể sẽ mất hết mọi con bài chiến lược.

Tôi nhiều lần nói là trung tâm chiến lược của Mỹ sẽ không chuyển sang châu Á đâu, song điều đó không có nghĩa là Mỹ không bao vây Trung Quốc.

Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, cũng như rất nhiều người chỉ thấy khoảng cách chênh lệch về KHKT và trang bị vũ khí giữa 2 nước mà chưa nhìn thấy sự mất cân đối nghiêm trọng hơn sự lạc hậu về trang bị trên mặt chiến lược lớn, nhất là trên tầng nấc ngoại giao.


Sau vụ 11/9, Mỹ nhanh chóng chiếm Afghanistan trong vòng 2 tháng, từ phía Tây bao vây Trung Quốc.

Sức ép quân sự của Nhật, Đài Loan, Ấn Độ cũng chẳng bớt đi. Xem ra chúng ta giành được từ vụ 11/9 một số lợi ích trước mắt, song các lợi ích đó không quá 1- 2 năm có thể biến mất. Tôi cho rằng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc là một kiểu khác, không phải là quân sự mà là siêu việt quân sự.
Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành cái gọi là quốc gia "dân chủ". Nga, Mông Cổ thay đổi rồi, Kazakhstan thay đổi rồi.

Cộng thêm các nước trước đây như Hàn Quốc, Phillippines, Indonesia, lại cộng thêm vùng Đài Loan.

Đối với Trung Quốc, sự đe doạ này còn ghê gớm hơn đe doạ quân sự. Đe doạ quân sự có thể là hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia “dân chủ” bao vây là hiệu ứng dài hạn.

Điểm thứ hai, sự độ lượng và khoan dung của nước Mỹ. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn:Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi có một câu nói: Tập thể dục là một phẩm chất, tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá khí thế hừng hực đi lên.

Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.
Người Mỹ có thể lấy quốc kỳ làm quần lót để mặc. Hồi ở Mỹ tôi có mua một chiếc quần cộc cờ sao vạch. Tôi thường xuyên mặc chiếc quần ấy. Tôi mặc nó là để khinh miệt nó, là để trút giận, là một dạng trút sự bực bội và thoả mãn về tâm lý.

Người Mỹ mặc nó là sự trêu chọc bỡn cợt, bản chất khác. Người Mỹ có thể đốt quốc kỳ nước mình ngoài phố.

Đới Húc [7] nói: Nếu một quốc gia có thể đốt cả quốc kỳ của mình thì anh còn có lý do nào đi đốt quốc gia ấy nữa?

Điểm thứ ba, sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức. Đây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai hoạ ập đến, thể xác ngã xuống trước tiên, nhưng linh hồn vẫn đứng. Có dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà linh hồn đã đầu hàng.

Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc đều có thể để chúng ta qua đó nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ. Việc thứ nhất, sau khi phần trên toà nhà Thương mại thế giới bị máy bay đâm vào, lửa cháy đùng đùng, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình không rối loạn lắm.

Người ta đi xuống, lính cứu hoả xông lên trên. Họ nhường lối đi cho nhau mà không đâm vào nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người mù tới, mọi người tự động nhường lối đi để họ đi trước. Thậm chí còn nhường đường cho cả một chú chó cảnh. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy. Đứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không, e rằng không phải là thánh nhân thì cũng gần với thánh nhân.

Việc thứ hai, hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị những người Mỹ tức giận đập phá. Một số thương nhân người A Rập cũng bị tấn công. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng gác trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch tiếp theo.

Đó là một tinh thần thế nào nhỉ. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Thành Đô nơi tôi ở, ngày xưa Đặng Ngải [8] sau khi chiếm được Thành Đô, con trai của Bàng Đức [9] giết sạch giá trẻ gái trai gia đình Quan Vũ. Trả thù đẫm máu, lịch sử loang lổ vết máu không bao giờ hết.

Việc thứ ba, chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania vốn dĩ bị không tặc dùng để đâm vào Nhà Trắng. Sau đấy hành khách trên máy bay vật lộn với bọn khủng bố nên mới làm máy bay rơi.

Vì lúc ấy họ đã biết tin toà nhà Thương mại thế giới và Lầu Năm Góc bị máy bay đâm vào nên họ quyết định không thể không hành động, phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố.Cho dù trong tình hình ấy họ còn làm một chuyện thế này:

Quyết định biểu quyết thông qua có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác.

Sau khi toàn thể mọi người đồng ý, họ mới đánh bọn không tặc.

Dân chủ là gì; đây tức là dân chủ. Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của họ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.

4 thg 12, 2012

Tàu: Một Tân Đế Quốc Thực Dân Hay Thời Xuân Thu Chiến Quốc?

Nguyễn Văn Trần

Từ nhiều năm nay, tuy tự thừa nhận là quốc gia đang phát triển, Tàu không dấu thái độ hóng hách, kiêu căng do mức phát triển với 2 số liên tục suốt trong thời gian dài. Nhiều nhà phân tách đã không bỏ qua trường hợp nước Tàu để tìm hiểu và dự đoán tương lai.

Người ta đang theo dõi thế giới thay đổi sâu xa và khủng hoảng tài chánh sẽ góp phần làm gia tăng ảnh hưởng về tốc độ sự vận hành của thế giới. Sức mạnh kinh tế của những quốc gia kỹ nghệ phát triển xưa đang suy thoái để nhường chỗ cho những nước đang phát triển, trong đó có Tàu đứng đầu. Tình hình này, theo nhiều nhà kinh tế học, sẽ còn kéo dài trong nhiều năm nữa.

Tuy nhiên cũng có không ít những nhà kinh tế học khác lại quả quyết sự cầm cự của những quốc gia đang phát triển chống lại tình trạng khủng hoảng chung sẽ không kéo dài được lâu. Trong số những nhà kinh tế này, Ông Nouriel Roubini, nhà chuyên môn dự báo những thảm họa quốc gia, hồi tháng 4 vừa qua, đã lên tiếng nhận xét về mô hình phát triển Trung quốc. Theo ông,«Trung quốc không thể đứng vững được lâu hơn và sẽ sụp đổ, rất có thể sau năm tới 2013». Vì không có một nước nào trên thế giới có thể sản xuất để đem 50% sản lượng nội địa đưa vào đầu tư mà không tạo ra những quá tải đối với khả năng sản xuất và không đẻ ra những tín dụng xấu.

Ông Francis Fukuyama, nhà chánh trị học, xã hội học và triết học của Mỹ, tiên đoán một cách quả quyết hơn «Tôi nghĩ cái hệ thống ở Tàu sẽ nổ tung một lúc nào đó» vì theo ông, «tương lai nước Tàu không có gì chắc chắn. Sự cứng rắn của hệ thống chánh trị càng ngày sẽ đụng chạm mạnh với sự nhanh chóng của tin tức qua những mạng xã hội». Mà đụng chạm thì phải bùng vỡ thôi.

Như trong năm rồi, tai nạn xe lửa cao tốc xảy ra, nhà cầm quyền Bắc kinh theo thói quen dấu dân chúng, cho chôn dấu tất cả vết tích của vụ việc. Nhưng dân chúng dồn dập đưa tin với cả đầy đủ hình ảnh. Nhà cầm quyền Bắc kinh sau cùng phải thừa nhận sự thật tệ hại đó.

Nhà cầm quyền ở Bắc kinh cũng biết rõ những khó khăn và nguy hiểm sanh tử cho chế độ độc tài của họ nên họ nổ lực tìm giải pháp khắc phục để tồn tại.

Chúng ta sẽ xem qua những khó khăn và khả năng đối phó để duy trì chế độ độc tài của Bắc Kinh. Trong bài này, chúng ta thử thấy Tàu có phải là một thứ Đế quốc thực dân kiểu mới hay không?

Chánh sách đối ngoại của Bắc kinh

Chưa bao giờ chỉ trong hai năm mà những trao đổi ngoại thương giữa Tàu và Phi châu gia tăng lên tới 89 %, một kỷ lục mới. Bắc kinh, đồng thời, cũng tuôn hàng hóa, có chất độc nhiều ít không biết, tràn ngập qua Phi châu đen. Mục đính là để thu về nhiên vật liệu cung ứng cho nhu cầu sản xuất của Tàu. Để bảo đảm nguồn năng lượng, Bắc kinh còn đầu tư mạnh vào các nước Phi châu có dự trữ nhiên liệu để khai thác. Khi đẩy mạnh chánh sách này, Bắc Kinh không quên trấn an các quốc gia Phi châu, vốn cựu thuộc địa của Tây phương, là Bắc Kinh không bao giờ muốn thiết lập chế độ thực dân như trước kia.

Tại Diễn đàn Hợp tác kỳ 4 giữa Tàu và Phi châu tổ chức ngày 19 tháng 7 tại Bắc kinh, Hu Jintao tuyên bố để xác định chánh sách đối ngoại của Tàu «Tàu là một trong những nước lớn nhứt của thế giới đang phát triển, và Phi châu là một lục địa lớn gồm nhiều quốc gia. Nhân dân Trung hoa và Phi châu thắt chặt những mối quan hệ bình đẳng, thật lòng, hữu nghị và cùng yểm trợ nhau trong sự phát triển chung».

Năm 1979, Đặng Tiểu Bình thay đổi đường lối cộng sản hướng về phát triển kinh tế. Ngày nay, nhà cầm quyền ở Bắc Kinh giữ ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế. Để bảo đảm nguồn nhiên liệu không bị gián đọan, Bắc kinh không ngần ngại quan hệ ngoại giao với những chánh quyền độc tài và tham nhũng. Họ còn yểm trợ những chánh quyền này như trước đây các chánh quyền thực dân đã dựng lên và nuôi dưỡng. Vì những chánh quyền này còn thì nguồn cung cấp nhiên liệu còn. Vả lại, xưa nay, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, có gì lạ!

Hơn nữa, cộng sản vốn là con đẻ của Đế quốc tư bản. Vào đầu thế kỷ trước, các công ty lớn các nước tư bản thắt chặt mối quan hệ với giới lãnh đạo các nước có tài nguyên thiên nhiên như dầu hỏa, khoáng sản, cao su…

Phải chăng thật lòng không muốn giẫm lên những bước chân thực dân cũ mà Hu Jintao đã cho các nước Phi châu quan hệ với Tàu vay 20 tỷ đô-la trong 3 năm để mở mang nông nghiệp, hệ thống hạ tầng cơ sở và xí nghiệp nhỏ. Lúc nào giới chức Bắc Kinh cũng tuyên bố là không hề can thiệp vào nội bộ các quốc gia bạn. Theo dự tính, tới năm 2035, Tàu phải cần 11, 6 triêu thùng dầu / ngày và qua 5 năm sau, mức tiêu thụ sẽ tăng lên bằng Huê Kỳ trong lúc đó, Tàu chỉ có khả năng tự túc nhiên liệu cho ¼ nhu cầu. Nhu cầu nhiên liệu ngày trở thành sanh tử cho giới lãnh đạo Bắc Kinh. Ông Le Yucheng, Thứ trưởng Ngoại giao, không giấu giếm mối lo ngại lớn của nhà cầm quyền «Bổn phận của nước Tàu là bảo đảm một đời sống đàng hoàng cho 1, 3 tỷ người dân của mình. Quí vị có thấy đó là cái thách thức vô cùng lớn không và là cái áp lực vô cùng nặng nề đè lên chánh phủ không. Tôi không thấy có gì khác là đáng kể hơn. Tất cả phần còn lại chỉ phụ thuộc vào cái ưu tiên quốc gia này». Tức vì nhu cầu nhiên vật liệu để phát triển, Tàu phải tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước Phi châu, Nam Mỹ, khối cựu Liên-xô và Trung đông. Đó là mục tiêu hàng đầu của chánh sách đối ngoại hiện nay. Mục tiêu ngoại giao này, để bảo đảm nguồn cung cấp không bị gián đoạn vì nội chiến, sự thay đổi chế độ ở đó, được đảng và Chánh phủ, Ngân hàng Nhà nưóc và cả Quân đội yểm trợ. Riêng về nguồn dầu hỏa, Chánh phủ chỉ thị các Công ty Quốc doanh gấp rút đầu tư khai thác các mỏ dầu ở ngoại quốc.

Việc đầu tư luôn luôn đi kèm với những khoản cho vay rẻ, giúp xây dựng cơ sở thể thao, giải trí, những bữa chiêu đãi huy hoàng tại Bắc kinh và cả quân sự nữa. Các nước như Angola, Venezuela, Soudan, Zimbabwe đều được hưởng những lợi lạc này khi bắt tay «làm ăn» với Tàu. Họ nhận từ 2 tỷ tới 20 tỷ đô-la vay rẻ hoặc sự yểm trợ quân sự.

Như vậy làm sao hiểu được lời tuyên bố của Hu Jintao là Tàu ngày nay không thiết lập chế độ thực dân như Tây phương trước đây khi họ ngày càng can thiệp sâu vào nội tình các nước cung cấp nhiên vật liệu cho họ để bảo vệ quyền lợi của họ nơi đây? Trong mục đích này, Tàu không ngần ngại yểm trợ những chế độ độc tài, tham nhũng vừa quân sự vừa ngoại giao cấp Liên Hiệp quốc. Iran là một trường hợp cụ thể. Với những nước khác, Bắc Kinh chủ trương bắt lấy vài người trong Chánh quyền hoặc cả Chánh quyền bằng mua chuộc. Những người trong Chánh quyền thì giàu nhờ tiền của Tàu nhưng dân chúng thì không hưởng được gì qua cách ngoại giao này. Như ở Angola, người dân chỉ sống không quá 2 đô-la / ngày. Ở Zimbabwe, khi ủng hộ chế độ độc tài đàn áp dân của Robert Mugabe, giúp huấn luyện và tổ chức an ninh để bảo vệ chế độ, Tàu nhằm tậu đất đai trồng trọt và khai thác khoán sản, đá quí. Cách Tàu có mặt ở Phi châu không khác gì họ đang tung hoành ở Việt Nam qua đảng cộng sản Hà Nội. Đảng viên cộng sản giàu có nhờ bán đất đai, khoáng sản cho Tàu trong lúc đó dân chúng Việt nam ngày càng nghèo thêm. Đất nước sẽ không còn của Việt Nam nữa.

Tàu có phải Đế quốc thực dân kiểu mới?

Tổng thống Nam Phi nhận định rõ «cách ngoại giao của Tàu như vậy không thể tồn tại được về lâu về dài».

Theo báo cáo của Ủy Ban Phát triển Âu châu, Tàu đổ xô đầu tư vào Phi châu, khai thác đất đai nông nghiệp, khoáng sản, xây dựng hạ tầng cơ sở, …cho mọi người cảm tưởng Phi châu đang hưởng phúc lợi. Bắc kinh đang giúp vực dậy nền kinh tế Phi châu và Phi châu bắt đầu phát triển. Năm 2005, một nghiên cứu khác đưa ra một hình ảnh Phi châu tương phản. Mười bốn nước sản xuất dầu hỏa và khoáng sản bán cho Tàu có được thặng dư về ngoại thương. Ba mươi nước khác, trái lại, buôn bán bị thua lỗ vì thị trường của họ tràn ngập hàng hóa tiêu dùng rẻ tiền của Tàu, giết chết những nhà sản xuất nội địa. Đây cũng là hình ảnh của Việt Nam ngày nay.

Trong trao đổi giữa Tàu và Phi châu, cái hố ngăn cách giữa nước được và nước thua thiệt ngày càng thêm khoét sâu và rộng ra không tránh khỏi gây ra ở đây đó sự bất mãn trong dân chúng. Bản báo cáo kết luận «Với đa số các quốc gia Phi châu, lời tuyên bố của nhà lãnh đạo Bắc Kinh đem lại hi vọng rất lớn, nhưng thực tế chẳng có gì hết vì không tạo ra được những điều kiện phát triển thật sự» nhằm phúc lợi cho dân chúng vốn nghèo đói triền miên của vùng kém mở mang.

Khi Tàu tới Phi châu hay những nơi khác chỉ nhằm tìm nguyên vật liệu, ủng hộ những chế độ độc tài tham nhũng địa phương để sai khiến chúng bảo vệ quyền lợi của mình, không nghĩ tới quyền lợi thật sự của dân chúng ở những nơi đó thì cách ứng xử này không thể bênh vực cho Tàu không phải là Đế quốc thực dân giống như các thế lực thực dân Tây phương trước kia.

Riêng ở Việt Nam, Tàu kết hợp với đảng cộng sản Hà Nội thành một thế lực thực dân kiểu mới đàn áp, bốc lột nhân dân Việt Nam cực kỳ dã man, cướp của dân tới từng cộng rau muống cuối cùng. Thế lực mới này, không có tên nào khác chính xác hơn để gọi, đó là bọn ngụy Hán.

*** Những số liệu và trích dẫn mượn ở tác giả Micheal T. Klare, Le Monde Diplmatique, số 9/2012, Paris

Nguyễn văn Trần

10 thg 9, 2012

Thủ tướng Singapore nêu chuyện biển Đông tại Trung Quốc

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có ý kiến với các lãnh đạo Trung Quốc rằng hình ảnh quốc tế của nước này quan trọng hơn những lợi ích ở biển Đông.


Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (phải) đón Thủ tướng Lý Hiển Long tại Bắc Kinh - Ảnh: AFP

Ông Lý vừa có chuyến thăm Trung Quốc kéo dài 6 ngày, kết thúc hôm 7.9. Ngoài các cuộc gặp gỡ với những lãnh đạo cao cấp nhất ở Bắc Kinh - trừ Phó chủ tịch Tập Cận Bình - ông Lý cũng đi thăm nhiều dự án lớn của Singapore ở các tỉnh khác. Tại Bắc Kinh ngày 6.9, ông có cuộc đối thoại ở Trường Trung ương Đảng với khoảng 300 quan chức cấp cao nước chủ nhà. Ông Lý đã phát biểu bằng tiếng quan thoại đến 40 phút, theo sau là phần hỏi đáp mà ông trả lời bằng tiếng Anh.

Lập trường của Singapore

Về quan hệ với Trung Quốc, ông Lý nói thẳng: “Đa số dân Singapore là người Hoa. Nhưng bao quanh chúng tôi là những quốc gia mà người Hoa chiếm thiểu số và vị trí của họ là một vấn đề chính trị tế nhị. Vì vậy, chính sách ngoại giao của chúng tôi là hành động độc lập dựa trên các lợi ích quốc gia của mình. Chúng tôi trân trọng quan hệ gần gũi với Trung Quốc và với các nước khác”.
Đứng trên lập trường đó, ông Lý nhìn nhận quan hệ Trung Quốc - Mỹ là quan hệ quan trọng nhất đối với mỗi bên và cả thế giới. “Toàn bộ khu vực chúng ta sẽ bị ảnh hưởng tùy thuộc vào sự phát triển của quan hệ này”, ông nói. Giữa lúc xuất hiện nhiều ý kiến về sự yếu đi của Mỹ, Thủ tướng Singapore chỉ ra rằng: “Mỹ không phải là quốc gia đang đi xuống. Mỹ sẽ tiếp tục là siêu cường trong một tương lai có thể dự đoán được”. Lý do, theo ông, là nước Mỹ có sức bật và sức sáng tạo tuyệt vời nhờ những người nhập cư. “Tất cả 8 người gốc Hoa từng đoạt giải Nobel đều là công dân hoặc cuối cùng cũng trở thành công dân Mỹ”, ông nhắc nhở.

Bất chấp vị trí khách mời ở Bắc Kinh, Thủ tướng Singapore nói: “Mỹ có những lợi ích chính đáng ở châu Á và có một vai trò ở đây mà không nước nào có được”. Vai trò đó, theo ông, không chỉ nhờ sức mạnh quân sự và kinh tế, mà còn vì những lý do lịch sử. “Đó là lý do nhiều quốc gia châu Á - Thái Bình Dương hy vọng Mỹ tiếp tục đóng góp vào hòa bình và ổn định của khu vực, và Singapore tin tưởng như vậy”, ông nói.

Giữ gìn hình ảnh

Ông Lý cũng thẳng thắn bày tỏ lo lắng rằng những diễn biến phức tạp gần đây trên biển Đông sẽ ảnh hưởng đến an ninh khu vực cũng như nền kinh tế, hoạt động giao thương đường biển của Singapore. “Singapore có lập trường rõ ràng và nhất quán trong vấn đề biển Đông. Chúng tôi không phải là quốc gia có tuyên bố chủ quyền nên không đứng về bên nào. Nhưng chúng tôi có những lợi ích sống còn ở đó”, ông phát biểu.

Ông đề nghị: “Tranh chấp chủ quyền và quyền khai thác các nguồn lợi ở biển Đông cần được giải quyết một cách hòa bình theo công pháp quốc tế, gồm Công ước LHQ về luật Biển”. Ông cũng kêu gọi ASEAN đoàn kết và thống nhất để tránh tình trạng các thành viên bị buộc phải chọn theo một thế lực nào đó. Bằng không, “Đông Nam Á sẽ trở thành đấu trường mà chẳng ai chiến thắng cả”, ông cảnh báo. “Biển Đông là trái tim của ASEAN. Vì vậy, nếu ASEAN không giải quyết được vấn đề tranh chấp thì uy tín của khối sẽ bị hủy hoại”. Bản tuyên bố lập trường 6 điểm của ASEAN về biển Đông vào ngày 20.7 là một tiến bộ, và “chúng tôi hy vọng Trung Quốc sẽ cùng ASEAN sớm đối thoại về Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông”, ông Lý nói.

Trong phần trao đổi với các quan chức nước chủ nhà, ông Lý cũng chỉ ra rằng những hành động của Trung Quốc ở biển Đông sẽ được các nước lấy làm cơ sở đánh giá ý nghĩa thực chất của việc nước này đang mạnh lên. Vì vậy, ông kỳ vọng Bắc Kinh sẽ “kéo dài giai đoạn trỗi dậy” bằng cách góp phần tạo dựng hòa bình và thịnh vượng cho chính mình, châu Á và cả thế giới, thay vì gây quan ngại như cách họ đang làm. “Các bãi cạn là quan trọng, các giếng dầu là quan trọng, các mỏ khí dưới lòng biển Đông cũng quan trọng. Nhưng hình ảnh dài lâu của Trung Quốc, không chỉ đối với ASEAN mà với cả thế giới, là cực kỳ quan trọng", ông Lý nhắc nhở.

Thục Minh
(VP Singapore)

18 thg 10, 2011

LƯỜNG GẠT LỊCH SỬ ?



Lường gạt Lịch sử ?
Frank Ching/The Diplomat
Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ

Học giả Mỹ Lucian Pye từng tuyên bố nổi tiếng rằng Trung Quốc không phải là một quốc gia mà là "một nền văn minh đóng vai trò nhà nước". Điều đó có thể thích hợp vào một thời điểm nào trước đây, nhưng ngày nay Trung Quốc đã chuyển hóa thành một nhà nước hiện đại đóng vai chủ động trên các diễn đàn quốc tế.

Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đã cố gắng tận dụng lịch sử lâu dài của mình để nhấn mạnh các yêu sách của mình trong các tranh chấp quốc tế. Đó là một phối hợp có hiệu quả. Sự việc này không đâu rõ ràng hơn là trong cuộc tranh chấp lãnh hải hiện tại Biển Đông, nơi Trung Quốc đang chống lại một số nước láng giềng. Cùng bị lôi kéo vào các cuộc tranh cãi là Hoa Kỳ, Ấn Độ và ngày càng gia tăng với Nhật Bản.
Năm 1996, Bắc Kinh đã phê chuẩn các Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và công khai chấp nhận những điều khoản của Hiệp ước rằng "Trung Quốc sẽ được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên một khu vực kinh tế độc quyền 200 dặm hải lý và thềm lục địa" - một khái niệm cho đếnn nay vẫn không rõ ràng.
Nhưng đồng thời Trung Quốc vẫn tái khẳng định các yêu sách của mình về các đảo nhỏ, đảo đá và rạn trong vùng biển Nam Trung Hoa bằng những căn cứ lịch sử. Nghĩa là, Trung Quốc yêu sách tất cả các quyền do quy định pháp luật quốc tế hiện nay mang lại, ngoài ra căn cứ vào nền văn minh có thể truy ngược trở lại vài ngàn năm của mình, họ còn khẳng định cả những quyền hạn không được công nhận.
Trong lịch sử, Trung Quốc từng là một quyền lực thống trị ở Đông Á và bị coi là kém sức mạnh vì sự chia rẽ của họ. Hiện nay, từ việc kiên quyết về các yêu sách chủ quyền lãnh thổ, phản ánh mối quan hệ của một lịch sử đã bị triệt tiêu hàng trăm năm trước đây vì sự vươn dậy của phương Tây, trong một ý nghĩa nào đó, Bắc Kinh đang nỗ lực làm sống lại và hợp pháp hóa một tình huống mình từng làm bá chủ mà không ai dám thách thức.
Sự mơ hồ về những mảng pháp lý quốc tế Trung Quốc công nhận và những phần không gây nên các tranh cãi hiện nay có liên quan trực tiếp Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei, và gián tiếp đến quyền lợi của nhiều quốc gia khác.
Đòi hỏi của các nước Đông Nam Á còn lại chủ yếu dựa vào quy định của Luật Biển. Thế nhưng, Trung Quốc, đang giữ quan điểm rằng chủ quyền lãnh thổ của họ đã có trước khi Luật Biển được ban hành, do đó bộ luật này không áp dụng với họ được. Lịch sử lấn át pháp luật.
Vào năm 2009, Trung Quốc đệ trình lên Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Biển một bản đồ để hỗ trợ của các tuyên bố của mình về "chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo trên vùng Biển Đông và lân cận" cũng như "phần biển và lòng đất dưới đáy biển".
Bản đồ có hình dạng một đường cong hình chữ U bao phủ hầu như toàn bộ phía Nam Biển Đông và ôm lấy bờ biển của các nước láng giềng trong đó có Việt Nam, Malaysia và Philippines. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đệ trình một bản đồ lên Liên Hợp Quốc để hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình, nhưng đã không đưa ra một giải thích nào về các yêu sách đến tất cả các vùng biển cũng như các quần đảo dọc theo những đường vạch.
Đây là một bước khởi điểm cực đoan từ lập trường mà Trung Quốc đã chọn khi phê chuẩn hiệp ước. Lúc ấy, Trung Quốc tuyên bố sẽ tổ chức các tham vấn với những quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp giáp với Trung Quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế và phù hợp với nguyên tắc công bằng".
Đáng kể là, đặc biệt đối với Hoa Kỳ, quan điểm của Trung Quốc về UNCLOS cũng đã chuyển đến một sự chú ý khác. Trong năm 1996, Trung Quốc giữ quan điểm rằng các tàu quân sự nước ngoài phải cần đến sự phê duyệt của mình mới được đi ngang qua vùng lãnh hải của Trung Quốc. Bây giờ, Trung Quốc lại tuyên bố rằng tàu quân sự nước ngoài phải được chấp thuận trước khi họ có thể đi qua vùng đặc quyền kinh tế của mình - một khu vực rộng lớn hơn vùng biển chủ quyền của họ.
Hoa Kỳ tranh chấp với quan điểm đó, duy trì rằng các vùng biển trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia là một phần của vùng biển ưu tiên và các tàu hải quân được tự do để đi vào, thậm chí còn có thể tiến hành các hoạt động mà không cần phải chờ đợi phê duyệt gì.
Quan điểm khác biệt này giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ (cũng như hầu hết các nước phát triển khác) đã dẫn đến cuộc đối đầu giữa hai nước, với sự việc tàu giám sát của hải quân Mỹ tiến hành thực hiện các nhiệm vụ thu thập thông tin trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc và đang bị Trung Quốc thách thức.
Mặc dù không phải hoàn toàn chưa xảy ra, việc dựa vào lịch sử của Trung Quốc là một sự phát triển tương đối mới trong luật pháp quốc tế. Ví dụ, các quốc gia ven biển đã từng được cho phép để yêu cầu mở rộng khu vực tài phán trên các vùng biển, đặc biệt là ở các vùng vịnh, hải đảo, khi những khiếu nại này đã được đưa ra từ lâu, riêng rẽ và được chấp nhận rộng rãi bởi các nước khác.
Tuy nhiên, trong trường hợp của Trung Quốc, kề từ khi công khai tranh chấp, các yêu sách của họ rõ ràng vừa không phải là riêng rẽ vừa không được các nước khác rộng rãi chấp nhận. Tuy nhiên, các quan chức và học giả Trung Quốc vẫn cố gắng củng cố lập luận của mình bằng cách viện dẫn đến các ghi chép lịch sử.
Ví dụ như, trong tháng Bảy, Li Guoqiang, một học giả nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử biên ải Trung Quốc và Địa lý của Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đã viết trên tờ Nhân dân nhật báo rằng: "bằng chứng lịch sử cho thấy người Trung Quốc từng phát hiện các đảo ở Biển Đông trong thời triều đại nhà Tần (221-206 trước Công nguyên) và Hán (206 BC-AD 220), đường biên giới biển của Trung Quốc, ông khẳng định, đã được hình thành bởi các triều đại nhà Thanh (1644-1911).
"Ngược lại", ông viết, "Trước triều đại nhà Thanh của Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia và Philippine hầu như không hề biết gì về các đảo ở Biển Đông".
Việt Nam, khi nhấn mạnh đến trường hợp khiếu kiện của mình, đã trích dẫn các bản đồ và địa lý xác nhận "chủ quyền lịch sử của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ 17". Điều này không phù hợp với tích cổ trong các khiếu nại của Trung Quốc, nhưng ít nhất, đã cho thấy rằng các khẳng định của Trung Quốc đã từng được tranh cãi trong nhiều thế kỷ, và rằng Trung Quốc lại không được hưởng quyền tài phán độc quyền và liên tục trên các quần đảo này.
Và, nếu lịch sử là các tiêu chí, thì nên quyết định căn cứ vào thời kỳ lịch sử nào ? Nói cho cùng, nếu triều đại nhà Tần hay nhà Hán được dùng như thời điểm chuẩn mực, thì ngày nay lãnh thổ của Trung Quốc nhỏ hơn nhiều, vì khi ấy họ chưa lấy được Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu mà bây giờ được gọi là phía đông bắc của Trung Quốc.
Một thỏa hiệp mà Trung Quốc mang ra chào mời các nước láng giềng là hãy gác lại các tranh chấp lãnh thổ để tham gia phát triển chung nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thỏa hiệp này từng được Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đề xuất gần đây nhất là vào ngày 31 tháng 8, khi ông gặp Tổng thống Philippines Benigno Aquino.
Tuy nhiên, lại có vấn đề nghiêm trọng. Là Trung Quốc thực sự có ý gì từ chính sách này ?
Trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc giải thích: "Khái niệm về "gác tranh chấp sang một bên để cùng theo đuổi phát triển chung" có bốn yếu tố sau đây:
1. Chủ quyền của các vùng lãnh thổ có liên quan là thuộc về Trung Quốc.
2. Khi điều kiện chưa chín muồi để mang lại một giải pháp toàn diện cho việc tranh chấp lãnh thổ, thảo luận về vấn đề chủ quyền có thể được hoãn lại để việc tranh chấp được gác sang một bên. Gác tranh chấp sang một bên không có nghĩa là từ bỏ chủ quyền. Đó chỉ là để những tranh chấp sang một bên trong lúc ấy.
3. Các vùng lãnh thổ tranh chấp có thể được phát triển theo một cách chung.
4. Mục đích của việc phát triển chung là nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau thông qua hợp tác và tạo điều kiện cho việc giải quyết cuối cùng của quyền sở hữu lãnh thổ.
Bốn điểm này rõ ràng cho thấy rằng thay vì gác lại tranh chấp lãnh thổ, ý tưởng phát triển chung là phương cách mà Trung Quốc áp đặt các đòi hỏi chủ quyền của mình lên phía bên kia. Chủ quyền của Trung Quốc ở đây chính là kết quả của sự mong muốn mà họ đạt được trong bất cứ hợp tác phát triển chung nào. Do đó, không lạ gì khi không một quốc gia nào chấp nhận đề nghị của Trung Quốc.
Có lẽ vì mâu thuẫn giữa các khẳng định về lịch sử và UNCLOS, các học giả Trung Quốc khác đang kêu gọi phải xem xét lại Luật Biển.
Li Jinming, một giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Hạ Môn, nói rằng có "các thiếu sót" trong UNCLOS, và kết quả là, "Trung Quốc nên xem xét hoàn cảnh riêng của mình trước khi thực thi UNCLOS". Có nghĩa là, mặc dù Trung Quốc đã phê chuẩn một bản hiệp ước từng có hiệu lực trong 17 năm qua, nhưng Bắc Kinh không cần phải tuân thủ các quy định của mình, trừ khi bằng cách nào đó bản hiệp định này được sửa đổi để hỗ trợ cho các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.
Có vẻ như Bắc Kinh muốn được thực hiện một ngoại lệ trong luật pháp quốc tế. Họ muốn phần bánh của mình và muốn được tận hưởng. Nhưng luật là luật. Có luật quốc tế mà làm gì để luật không còn mang tính quốc tế và không còn là luật nữa ?
Nguồn: The Diplomat

15 thg 10, 2011

TRUNG QUỐC : KHỦNG HOẢNG & NỘI LOẠN ĐI ĐẾN TỰ NỔ (IMPLOSION)



TQ: KHỦNG HOẢNG & NỘI LOẠN ĐI ĐẾN TỰ NỔ (IMPLOSION)
Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Ngày 25.02.2011, giới chức Tòa Bạch Ốc có một cuộc họp để nghe 5 học giả và chuyên gia về Trung quốc nói chuyện. Họ trình bầy về những khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị và về khả năng nội loạn tại nước này.
Bàn về thay đổi chính trị, cuộc họp đưa ra trường hợp: “Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể mất quyền, Quân đội có khi đứng lên gồm thâu thiên hạ về một mối. Nhưng, biết đâu, đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn tồn tại mà thành nhiều mảnh, mỗi mảnh hùng cứ một phương với tài nguyên nhân lực và kinh tế của mình".


Jeffrey Goldberg, The Atlantic, ngày 19.05.2011, viết một bài về Trung quốc, trích lời của Ngoại trưởng Hillary Clinton: “Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây đang làm “những việc vô ích như những gã hề”.

Ý tưởng “Trung Quốc thành nhiều mảnh, mỗi mảnh hùng cứ một phương với tài nguyên nhân lực và kinh tế của mình" làm tôi lưu ý đặc biệt, nhất là lúc này khi cuộc Khủng hoảng vùng Euro tăng mạnh với đe dọa phá sản Hy Lạp, rạn nứt giữa Pháp và Đức, một số người nhắc đến chữ “Tự nổ“ (Implosion) của vùng Euro.

Có sự khác biệt giữa “Nổ tung ra“ (Explosion) khi một khối gặp lực từ ngoài đánh vào làm cho cả khối nổ tóe tan ra, trong khi đó “Tự nổ “ (Implosion) khi chính trong lòng khối đó có sự nứt rạn, xung khắc đến chỗ tách rời nhau ra từng mảnh. Việc sụp đổ của Liên Xô và các Chư hầu Đông Âu tách ra, đó là việc “Tự nổ “ (Implosion).

Theo rõi tình hình Kinh tế của Trung quốc trong mấy năm nay, nhất là từ cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới 2008, rồi cuộc Khủng hoảng nợ công 2011 hiện nay, chúng tôi cũng dự đoán đến tương lai “Tự nổ “ của Trung quốc. Chúng tôi xin trình bầy hai điểm sau đây trong bài này:
=> Những lý do dẫn đến nứt rạn của Trung quốc.
=> Trung quốc “Tự nổ “ thành những mảnh.

Những lý do dẫn đến nứt rạn của Trung quốc
Có những lý do thuộc xã hội, chủng tộc, nhưng chính yếu là những lý do thuộc Kinh tế/Tài chánh. Thực vậy, vấn đề Tài chánh/Kinh tế luôn luôn là lý do tạo căng thẳng và nứt rạn ngay cả trong một gia đình. Hai thanh niên nam nữ yêu nhau thắm thiết và đi đến hôn nhân kết hợp, nhưng hai người ký kết tiền bạc, của cải là riêng lẻ để tránh những cãi vã rạn nứt sau này (Mariage, mais séparation des biens). Một Cộng đồng, tuy cùng một lý tưởng, nhưng lý do tiền bạc có thể làm rạn nứt Cộng đồng.

Lý do Nợ công của từng Tỉnh
Hoa kỳ và Liên Âu đang gặp Khủng hoảng Nợ công. Việc lạm chi của các Chính quyền Hoa kỳ và Liên Âu đã có Quốc Hội mỗi nước kềm chế. Nhưng tại Trung quốc, chính quyền địa phương các Tỉnh lại độc tài và tham nhũng, thì việc lạm chi để mang nợ công từng Tỉnh tất nhiên xẩy ra. Từ Khủng hoảng 2008, những chương trình Kích cầu Kinh tế được chia về các Tỉnh, nhưng việc Kích cầu không được thực hiện. Những Chi nhánh Ngân hàng địa phương đã dùng những món tiền ấy để cho vay kiếm lời. Chính quyền địa phương vay tiền để xây dựng những dự án nhà cửa và thế chấp bằng chính đất đai thuộc nhà nước. Với thế chấp như vậy, thì không thể nào tiền cho vay được hoàn trả.

Theo thẩm định của ngân hàng Anh, Standard Chartered :
Nợ công của Trung Quốc hiện lên tới 28.000 tỷ nhân dân tệ, tức khoảng
3.200 tỷ euro và tương đương 68 % tổng sản phẩm nội địa. Đáng lo ngại hơn cả là ngành ngân hàng Trung Quốc đang nắm trong tay đến 9.000 tỷ nhân dân tệ nợ khó đòi. Khoản tiền tương đương với 22 % GDP của Trung Quốc .

Tại Trung Quốc 3/4 các khoản chi tiêu công cộng là do các chính quyền địa phương tài trợ và chủ yếu giới lãnh đạo dồn tiền vào khu vực địa ốc.

Theo thống kê chính thức, hiện tại nợ công tại các cấp vùng lên tới 1.250 tỷ euro, tương đương với 20 % của cải làm ra và 80 % khoản nợ khổng lồ này do các ngân hàng Trung Quốc nắm giữ. Vấn đề càng thêm nghiêm trọng khi biết rằng, khối nợ công hơn 1.200 tỷ euro vừa nêu, trên thực tế có thể cao hơn gấp đôi so với thống kê chính thức.

Theo nhận xét của giáo sư đại học Northwestern, Chicago, chuyên gia về kinh tế Trung Quốc, ông Victor Shil do các công ty nhà nước được các ngân hàng quá ưu đãi nên rủi ro nợ khó đòi của giới ngân hàng lại càng cao.

Một tiếng nói uy tín khác từ viện nghiên cứu kinh tế độc lập Unirule tại Bắc Kinh cũng cho rằng : Trung Quốc đang lâm vào "hội chứng Hy Lạp". Tình trạng nợ nần tại quốc gia châu Á này còn nguy ngập hơn cả so với ở Hoa Kỳ và châu Âu bởi lẽ các tỉnh thành Trung Quốc, đặc biệt là các tỉnh nghèo và kém phát triển đã dễ dàng được cấp tín dụng để mở mang kinh tế. Vốn được dồn cho các công ty doanh nghiệp nhà nước nhưng các đơn vị đó lại làm ăn kém hiệu quả.

Cuối năm ngoái, chính quyền trung ương vì lo ngại nợ công ở cấp địa phương vượt khỏi tầm kiểm soát đã cho tiến hành một cuộc kiểm toán và theo đó thì nhiều tỉnh thành đang bị đe dọa mất khả năng thanh toán. Trong số đó phải kể đến đảo Hải Nam, thiên đường du lịch của các nhà tỷ phú đỏ Trung Quốc.

Theo Tin của Đài EURONEWS tối 11.10.2011, Nhà Nước Trung ương Trung quốc buộc lòng tái cung cấp thêm vốn cho 9 Ngân Hàng địa phương vì các Ngân Hàng này, cũng giống như Ngân Hàng DEXIA trước nợ công Hy Lạp, bị đe dọa vỡ nợ trầm trọng vì nợ công các địa phương lên cao không thể trả nợ được, mà Ngân Hàng không thể tịch thu thế chấp đất nhà nước.

Lý do Khủng hoảng nợ công Hoa kỳ và Liên Âu ảnh hưởng lên Kinh tế Trung quốc

Trung quốc sản xuất nhằm xuất cảng chứ không nhằm tiêu thụ nội địa. Kinh tế Trung quốc lệ thuộc chính yếu vào hai Thị trường Hoa kỳ và Liên Âu. Khi Hoa kỳ và Liên Âu bị khủng hoảng, nợ nần, thì họ cắt đi việc mua hàng từ Trung quốc.

Cuộc Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới 2008 đã làm cho Kinh tế Trung quốc chao đảo đợt nhất. Trong THE WALL STREET JOURNAL, ngày 02.02.2009, hai tác giả Loretta CHAO và Andrew BATSON đã viết dưới tựa đề A BIG TEST FOR SMALL FACTORIES:

”Chinese businesses struggle to survive the global downturn!” (Doanh nghiệp Trung quốc đấu tranh để sống còn trong cảnh tụt dốc tổng quát !” (page 11).

Hai tác giả dựa trên tài liệu của Nhà nước, cho biết rằng tại Quảng Đông: “62’400 companies shut down in 2008, according to the government records” (62’400 công ty bị đóng cửa, theo tài liệu của nhà nước). Nhưng một số công ty nhỏ sống còn : “But many small companies survive on the business with a few clients, or sell very low-margin products; they could be forced to close if a big client suddenly delays orders (page 11) (Nhưng nhiều công ty nhỏ sống còn với một số ít khách hàng, hoặc bán một mức độ rất thấp sản phẩm; những công ty này buộc lòng phải đóng cửa nếu một khách hàng lớn bất thần chậm trễ đặt mua hàng).

Hai tác giả trích lại lời của Ông Eric WU, một chủ xí nghiệp: “In Chinese we have a saying that it’s easier for small boats to turn around” (Tiếng Tầu có câu nói rằng đối với những xuồng nhỏ, dễ dàng chèo lái xoay chiều hơn).

Trong một bài khác cũng đăng trong THE WALL STREET JOURNAL, ngày 04.02.2009, dưới đầu đề PROFIT WARNINGS SOUND THE ALARM IN CHINA (Những cảnh cáo về lợi nhuận gióng lên lời báo động tại Trung quốc), tác giả Andrew BATSON trích lại lời của Oâng Wang QING, chuyên viên Kinh tế làm việc cho Morgan Stanley: “Profits and Profitability in 2009 will be very poor, and this is the key reason why I do not expect much private investment – especially in the manufacturing sector where China suffers from an overcapacity problem.” (page 32) (Tiền lời và khả năng lợi nhuận trong năm 2009 sẽ rất là nghèo nàn, và đây là lý do chính yếu tại sao tôi không hy vọng nhiều đầu tư tư nhân – đặc biệt vào lãnh vực xí nghiệp sản xuất mà Trung quốc đang phải chịu đựng vì vấn đề đầu tư quá khả năng làm việc.).

Tác giả nêu ra tỉ dụ:

* Tập đoàn CHINA SHIPPING CONTAINER LINES Co.Ltd. giảm lợi nhuận tới 50%

* Tập đoàn CHINA INTERNATIONAL MARINE CONTAINER giảm lợi nhuận tới 53%

* Tập đoàn SAIC Motor Corporation Ltd. giảm lợi nhuận tới 50%

* Tập đoàn CHINA LIFE INSURANCE Co. giảm lợi nhuận tới 50%

Cuộc Khủng hoảng nợ công năm nay 2011 đang gây tác hại cho Kinh tế Trung quốc đợt hai. Chúng tôi đã viết hai bài dưới đây để phân tích tầm ảnh hưởng của Nợ công Hoa kỳ và Liên Au lên Kinh tế Trung quốc:

1) Ngày 05.08.2011, bài BÃO TỐ CHỨNG KHOÁN 8/2011 ĐƯA ĐẾN KHỦNG HOẢNG KINH TẾ CHỆT.

2) Ngày 14.09.2011, bài KHỦNG HOẢNG VÙNG EURO VÀ TẦM ẢNH HƯỞNG LÊN KINH TẾ TRUNG QUỐC/VIỆT NAM.

Theo bản tin của AFP, đánh đi từ Bắc Kinh ngày 09.10.2011 bởi Allison JACKSON, thì ảnh hưởng đã tác dụng tai hại lên Kinh tế Trung quốc như sau: “La crise de la dette en Europe a commencé à affecter les exportateurs chinois, et son aggravation pourrait être "un malheur" pour la Chine et y mettre en péril des millions d'emplois, selon des responsables d'entreprises et des analystes.

Wu Wenlong, directeur des ventes d'un fabricant de ceintures de la province de Zhejiang, a vu ses commandes en provenance du Vieux continent baisser de 50% en un an.

L'Union européenne est le premier débouché des exportations chinoises, pour environ 380 milliards de dollars par an, et son effondrement coủterait très cher à la Chine, selon les analystes.

"Une aggravation de la crise de la dette dans la zone euro serait un malheur pour la Chine", selon Eswar Prasad, professeur à la Cornell University de New York et ancien chef du département Chine au Fonds monétaire international (FMI).

"Dans le cas le plus extrême d'un effondrement de la demande européenne, l'impact sera assez significatif étant donné que l'UE compte pour environ un cinquième des exportations chinoises".

"La croissance de l'emploi devrait avoir la priorité", selon lui. Dans la province de Guangdong, qui arrive en tête pour les exportations, le fabricant de vêtements Zhuodong Textile Garments Co Ltd a décidé de se tourner vers le marché intérieur pour trouver de nouveaux débouchés.

Mais cela prend du temps !

(Cuộc khủng hoảng nợ nần Au châu đã bắt đầu ảnh hưởng lên các nhà xuất cảng Trung quốc, và việc trở nên trầm trọng của nó có lẽ là một “cái họa “ cho Trung quốc và làm thiệt hại từng triệu công ăn việc làm, theo nhận định của những người trách nhiệm xí nghiệp và những nhà phân tích.

Oâng Wu Wenlong, Giám đốc Thương mại của xí nghiệp sản xuất dây thắt lưng thuộc tỉnh Zhejiang, đã xác nhận những đơn đặt mua hàng từ Au chau giảm hẳn xuống 50% trong một năm.

Liên Âu là thị trường hàng đầu cho những xuất cảng Trung quốc, chừng 380 tỉ Euro mỗi năm, và việc xuống dốc của thị trường này làm thiệt hại rất lớn cho Trung quốc, theo nhận định của những nhà phân tích.

Việc trở nên trầm trọng của khủng hoảng trong vùng Euro sẽ là cái họa lớn cho Trung quốc, theo nhận định của Eswar Prasad, Giáo sư của Đại học Cornell New York và cũng là cựu Trưởng của FMI/IMF bên Trung quốc.

Trong trường hợp tụt dốc tệ nhất của việc đặt mua hàng từ Aâu châu, ảnh hưởng tai hại sẽ rất trầm trọng vì Liên Au giữ khoảng một phần năm những xuất cảng Trung quốc.

Việc tăng công ăn việc làm phải là ưu tiên. Trong tỉnh Quảng Đông, tỉnh đứng đầu về xuất cảng, xí nghiệp sản xuất quần áo Zhuodong Textile Garments Co.Ltd. đã phải quyết định trở về thị trường nội địa để kiếm nơi tiêu thụ.

Nhưng điều đó phải có thời gian lâu dài !“

Lý do ảnh hưởng của Che chở Mậu dịch lên xuất cảng Trung quốc

Ngoài việc nợ công làm giảm mua hàng hóa Trung quốc, khuynh hướng tăng những Biện pháp Che chở Mậu dịch từ Hoa kỳ và Liên Au chắc chắn làm giảm sản xuất và xuất cảng hàng hóa của Trung quốc. Giảm sản xuất và xuất cảng có nghĩa là một số xí nghiệp đóng cửa.

Một nền Kinh tế xuất cảng tất nhiên sợ hãi khuynh hướng Che chở Mậu dịch. Khuynh hướng này đang mỗi ngày mỗi tăng tại Hoa kỳ và Liên Âu.

Tại Hoa kỳ, Hạ Viện và Thượng Viện đã thảo luận và quyết định về khả năng tăng thuế nhập cảng hàng đến từ Trung quốc và dự trù những Biện pháp ngăn chặn những hàng hóa đến từ Trung quốc, nhất là đối với những hàng hóa độc hại. Người ta không lạ gì phản ứng rất mạnh từ Bắc kinh, thậm chí Trung quốc đe dọa chiến tranh Mậu dịch.

Tại Âu châu, khuynh hướng dân chúng đòi hỏi Che chở Mậu dịch cũng được nhấn mạnh. Chúng tôi lấy tỉ dụ mới đây nhất của cuộc bầu cử sơ khởi chọn ứng cử viên Tổng thống của đảng Xã hội Pháp để cho thấy khuynh hướng dân chúng muốn đòi hỏi Che chở

Mậu dịch. Luật sư Arnaud MONTEBOURG là ứng cử viên đã chọn rõ rệt hai chủ trương sau đây để tranh cử:

* Démondialisation (Bỏ Toàn cầu hóa), nghĩa là Pháp trở về với chính mình về Kinh tế để tự phát triển.

* Protectionnisme (Che chở Mậu dịch), nghĩa là đánh thuế cao hay ngăn cản nhập hàng nước ngoài.

Ông đã công khai tranh cử với hai chủ trương ấy mà không ngại sợ phê bình.

Kết quả của bầu phiếu làm người ta bất ngờ. Oâng đã thắng 17% số phiếu mà không ai dự đoán trước. Điều này chứng tỏ rằng dân chúng chấp nhận hai chủ trương này trong hoàn cảnh khủng hoảng nợ nần của Liên Aâu.

Lý do từ thất nghiệp đến căng thẳng xã hội và bạo loạn

Khi Trung quốc xuất cảng không được nữa và mãi lực dân chúng lại yếu, nghĩa là không có thị trường tiêu thụ nội địa, thì sản xuất phải giảm và xí nghiệp đóng của. Thất nghiệp tất nhiên tăng vọt. Những người thất nghiệp lại gặp phải tình trạng Lạm phát tăng vọt hiện nay của Trung quốc.

Thất nghiệp và Lạm phát đưa đến căng thẳng xã hội và dễ bùng nổ thành bạo loạn xã hội, rồi chính trị.

Ngay từ cuộc Khủng hoảng 2008, tình trạng thất nghiệp tại Trung quốc đã trầm trọng. Một số nhà phân tích đã ghi lại tình trạng này. Trong LE MONDE số ra ngày 13.11.2008, trang 15, Ký giả Bruno PHILIP đã viết như sau:

“Les conséquences de la crise se font déjà sentir sur l’emploi. Selon le site www.Sina.com, des miliers d’ouvriers migrants sont en train de quitter le delta de la rivìere des Perles et rentrent dans leurs campagnes, faute de travail. Des responsables de la gare de Canton ont indiqué que 130’000 voyageurs quittent chaque jour la métropole en train.” (Những hậu quả của khủng hoảng đã cảm thấy đối với việc làm. Theo diễn đàn www.Sina.com , từng ngàn thợ di dân đang bỏ châu thổ của con sông Ngọc và trở về thôn quê của họ vì thiếu việc làm. Những người trách nhiệm của nhà ga xe lửa Quảng Đông cho biết rằng mỗi ngày có 130’000 người bỏ nơi thành thị này bằng xe lửa.)

Tác giả Alain FAUJAS, trong LE MONDE ngày 11.11.2008, trang 13, đã nhận định về tình trạng xáo động xã hội liên quan đến Chính trị như sau:“MANIFESTATIONS POPULAIRES—Le taux de croissance inquìete Pékin qui voit se multiplier les manifestations populaires contre l’inflation et les fermetures d’entreprises dans le sud de la Chine. On prête au gouvernement l’intention de maintenir coute que coute la croissance au-dessus de 7%, niveau jugé indispensable pour la stabilité politique du pays. (NHỮNG BIỂU TÌNH DÂN CHÚNG—Độ tăng trưởng kinh tế làm cho Bắc Kinh lo lắng vì nhìn thấy những cuộc biểu tình dân chúng đang được nhân lên chống lại lạm phát và việc đóng cửa những xí nghiệp thuộc miền Nam Trung quốc. Người ta nói rằng Nhà nước phải cố thủ giữ bằng bất cứ giá nào độ tăng trưởng bên trên 7%, mức độ được coi là cần thiết để giữ yên ổn Chính trị cho đất nước).

Trung quốc “Tự nổ “ thành những mảnh

Trở lại cuộc họp giới chức Tòa Bạch ốc ngày 25.02.2011, với ý tưởng: “Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể mất quyền, Quân đội có khi đứng lên gồm thâu thiên hạ về một mối. Nhưng, biết đâu, đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn tồn tại mà thành nhiều mảnh, mỗi mảnh hùng cứ một phương với tài nguyên nhân lực và kinh tế của mình".

Trước hết với khối người 1.5 tỉ, thì không ai mang lực đến để đập vào làm một cuộc nổ tung ra (Explosion). Nhưng với khối người đông như vậy, mà Chính quyền Trung ương lại tập quyền, thì đó là điều rất khó khăn để quản trị lâu dài. Khối người 1.5 tỉ với diện tích đất đai như một châu lục, thì chỉ có những rạn nứt nội bộ để đi đến “Tự nổ „“(Implosion).

Những rạn nứt như trên đã phân tích lại thuộc về phạm vi Kinh tế, Tiền bạc, thì đó là nguồn chính yếu chia khối người và châu lục Trung quốc ra từng mảnh. Mỗi mảnh có thể bao gồm từng mấy trăm triệu người. Các Tỉnh mang nợ công chồng chất mà không hoàn được nợ sẽ trở thành đối kháng đối với các Tỉnh khác và với Trung ương.

Người ta có thể chia châu lục Trung quốc ra những vùng Kinh tế như sau:

* Vùng Kinh tế Miền Bắc dẫn đầu bởi Thượng Hải. Vùng này đi với Bắc Kinh.

* Vùng một số Tỉnh ven biển (Villes cotìeres) đối diện với Đài Loan, chuyên sản xuất và xuất cảng.

Vùng này có nhiều đầu tư của Đài Loan. Tất nhiên dễ đi với chính trị Đài Loan hơn là theo Bắc Kinh.

* Vùng Kinh tế Miền Nam dẫn đầu bởi Quảng Đông, thích câu kết với Hong Kong hơn là đi với Bắc Kinh.

Trước khi Hong Kong trở về với Trung quốc, Hong Kong đã đầu tư nhiều vào vùng này và cũng là cửa ngõ xuất cảng hàng ra nước

ngoài.

* Vùng Nội Mông và Ngoại Mông có những khác biệt và kỳ thị với Hán tộc.

* Vùng cực Tây có dân thuộc ảnh hưởng văn hóa Hồi giáo…, và Tây Tạng vốn kình địch với Hán tộc.

Nếu vì quyền lợi Kinh tế hay vì khác biệt văn hóa, chủng tộc mà Trung quốc “tự nổ“ ra từng mảnh, thì mỗi mảnh trên đây cũng chiếm số dân mấy trăm triệu người.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

17 thg 9, 2011

Một bức thư người Nhật viết cho người Trung Quốc



Một bức thư người Nhật viết cho người Trung Quốc .

Nhứt châm kiến huyết (Kim châm rỉ máu), lời vàng ngọc, chúng ta cần phải thực sự kiểm thảo và phản tỉnh.

Là một người Nhật Bản,tôi có đôi điều muốn cùng các bạn chia sẻ nơi đây về cái nhìn của tôi đối với người Trung Hoa.Tôi trước kia là một du học sinh của trường đại học Trung Quốc Nhân Dân,tôi đã ngu khờ sống ở Hoa Lục đến 5-6 năm,vì vậy tôi tin rằng tôi hoàn toàn có đủ tư cách để nói lên cái nhìn của tôi.

Về địa lý,Nhật Bản và Trung Hoa rất gần nhau, nhưng mà về tính cách thì hai dân tộc lại xa nhau một trời một vực,người Hoa Lục (Trung Cộng) cho tôi cảm nhận cái ấn tượng lúc ban đầu là rất tốt,nhưng về lâu về dài,thì những khuyết điểm đều bộc lộ hết ra ngoài,người Hoa Lục nhát gan,nịnh hót,hèn yếu,hư ngụy,xảo trá,thích làm tài khôn,và cái điều làm cho tôi không thể nào lý giải được là tại sao người Hoa Lục tự đối đãi với chính đồng bào ruột thịt của họ thì rất ư là vô tình,nhưng lại đối đãi với người ngoại quốc thì họ rất khép nép và cung kính.
Lúc tôi mới vừa đến Hoa Lục,bất quá thì tôi chỉ là một tên học trò nghèo khó, ấy thế mà tôi lại được đãi ngộ như là một “siêu quốc dân”,kinh nghiệm của nhiều năm ở đó, cho tôi một ấn tượng rất sâu đậm, người Hoa Lục chẳng khác nào một bao cát rời rạc,người Hoa Lục đoàn kết một lòng là có,nhưng điều đó chỉ xảy ra ở vào những thời điểm đặc biệt,tỷ dụ như dân tộc họ đang đối diện với sự diệt vong,nhưng mà đó lại cũng không phải là một sự đoàn kết triệt để nữa,người Hoa Lục đối diện với Ngoại Đấu và Nội Tranh thì hầu như nghiêng về phần Nội Tranh nhiều hơn,người Hoa Lục hận nhứt là Hán Gian.Tôi không phải là kẻ xâm lăng (đối với vấn đề xâm chiếm Trung Hoa,tôi tôn trọng lịch sử,thừa nhận đó là cái lỗi lầm của Nhật Bản),người Hoa Lục đã nuôi dưỡng các cô nhi của chúng tôi trong thời kỳ chiến tranh,thế mà họ đã nhẫn tâm tàn hại đồng bào của họ ở thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa (thậm chí là giữa thân tình với nhau),những điều này thật tình tôi không làm sao mà hiểu nổi,nếu không phải là người Hoa Lục thì chẳng ai có thể mà hiểu được,các bạn là người Hoa Lục các bạn làm sao lý giải,nếu như nói người Hoa Lục là lương thiện,hư ngụy việc chi,tôi thật chẳng biết đó là chuyện gì,nếu như người Hoa Lục đơn thuần không có việc nồi da xáo thịt,thì đây có thể nói là lương thiện,nhưng khi xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa,thì tình huống đã đổi khác,thật tình mà nói,đối với việc làm của các bạn, tôi thấy chẳng có điểm nào để gọi là cảm ơn,nếu có thì chỉ là nghi vấn và không thể nào lý giải mà thôi.

Còn nữa,tôi cũng không thể nào hiểu nổi tại sao các bạn lại không nhận khoản tiền bồi thường sau chiến tranh của NhậtBản,không có một dân tộc nào giống như dân tộc người Hoa Cộng đối nội thì tàn bạo,nhưng đối ngoại thì lại ẩn nhẩn.Điều này đã làm cho tôi liên tưởng đến sự quan hệ giữa Do Thái và Đức Quốc,Thật lòng mà nói tôi rất thán phục người Do Thái,thái độ không khoan thứ không nhờ vả đối với người Đức của họ,đã tỏ rõ sự trọng thị quyền lợi và giá trị tự kỷ,họ không tha thứ người Đức,nhưng người Đức rất kính trọng họ,ngược lại,tại phương Đông,hiện thực người Nhật Bản rất khinh thị người Trung Hoa,các bạn vứt bỏ bồi khoản,các bạn tha thứ chúng tôi,chúng tôi vẫn hận các bạn,khinh thị các bạn,bỉ thị các bạn,nguyên nhân không phải tại chúng tôi,mà là do bởi tự chính các bạn,các bạn tự khinh tự tiện (đê tiện),người ngoài cũng không làm sao có cách để giúp các bạn,người Hoa Lục không có huyết tính,ý khí đã bị mài cùn lụt hết rồi,cái còn lại chỉ là hơi tàn,tự ti,và ngôn ngữ của các bạn hiện là sùng bái Tây Dương với cung cách nịnh hót để làm cho Ngoại Nhân vui thích.

Các bạn tự cho là Văn Minh Cổ Quốc,nhưng ngoại trừ những kiến trúc giết người rùng rợn,những văn vật trong các viện bảo tàng,sinh hoạt của người Hoa Lục trong hiện thực,có còn lưu lại cái bóng dáng văn minh truyền thống hay không? không sai,Nhật Bản đã từng chịu sự ảnh hưởng văn minh của Trung Hoa trong thời gian dài lâu,nhưng mà hiện tại sự bảo tồn văn hóa và duy trì được như xưa của người Hoa Lục lại chỉ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Gia Ba, chứ không ở Hoa Lục.Các bạn đem thành tín,tiết nghĩa, lễ nghi, tứ thư ngũ kinh coi như bốn thứ đồ phế thải mà quét vào bãi rác,tiếng nói là kiến lập một xã hội mới, có ngờ đâu lại như thế này,các bạn dĩ nhiên là thấy rõ ràng hơn chúng tôi,một đằng thì tham ô hủ bại (lời quỷ dối người của các bạn:”hủ bại là vấn đề mà các nước trên toàn thế giới đều phải đối diện”),tham bạc mê vàng,ca kỹ dâm ô,chơi chó đua ngựa,còn đằng khác thì nghèo đến nổi cơm ăn chẳng đủ no.Làm đồ giả,Hoa Cộng không ai địch nổi,thổi phồng nói dóc,thấy lợi quên nghĩa,các bạn không có tín ngưỡng, tin chũ nghĩa Marxisme.Nếu mà Marx có biết được cái chủ nghĩa của ông ta mà là một cái xã hội như vậy, chắc là ông ta cũng phải tức chết đi thôi,tinh thần rổng tuếch, chẳng ai tin ai,thật không thể nào mà trách một cái thau cát rời rạc,người Hoa Lục hiện tại,với mức độ vô tri, ngu muội như thế nếu thụt lùi trở về ở thời của năm 1895 thì cũng chẳng tốt hơn được là bao nhiêu.

Trung Cộng là một đại quốc,nhưng mà về chính trị thì tuyệt đối là một kẻ yếu,các bạn từng trào tiếu Nhật Bản chúng tôi là chính trị ải tử (thằng lùn),nhưng mà chúng ta thử so sánh chế độ xã hội,coi xem cái xã hội nào trên thế giới ăn ngủ được ngon, xã hội chủ nghĩa chỉ còn có vài ba nước mà thôi,lại không đoàn kết,chuyên chế,độc tài,thế giới chẳng hoan nghinh, nhưng vì Trung Cộng bạn quá to lớn,cho nên được thấy là trọng yếu,nhưng các bạn vẫn luôn là đối tượng ở thế công chính trị đối với tây phương, chưa bao giờ tự chủ động xuất kích (để cải thiện),lý do là vì các bạn không làm,nhân quyền bị thế giới lên án bao nhiêu năm? Ai đem nhân quyền là quyền sống tối đại của con người đi giáng cách (chà đạp nhân quyền)? Cách Mạng Văn Hóa,Bước Đại Nhảy Vọt, bao nhiêu cái sai lầm của chính phủ của các bạn, các ca xướng gia của các bạn vẫn hát:người dẫn đường cải cách khai phóng,dắt chúng tôi đi về hướng thời đại mới.Giờ thì không còn người dân Hoa Lục nào ngoan ngoản, nghe theo,ở vào thời đại văn minh như ngày nay,thì cái tình huống như thế thật là hiếm có rồi.

Các bạn người Hoa Lục đang tự hủy hoại chính mình,trí tuệ của chính mình,tài nguyên của chính mình.Kinh tế Hoa Lục các bạn phát triển nhanh,cái giá phải trả có xứng đáng không? Tài nguyên khô kiệt,môi trường sinh thái bị ác hóa.Nguồn tài nguyên năng lượng tuyệt vời của tỉnh Sơn Tây của các bạn,đã bị chính các bạn hoang phí hủy hoại đến thế nào,kinh tế lạc hậu,dân sinh suy thoái,tham quan hoành hành.Các bạn có biết chăng,thời Trung Hoa Dân Quốc thống trị Hoa Lục,Sơn Tây hãy còn là một tỉnh mô phạm,các bạn cũng chẳng biết địa vị của Sơn Tây trong lịch sử Trung Hoa,kinh tế của tỉnh Sơn Tây thịnh vượng ở thời Thanh triều,một nửa số quan tể tướng ở thời nhà Đường đều xuất thân từ tỉnh Sơn Tây,địa vị của Sơn Tây cao hơn xa so với thành phố Thượng Hải mà các bạn đã từng tự hào huênh hoang khen tặng,bây giờ các bạn hãy thử nhìn Sơn Tây,là sẽ biết ngay cái gì là cái khoảng cách giữa lịch sử và hiện thực rồi(GDP bình quân đầu người Hoa Lục là số 1 từ dưới chót đếm lên).Các bạn hoang phí và hủy hoại tài nguyên như thế,giả sử như Sơn Tây được mang cho Nhật Bản,chúng tôi sẽ rất trân trọng như là tổ tiên mà cung phụng để phát triển Sơn Tây,và Sơn Tây sẽ giàu mạnh hơn nhiều so với Bắc Kinh, Thượng Hải cường thịnh mà các bạn đã từng trọng thị.Các bạn kinh tế phát triển nhanh,rồi mừng rỡ mà dùng cái quái gìlà Thượng Hải,là Bắc Kinh làm cửa sổ để ngắm nhìn, ngu xuẩn quá! hai thành phố đó chiếm diện tích Hoa Lục là bao nhiêu,dân số bao nhiêu? Các bạn trường kỳ khinh thị nông dân,9 trăm triệu nông dân mà không chiếu cố tốt cho họ,Hoa Lục các bạn sẽ phải đối diện với đại loạn rồi đó.

Lúc ở Bắc Kinh tôi đã có nói chuyện với một bà lão người đến từ tỉnh Sơn Đông,bà là người đã dắt hai đứa con gái của bà đến Bắc Kinh để cùng bán dâm, bà nói, nhờ ở thân xác mình mà có cơm ăn, không xấu hổ đâu,có xấu hổ chăng là cái xã hội này kìa,vì hơn 40 năm trước,chính quyền sở tại đã khua chiêng gióng trống mang mấy nghìn dân bản xứ (Sơn Đông) di dân đến Tân Cương,đưa đến vùng hoang vu sơn dã,để họ tự sinh tự diệt,số người bị chết nơi đó không biết là bao nhiêu,nhưng họ vẫn không cho trở về Sơn Đông,lén trốn về Sơn Đông cũng chẳng ích gì,Chính quyền nói, họ chẳng phải là người Sơn Đông,không có hộ khẩu,mấy mươi năm lưu lạc,tìm ai để đòi công lý? Những niềm vui công trạng lớn của các bạn,mấy chục tỷ công trình nói làm là làm,chúng tôi những người bị các bạn coi là nghững người Nhật Bản “khó tính”,Hoa Lục giàu,nhưng mà số người thất nghiệp lại gia tăng,thêm một người thất nghiệp là xã hội sẽ có thêm một nhân tố bất ổn định cho xã hội.Các bạn không giải quyết,thu nhập của nông dân thấp,các bạn không quan tâm,khoảng cách giàu nghèo càng xa,các bạn lại làm như là chẳng thấy gì,cái mà các bạn thích là người ngoại quốc tán dương,cái điểm này nhiều người đã thấy rất rõ,các bạn hư vinh, xa xỉ,xã hội của các bạn hổn loạn,các bạn lại muối mặt không biết xấu hổ mà dám nói là thời của người Nhật đã hết rồi, Hoa Lục Cộng Sản đã vượt xa Hoa Kỳ rồi,ha ha, cái nhìn thiển cận!

Các bạn bất quá chỉ mới “cởi mở” hai mươi mấy năm, mà đã láo khoét như vậy,kinh tế Nhật Bản đang đình trệ,các bạn liều mạng “phát triển” mười năm vẫn không đạt được 1/4 tổng sản lượng kinh tế của Nhật Bản,vậy mà dám nói vượt xa Hoa Kỳ,chuyện thần thoại chăng? Còn nữa,tình hình thế giới không tốt cho các bạn, nhưng mà Nhật bản, nhờ vào chế độ ưu việt, người dân thật lòng,cùng với sự chân thành giúp đỡ của Tây Phương,là lý do đủ để tái phục hồi.Còn Hoa Lục bởi hình thái ý thức,chế độ, với Hoa Kỳ hoặc với các nước tự do khác không thể dung nhập cùng nhau, Hoa Lục ổn định cái gì,một khi mà xã hội hổn loạn,kinh tế băng hoại,các nước xung quanh không có ai ủng hộ,cũng bởi vì nước của các bạn trước sau vẫn luôn cho người ta cái nhìn phản cảm.Bởi vậy Nhật Bản tuy thua trận,vẫn có cơ hội vươn lên,Hoa Lục thua,chắc chắn sẽ hoàn toàn chia năm sẽ bảy,Các quốc gia xung quanh đều mong muốn Hoa Lục như vậy,nước Nga chẳng muốn các bạn được yên,Ấn Độ hận các bạn,Đông Nam Á hận các bạn,bởi vậy hoàn cảnh của các bạn rất là tệ hại và bấp bênh,ấy thế mà các bạn vẫn chẳng hề thấy được cái nguy cơ đó,vẫn cảm giác lương hảo,như vậy rõ ràng là quá ngu muội.

Trong những sắc dân Đông Phương,chúng tôi tôn kính người Hàn Quốc,bởi vì họ và chúng tôi rất giống nhau,có máu có thịt, dám nói dám làm,lịch sử của chúng tôi và của các bạn đã từng có vấn đề va chạm nhau,người Hàn Quốc từ ông tổng thống đến quốc dân đều có thể kháng nghị,Trung Cộng thì chỉ có vài ba người phát ngôn của bộ ngoại giao với sự hiểu biết thiển cận không biết khinh trọng chỉ biết ở đó ý ý á á.Ha ha,đấy là cái sự khác biệt đó,Người Hàn Quốc hận chúng tôi,nhưng chúng tôi kính trọng người đối thủ này,bạn hận hay không hận chúng tôi,chúng tôi cảm nhận không có chuyện gì để nói,bởi vì tính cách của các bạn,phẩm hạnh của các bạn cho thế giới thấy rõ,người Hoa Lục không có tính thẳng thắn,cương trực.Hiện tôi đang suy nghĩ,Không quên việc trước(lịch sử)sẽ là thầy của việc sau (tiền sự bất vong hậu sự chi sư),như vậy,cuối cùng, giữa Nhật và Hoa Cộng ai là người đã bỏ quên lịch sử?

Chúng tôi tham bái thần xã,sửa lại sách giáo khoa lịch sử,nói rõ là chúng tôi không có quên cái giai đoạn lịch sử đó,còn các bạn? Những người bị hại trong thế chiến thứ hai? Các bạn chỉ vì lo tranh chấp trong đảng phái,mà không nghĩ đến đại nghĩa của dân tộc.Nói gì đến cái chuyện trong 8 năm kháng chiến,dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Trung Hoa,sách sử của các bạn viết về giai đoạn lịch sử đó so với chúng tôi sao nó quá mơ hồ không rõ ràng,là bởi vì các bạn tự bóp méo lịch sử,ha ha!(một lần nữa cho thấy rõ là nội tranh nặng hơn ngoại kháng)các bạn chửi chúng tôi là không nhìn thẳng vào vấn đề xâm lược Trung Hoa,làm thương tổn đến cảm tình người dân Hoa Lục,thế còn các bạn thì sao? Qua nhiều lần vận động “cải tổ” chính trị,các bạn đã có nhìn thẳng vào sự bức hại của mình đối với người dân hay chưa? Có nhìn thẳng vào sự hủy hoại của cách mạng văn hóa hay chưa? Các bạn cần phải trực thị với rất nhiều điều sai lầm đó,Đó là do ai(?)đã làm tổn hại cảm tình của người dân Trung Hoa vậy hở? Làm phim Tàn Sát Thành Nam Kinh,trong số các bạn lại có những người vô lương đã thốt lên là tại làm sao không có nhiều màn hiếp dâm trên ống kín.

Các bạn người Hoa lục là cái kiểu như vậy,làm sao kêu người ta chấp nhận được hỉ,các bạn có thể không có khả năng,nhưng các bạn lại còn không cần đến nhân cách,người Mỹ đánh chúng tôi đến gần chết,chúng tôi không hận họ,chúng tôi bội phục họ,Hàn Quốc bị chúng tôi thống trị qua,bây giờ họ đã thành công lập được kỳ tích kinh tế,họ dám tranh đấu và dám làm,chúng tôikính phục họ,còn các bạn người Hoa Lục cộng sản thì chẳng có được một cái điểm nào để cho chúng tôi coi trọng cả,hãy cố gắng phản tỉnh đi,các bạn đất rộng và giàu tài nguyên,lịch sử lâu đời,thế mà phải thua dưới tay chúng tôi,các bạn không cảm thấy xấu hổ hay sao?

Một cái thau cát rời rạc sinh ra đầy chật ních đám người toàn chia rẻ,thời đại của các bạn giờ còn có thể sinh ra được những chí sĩ gì nữa hay không? Trung Hoa Dân Quốc còn có Lỗ Tấn,Thái Ngạc,Chu Tự Thanh là những người mà chúng tôi bội phục.Bây giờ các bạn ngoài những tay tham quan,hư hoa học giả,những phần tử tư tưởng khiếp hèn,thì còn có cái gì nữa đâu? Các bạn chẳng đã từng nói muốn vun bồi tài năng người bản địa để họ đượclàm chủ nhân của những giải thưởng hòa bình Nobel hay sao? Tại vì sao đến bây giờ vẫn chẳng có được vậy? Vụ máy siêu điện toán dùng chip Loongson của các bạn,tần số chủ mới chỉ có 266Hz (Hertz), thế mà dám lớn lối thổi phồng đòi thương nghiệp hóa,ha ha! người Hoa Lục,chúng tôi kính phục các bạn cái gì chứ?? người cùng cội rể đồng tông Tân Gia Ba ở thời kỳ SARS cũng đã phải chế tài các bạn một lúc,sự kiện La Cương,đã làm cho người ta không làm sao hiểu nổi,hởi những người Trung Hoa chia rẻ,người Do Thái tề tâm như thế ấy, các bạn lại phân hóa như thế này,các bạn một tỷ mấy người,một tỷ mấy cái tư tưởng rời rạc,chúng tôi một trăm triệu người Nhật Bản đều cùng nhau suy nghĩ làm sao để đưa quốc gia chúng tôi thoát ra khỏi cảnh khó khăn,tất cả chúng ta đều cùng sống trên quả địa cầu này,rõ thật thú vị lạ lùng!

*Sự kiện La Cương: Đài phát thanh tỉnh Hồ Nam,ngày 25/02/2003 lúc 0giờ 16phút do ông La Cương phụ trách chương trình trực thoại truyền thanh,có phát đi lời nhục mạ người Hoa Lục của một thính giả người Nhật tên là Tiểu Nguyên Kính Thái Lang trong 3 phút.Kết quả là ông La Cương và một số đồng sự bị cho nghỉ việc cũng như bị phạt vạ tiền.

12 THÁNG ANH ĐI