Hiển thị các bài đăng có nhãn Thang 04-1975. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thang 04-1975. Hiển thị tất cả bài đăng

21 thg 4, 2017

NGƯỜI DI TẢN BUỒN

Đời tôi sao khổ thế này
Bé thời xa bố già thời mất con
Chúa ơi Chúa ở trên cao
Xin mau hóa giải nỗi oan tình này

Tôi là người bắc di cư năm 1954. Tuy nhiên tôi không có ý niệm gì về cuộc di cư vĩ đại này vì lúc ấy tôi còn bé lắm, chỉ mới một tuổi thôi. Tôi chỉ biết bởi vì cuộc di cư này mà chúng tôi đã trở thành mẹ hóa con côi nơi xứ lạ quê người… Lớn lên một tí, tôi hỏi mẹ bố tôi đâu, mẹ tôi chỉ ôm tôi mà khóc. Tôi hỏi anh, anh tôi lại mắng : "Đừng hỏi nữa, mẹ buồn". Do đó, tôi phải tự dọ dẫm, nghe ngóng lấy một mình. Cuối cùng tôi cũng biết được mọi việc tuy rằng rất mơ hồ và không chính xác cho lắm.

Gia đình chúng tôi bốn người, ở ngoại ô Hà Nội. Lẽ ra tôi cũng có được một gia đình hạnh phúc đầm ấm, vì bố tôi là thầy giáo, mẹ tôi là y tá, việc sinh nhai chắc hẳn không khó khăn lắm. Thế nhưng đột nhiên, bố mẹ tôi lại âm thầm khăn gói và lặng lẻ bồng bế anh em tôi ra đi trong đêm tối. Khi chúng tôi đến biễn, nơi có con tàu há mồm đang đậu ngoài khơi, thì đã có đầy người trên bãi chờ đợi canô đến đón. Người ta phải lội xuống nước,chen chúc giành giựt nhau leo lên canô, thật là hỗn loạn. Đến phiến chúng tôi thì trời đã xế chiều, tôi không hiểu lúc đó ở bãi biển hỗn độn thế nào, sau khi đưa được mẹ con tôi và ít đồ đạc lên canô, bố tôi lại bị gạt ra. Do mệt mỏi, lại bị nhiều người níu kéo dành giựt leo lên canô , bố tôi đuối sức, không vịn được thành canô, bị lôi xuống nước và không vươn lên được. Thế rồi, chiếc canô rời bãi giữa tiếng than khóc của mẹ con tôi. Chiếc canô lướt sóng hướng về con tàu há mồm, nơi đó có những người lính ngoại quốc tiếp đón. Họ hướng dẫn lên bong tàu, cấp phát những thùng đồ ăn rồi dồn chúng tôi về một phía nơi đã có căng sẵn tăng lều che nắng mưa.
Rạng sáng thì tàu khép miệng lại, nhổ neo chạy thẳng ra khơi mịt mù, chẵng cần biết nơi bãi biễn vẫn còn đám đông người trong đó có bố tôi đang lố nhố kêu la. Được hai ngày thì tàu cập vào một hải cảng vào lúc rạng đông, nơi đó có sẵn đoàn xe cam nhông đợi chờ. Chúng tôi lại được dồn lên xe bít bùng mà chẳng biết sẽ chạy về đâu. Đến xế trưa thì chúng tôi lại được đổ dồn xuống sân của một trường tiểu học. Sau khi được hướng dẫn lập thủ tục kê khai lý lịch từng chi tiết và khám sức khỏe, chúng tôi được phân loại theo hộ tịch và đưa lên xe đến một khu gần bãi biển đã dựng sẵn những dãy nhà tiền chế dành làm nơi tạm cư cho người di cư. Mẹ tôi , sau mấy ngày khóc lóc, ngược suôi dò tìm tin tức của bố tôi trong tuyệt vọng. Mẹ đã lau khô nước mắt, để anh tôi ở nhà bồng bế tôi, mẹ ra tình nguyện làm việc cho Hội Hồng Thập Tự, hi vọng sẽ dể dàng nghe ngóng tin tức của bố tôi. Mẹ là y tá có mang theo giấy tờ chứng minh nên cũng được chính quyền địa phương nâng đỡ, cho làm việc tại bệnh xá địa phương. Khi anh tôi thi đậu vào trường trung học Võ Tánh, mẹ cũng xin chuyễn được về thành phố, làm việc tại bệnh viện Nha Trang. Sau đó quyết định dọn nhà về khu Phước hải để anh tôi tiện bề học hành. Khu Phước hải không phải là khu định cư, nhưng người bắc di cư chúng tôi muốn tập trung lại sống gần nhau để dể bề giúp đỡ. Chính quyền trong chương trình nới rộng thị xã, đã dễ dàng cấp đất cho chúng tôi xây cất nhà cửa.Trước kia, đây là bãi tha ma rộng lớn ở ngoại ô thị xã Nha Trang. Chúng tôi phải di dời mồ mả và tự xây cất lấy. Mới đầu chỉ là những căn nhà tôn, dần dần nhờ cần kiệm, chúng tôi đã sửa nhà tôn thành nhà ngói, có người còn lên nhà lầu. Chẳng bao lâu, khu Phước hải đã trở thành khu phố sầm uất của người bắc di cư. Mẹ tôi sáng đạp xe đi làm, chiều về đi chích thuốc dạo. Anh tôi mỗi ngày đi học cùng bạn hàng xóm. Tôi thì được gởi cho người kế bên nhà, chờ anh hoặc mẹ đi làm về. Thời gian cứ thế trôi qua, mẹ vất vả kiếm tiền nuôi con, anh miệt mài sách vở. Tôi cũng chập chững biết đi, rồi bập bẹ tập nói bên người hàng xóm. Anh tôi sau nhiều năm cố gắng đã đậu tú tài, vào Saigon thi đậu luôn vào trường Sư phạm. Mẹ tôi mừng rở vì anh đã nối được nghiệp của bố tôi . Mẹ lại lo làm việc nhiều hơn để chu cấp cho anh tôi học đại học.Tôi cũng qua được mẫu giáo và đang học tiểu học gần nhà. Trường Giuse Nghĩa Thục do các sư huynh Lasan lập nên để dạy dỗ trẻ em nghèo quanh khu Chợ Xóm Mới. Trường gồm frère hiệu trưởng và frère giám học đã lớn tuổi, hai frère trẻ và vài cô giáo. Frère giám học hình như đã chú ý đến tôi đặc biệt, có lẽ tại tôi côi cút, trầm lặng ít nói, cần được săn sóc hơn các trẻ em khác. Từ từ tôi cũng cảm thấy thoái mái và dạn dĩ hơn. Tôi ở lại trong trường đến chiều quanh quẩn bên frère cho tới khi trường đóng cửa . Sau bậc tiểu học , tôi thi đậu vào trường trung học Võ Tánh. Tuy nhiên tôi vẫn ghé trường Giuse thăm frère giám học thường xuyên. Tôi còn sinh hoạt trong đoàn Thanh sinh công , một một đoàn thể tổ chức như đoàn Hướng đạo, giúp học sinh công giáo của các trường trung học địa phương có dịp sinh hoạt với nhau trong các công tác xã hội. Vì là còn phôi thai nên đoàn có được sự hổ trợ và hướng dẫn của các sư huynh Lasan. Nhờ vậy, tôi đã có dịp sinh hoạt chung với đoàn Việt sinh của trường trung học Bá ninh.Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy mỗi năm có một vài huynh trưởng Việt sinh vắng mặt, hỏi ra mới biết các anh đã được gọi lên Đồi Lasan tu tập. Tôi cũng mơ ước được như họ, nhưng chỉ là ước mơ trong thầm kín mà thôi vì hình như chuyện đó quá xa vời đối với tôi. Anh tôi cuối cùng đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm. Sau khi thụ huấn khóa căn bản quân sự, anh được thuyên chuyển về Nha trang dạy trường trung học Võ Tánh. Anh cản không cho mẹ đi chích thuốc dạo nữa : “Mẹ đã lớn tuổi rồi cần ở nhà tịnh dưỡng nghỉ ngơi.” Mẹ chiều ý anh nhưng mỗi chiều lại mặc áo dài chỉnh tề ra Nhà Thờ cầu nguyện. Mẹ còn gia nhập hội Các Bà mẹ Công giáo để quen biết nhiều người, tiện bề kiếm vợ cho anh. Khi anh tôi lập gia đình, anh muốn mời mẹ và tôi về ở chung. Bấy giờ tôi mới thổ lộ tâm can, tôi xin phép mẹ và anh cho tôi được lên Đồi Lasan tu tập theo bước chân của Thánh Gioan Lasan. Anh tôi phản đối ngay : " Mình chỉ còn ba mẹ con, phải nương nhau mà sống, em mà đi mẹ sẽ buồn lắm..". Mẹ tôi thì im lặng, lúc sau mẹ chậm rải nói " Nếu là thánh ý của Chúa, con hãy làm theo ước nguyện của mình. Con đừng lo cho mẹ, mẹ đã có anh con săn sóc rồi ". Quả thật tôi không hiểu mẹ đã nghĩ gì mà bằng lòng cho tôi đi tu dễ dàng như vậy, có lẽ mẹ muốn dùng tôi làm lể vật hi sinh để cầu khẫn Thiên Chúa thương ban bình an cho bố tôi mà giờ đây chẵng biết sống chết thế nào bên kia bờ vĩ tuyến.
Năm đầu tiên tu tập trên Đồi Lasan, tôi đã gặp nhiều khó khăn và vất vả vì phải chuyễn đổi từ chương trinh Việt sang chương trình Pháp, lại phải học thêm tiếng Latin, nhưng tôi từ từ rồi quen vì nơi đây chỉ có kinh nguyện và học tập. Sau cùng, tôi cũng đã đậu được bằng tú tài Pháp và đã được khấn để mặc áo dòng. Thật là cảm động trong bộ áo choàng thâm nhìn xuống, bắt gặp đôi mằt nhân từ của frère giám học, người đã nâng đở tôi nay đã già nhưng hình bóng thánh Gioan Lasan vẫn quanh quẫn bên frère.


Sau khi khấn để trở thành một sư huynh, tôi được đưa lên Đà Lạt, ở trường Adran để học thêm thần học và căn bản sư phạm. Tôi còn ghi danh Văn Khoa để tiếp tục chương trình đại học. Năm sau tôi trở lại Đồi Lasan và được phân phối xuống thực tập dạy học tại trường trung tiểu học Lasan Vĩnh Phước dưới chân đồi. Trường gần nhà Dòng, rất tiện cho việc huấn luyện nên các frère trẻ đến thực tập. Riêng cấp tiểu học thì nhà trường phải mướn thêm các cô giáo. Vì nhu cầu nhân sự, nhà trường chỉ có thể tuyển các cô giáo mà thôi, vì các thanh niên sau khi đậu tú tài, nếu không muốn nhập ngủ sớm, phải vào Saigon hoặc lên Đà Lạt ghi danh vào đại học mới có thể kéo dài thêm tuổi học trò. Các cô giáo cũng đã có bằng tú tài và mỗi mùa hè cũng được đưa vào Saigon dự các khóa bổ túc sư phạm do các soeur Vinh Sơn giảng dạy. Tôi ở tuổi mới lớn, đã sống trong bốn bức tường, bên lời giáo huấn nghiêm khắc của Bề Trên và tâm hồn tràn ngập lý tưởng Lasan, nhưng khi nhìn thấy nét xinh tươi và giọng nói trong trẻo của các cô giáo, tim tôi cũng bồi hồi, cảm giác là lạ khó tả. Tuy vậy, trước mặt các cô giáo tôi vẫn cố tỏ ra nghiêm nghị. Tôi không biết các huynh trưởng của tôi có cùng cảm giác như tôi hay không bởi vì chẳng có ai muốn thổ lộ tâm tư của mình ngoài trừ khi giải bày cùng cha linh hướng trong những lúc xưng tội. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có gì đáng tiếc xảy, có lẽ vì chúng tôi biết kềm chế, vả lại thời gian thực tập không lâu, chúng tôi lại phải trở lại trường đại học lấy bằng cử nhân, rồi lo đi du học hoặc giảng dạy trên trung học. Một chân trời mở rộng, tình cảm tâm lý cũng biến đổi nên dể dàng quyên đi các cô giáo tỉnh nhỏ
Bây giờ là đầu năm năm 1975, tôi đang dạy thực tập tại trường trung tiểu học Lasan Vĩnh Phước. Tình hình chiến sự không được khả quan. Quảng Trị với đại lộ kinh hoàng. Rồi Huế, Đà Nẵng, quân dân bỏ chạy, tranh nhau leo lên tàu ra biển. Kế đến, Pleiku, Ban Mê Thuộc, quân đội được lệnh rút cấp thời, dân chúng cũng gồng gánh chạy theo, đường đèo trở nên suối màu mỗi khi bị việt cộng pháo kích tấn công. Nhà Dòng buộc lòng phải có kế hoạch di tản các tập sinh, đã lo thuê sẵn tàu phòng khi hửu sự. Tôi xin phép Nhà Dòng cho mẹ và anh chi tôi được tháp tùng. Nhờ vậy , gia đình tôi đã đến được Saigon bình an trước ngày Nha Trang bị bỏ ngỏ. Nhà Dòng thu xếp cho các em tập sinh được tạm trú tại trường trung học Lasan Đức Minh để thân nhân dể tìm đón các em về với gia đình. Các frère trẻ lúc nay cũng bị giao động mãnh liệt vì tin tức xấu về vận mệnh đất nước mỗi ngày một nhiều. Việt cộng sẽ tấn công thủ đô là điều không thể tránh khỏi. Một frère có người trong gia đình muốn tổ chức vượt biên, hỏi tôi có muốn tham gia không. Tôi về hỏi ý kiến mẹ và anh. Mẹ bảo các con còn trẻ hãy tự quyết định lấy tương lai mình, đừng lo cho mẹ, mẹ già rồi, chẳng muốn đi đâu cả, mẹ phải ở lại tìm bố của các con, ly biệt bố suốt 20 năm là cả một sai lầm lớn trong đời mẹ. Mẹ không đi, anh tôi quyết định ở lại săn sóc mẹ. Do đó, tôi cũng tình nguyện ở lại trông nom các tập sinh chờ thân nhân đến đón để các frère khác rộng thì giờ thu xếp công việc riêng của họ. Thế rồi, ngày phải đến đã đến. Ngày 30 tháng tư,Tổng Thống Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Mở cửa dinh Độc Lập chờ đợi quân đội Bắc Việt vào tiếp thu. Thủ đô tránh được thảm cảnh đẩm máu, chỉ có dân quân hớt hãi chạy toán loạn tìm đường thoát thân.

Chính quyền cộng sản và bộ đội từ từ tiếp thu mọi nơi, công sở và trường học đều bị chiếm đóng. Cơ sở nhà Dòng Lasan bị tịch thu, chỉ còn dãy nhà ở Mai Thôn làm nơi tạm cư cho các frère già. Các frère trẻ được phép trở về với gia đình, tùy nghi sinh sống theo hoàn cảnh từng người. Tôi về ở với mẹ và anh chị Hai. Mẹ tôi không biết nghe tin từ đâu mà mặt mày lúc nào cũng rạng rỡ, cười nói, không còn hiu hắt thảm não như trước kia. Công an địa phương hạch hỏi, gây khó khăn đủ điều mà mẹ cũng chẳng bực bội phàn nàn. Mẹ bảo Bố vẫn còn khỏe mạnh, sẽ vào Saigon gặp lại các con sớm thôi… Quả thật bố tôi đã vào Saigon. Ông đã tìm đến thăm mẹ con chúng tôi. Nhưng ông đến như người đồng hương tìm thăm hàng xóm chứ không phải để tìm gặp vợ con sau mấy mươi năm xa cách. Ông khoa trương chế độ trước những khuôn mặt thất thần, đang lo lắng không biết sẽ bị chính quyền mới đối xử ra sao. Tôi khó chịu nhìn ông, hững hờ đối đáp những câu vô nghĩa. Ông không phải là bố tôi, không thể chấp nhận được. Bởi vì người bố trong tâm tưởng tôi từ tấm bé rất hòa nhã và đáng kính. Ông bảo ông đã lấy vợ và có hai con, một trai một gái, cũng đang thu xếp để vào Saigon sớm. Mẹ tôi nhìn ông, nghe ông nói mà chỉ biết khóc. Giờ đây có hỏi han, có kể lể những chuyện đau thương đã qua cũng bằng thừa. Ông kể lại, sau khi bị hất ra khỏi canô, ông ngã xuống nước, mệt lả người và hình như đã ngất đi lúc nào không biết. Người ta kéo ông lên bờ, khi ông tỉnh lại thì con tàu há mồm đã mất hút. Ông vừa buồn bã vừa lo sợ, tìm đường về nhà. Cũng may chưa ai phát giác, có ai hỏi thì ông cứ ậm ờ nói đã cho mấy mẹ con về bên ngoại nghỉ hè. Sau đó ông xin chuyển về dạy ở Hà Nội và quen một cô giáo nơi trường mới. Cô thương ông và muốn lập gia đình với ông. Có lẽ cô cũng biết ông đã có vợ con nhưng không hỏi. Bố cô là cán bộ cao cấp nên mọi việc cũng dễ dàng , ông còn được chuyển về phục vụ tại bộ Giáo Dục nên đời sống gia đình cũng ổn định. Tiếp xúc với ông lâu ngày, tôi thấy ông cũng cởi mở, không đến nỗi tệ. Tình cha con hình như có sợi dây vô hình nào đó thắt chặt, tôi bắt đầu gọi ông bằng bố. Ông cũng tỏ vẻ xin lỗi đã quá khách sáo lúc đầu gặp mặt. Ông bảo xã hội cộng sản miền bắc là thế đó. Mọi người lúc nào cũng dòm ngó nghi kỵ lẫn nhau, moi móc sơ hở của người khác để mà tiến thân. Vợ con ông rồi cũng đến Saigon. Bà cũng đến thăm mẹ con tôi, cũng chị chị em em với mẹ tôi. Bà không cản bố tôi đến thăm mẹ con tôi, nhưng không cho phép bố chính thức nhận lại mẹ con tôi, sợ ảnh hưởng tới quyền lợi của mẹ con bà cũng như ảnh hưởng tới chức quyền của bố tôi.
Anh tôi là giáo chức, theo lệnh của chính quyền mới, ra trình diện học tập đường lối chính trị của Đảng và Nhà Nước mười ngày rồi trở về nhà chờ lệnh, nhờ bố tôi bảo lãnh, anh được ở lại Saigon và đi dạy lại. Tôi thì khỏi đi trình diện đâu cả, nhưng vì có một số em tập sinh chưa có thân nhân đến đón mà trường Đức Minh lại bị trưng dụng. Cha mẹ các em vẫn còn kẹt lại ở miền trung. Do đó tôi đã tình nguyện và được cấp giấy phép mang các em về lại Nha Trang để thân nhân dễ dàng đón về nhà. May mắn thay, các em đã trở về nhà an toàn. Mẹ tôi cũng trở về Nha Trang, nhưng mẹ không trình diện nhiệm sở cũ. Mẹ mở môt tiệm tạp hóa để tôi có phương tiện sinh sống và mẹ đi đi về về thăm bố và anh Hai tôi . Tôi nhờ có cửa hàng của mẹ, nên có nhiều mối giao hàng cho các tỉnh miền trung. Công việc vất vả và bận rộn. Tình cờ tôi gặp lại cô giáo Thanh, trông cô thật xơ xác, tôi nhìn mãi mới nhận ra. Cô cũng không nhìn ra tôi, bởi vì khi cởi áo dòng, tôi trông cũng khác lạ. Nhận ra thì mừng rở, nhìn nhau mà khóc, nói chẵng nên lời. Cô giáo Thanh không phải là người khiến tim tôi rung động phút ban đầu. Lúc ấy, cô tự nhiên, không e ấp như các cô giáo khác. Cô đã có bồ, bạn trai cô là sĩ quan, thường lái xe jeep đến đón cô mỗi chiều cuối tuần, anh ta cũng là bạn của anh cô, họ đang hứa hẹn làm đám cưới vào mùa hè này.
Giờ đây thì cô không còn gì cả, bố cô là cấp tá nên bị đưa ra bắc lưu đầy. Anh cô bị đi học tập ở trại A 30 Tuy Hòa. Bạn trai cô đã tử trận khi cố gắng bảo vệ vòng đai cuối cùng của bộ tư lệnh tiền phương Phan Rang. Nhà cửa cô bị tịch thâu, họ muốn đẫy mẹ con cô vào vùng kinh tế mới, nhưng mẹ cô không chịu, cứ sống lây lất, buôn bán lặt vặt, kiếm tiền đi thăm nuôi anh cô. Tôi hứa sẽ giúp đở cô qua khỏi lúc khó khăn này. Giao hàng để cô đi chạy hàng, giúp vốn mỗi khi cô kiếm được mối làm ăn nhỏ. Tiếp xúc nhau lâu ngày, chúng tôi yêu nhau và quyết định lập gia đình với nhau. Mẹ tôi rất hài lòng cô dâu mới, biết hiếu kính mẹ chồng và chịu khó làm ăn. Mẹ không phàn nàn khi cô gom góp, gói gém về giúp mẹ và nuôi anh đang ở trại cải tạo. Thỉnh thoảng mẹ còn bảo tôi cùng với vợ và mẹ vợ đi thăm cho có tình nghĩa. Thấy mẹ rộng lượng với vợ, tôi cũng yên tâm và thầm cảm ơn mẹ . Anh và bố vợ tôi sau nhiều năm cải tạo cũng được trở về với gia đình, sau đó đi Mỹ theo diện HO. Vợ tôi bớt được gánh nặng, có thì giờ săn sóc chồng con. Chúng tôi sinh được hai cháu gái khi con gái lớn học xong trung học, chúng tôi quyết định dọn về Saigon để con cái học đại học dể dàng hơn. Mẹ tôi cũng đồng ý như vây,mẹ đã lớn tuổi rồi, muốn gần gụi bố và anh hai tôi thường xuyên hơn trong chuỗi ngày còn lại. Con gái lớn của tôi ,sau khi tốt nghiệp ngành kế toán đã kết hôn với một kỹ sư điện tữ. Chúng nó làm việc cho một công ty nước ngoài, lương bổng cũng khá nên tôi yên tâm. Riêng cô gái út, tính tình nóng nảy. Chê Saigon ngột ngạt thiếu tự do, muốn đi du học. Bố tôi xin cho nó được học bổng đi du học Ba Lan hai năm. Tuy không thích lắm nhưng nó cũng bằng lòng vì dù sao đi du học cũng đỡ hơn phải ở lại Saigon. Qua bên đó, không biết nó học hành ra sao, chát chiết thế nào mà quen được một anh chàng kỹ sư bên Mỹ. Anh ta bảo lúc bé cũng ở Phước Hãi, có biết hai chị em nó. Anh ta cũng bay sang Ba Lan thăm và hứa khi nó trở lại Việt Nam anh sẽ về lập thủ tục bảo lãnh nó sang Mỹ. Quả thật, con tôi về lại Việt Nam sáu tháng thì anh ta cũng bay về thăm viếng gia đình tôi. Thấy anh ta lịch sự, nói năng lễ phép, chúng tôi rất ưng ý. Anh ta còn hứa hẹn sang năm sẽ đưa bố mẹ về làm đám cưới và đón cô dâu sang Mỹ luôn. Thật là phúc đức, con tôi thật có phúc , chúng tôi chỉ biết thầm cảm tạ Chúa Trời . Đám cưới thật rềnh rang, có cả bố mẹ hai bên, khiến vợ chồng tôi cũng nở mày nở mặt với họ hàng. Anh chị xui còn mời chúng tôi sang Mỹ ở chung cho vui.
Con gái út của tôi sang Mỹ, sau khi có thẻ xanh liền làm giấy bảo lãnh cho vợ chồng tôi. Năm sau lại thông báo nó làm việc cho chính phủ Mỹ, hi vọng sẽ bảo lảnh chúng tôi sang Mỹ sớm hơn dự định. Giấy tờ đi Mỹ của chúng tôi thật suông sẻ, phóng vấn cũng dễ dàng, tiệc tiễn đưa chúng tôi thật trang trọng. Mọi người chúc mừng khiến chúng tôi thêm hãnh diện có được con ngoan và rể quí. Chúng tôi đến phi trường San Francisco. Vợ chồng con chúng tôi đón về Sacramento,thủ phủ của California. Căn nhà rộng lớn , phòng ốc sáng sủa, chúng tôi có được phòng riêng nhìn ra vườn. Hai tuần lễ đầu con gái và con rể quấn quít bên chúng tôi, đưa đi ăn nhà hàng, thăm viếng San Francisco, San Jose, nơi có đông đúc những người Việt Nam. Anh chị xui cũng mời chúng tôi đến nhà chơi, ông bà đã về hưu, nhà cửa thật tươm tất gọn gàng. Hai tuần sau, con gái tôi bảo đã hết phép, phải đi làm, lại phải trực đêm nên sẽ không ở nhà ban đêm. Tôi cứ ngỡ nó làm y tá, nhưng dần dà rồi mới hiểu ra. Con tôi đã dối chúng tôi, nó đã tình nguyện gia nhập vào vệ binh quốc gia mà dám bảo là làm việc cho chính phủ như một công chức. Không biết vợ chồng chúng nó mới lấy nhau mà đã cơm lạnh canh nhạt như thế nào khiến nó phải tình nguyện đi lính. Thế rồi con tôi lấy cớ không được phép có bầu và sinh con trong thời gian huấn luyện và phục vụ trong quân đội nên không gần gũi với chồng, chúng nó từ từ xa nhau. Tuy nhiên con rể rất tốt, vẫn thương vợ, chịu đựng, vui vẻ đón chúng tôi sang Mỹ hy vọng chúng tôi sang đây, sẽ khuyên giải con tôi dễ dàng hơn. Nghe qua mọi việc, tôi rất giận, vội kêu con gái về rày la và khuyên can. Nhưng con tôi bảo việc của chúng nó để chúng nó giải quyết, người lớn không nên xen vào. Trách mắng mãi, nó bực quá nên cho hay là trong thời gian thụ huấn và phục vụ quân đội, nó phải lòng một sĩ quan người Mễ, nó đang muốn ly dị với chồng để sống chung với anh ta. Quả thật như sét đánh bên tai, tôi không còn chịu đựng được nữa, bảo nó phải lập tức về xin lỗi chồng, nếu không chúng tôi sẽ từ bỏ nó luôn. Nó vẫn ngoan cố nói, mang chúng tôi qua được đất nước tự do này là nó đã làm tròn chữ hiếu, nếu bố mẹ không tôn trọng quyền tự do của nó, nó không về nhà nữa. Và nó đã đi luôn, bỏ mặc chúng tôi với thằng con rễ tội nghiệp. Giờ đây tôi không biết làm gì nữa ngoài khóc lóc và than thân trách phận. Tôi nên giận con gái tôi hay nên trách bản thân mình không biết dạy giỗ con theo đường ngay lẽ phải. Phải chăng xã hội cộng sản đã biến đổi người dân như vậy. Tôi từ một tu sĩ khả ái bị biến đổi thành một anh chạy hàng rong kiếm sống qua ngày. Mọi người dân phải biết chụp giựt, phải biết dìm người khác để lấy cơ hội tiến thân. Thằng con rễ tội nghiệp giờ đây lại phải an ủi chúng tôi, bảo bố mẹ đừng quá đau buồn, từ từ em ấy sẽ hồi tâm lại, bố mẹ cứ ở đây với con để mọi giấy tờ được thông suốt. Anh chị sui cũng chẳng hề phàn nàn, nếu anh chị ngại ở với cháu thì chúng tôi còn dư một phòng, qua ở với chúng tôi. Con gái lớn của tôi từ VN gọi qua, nói bố mẹ đã già rồi, ở bên Mỹ làm gì, về lại Việt Nam vui chơi cùng các cháu. Nhưng tôi đâu còn mặt mũi nào mà về Việt Nam gặp lại bà con lối xóm, vì lúc rời Saigon có hơi khoe khoang khoác lác một tí. Cũng không thể nào đối diện với anh chị sui mỗi ngày, thời may, khi vợ tôi kể lể với anh chị bên Texas, chị dâu của vợ tôi mau mắn bảo chúng tôi qua Texas ở với anh chị, bên đó hơi nóng nhưng nhà cửa rẻ, có thể xin trợ cấp của chính phủ. Chị còn gởi cả vé máy bay sang cho chúng tôi, bảo chúng tôi đừng có ngại, các em đã nuôi anh trong trại cải tạo, giờ đây anh chị lo cho các em. Đành vậy thôi, tôi cũng chiều theo ý vợ đì tìm nơi dung thân mới. Texas quả thật là miền đất hứa, sống bên gia đình anh vợ và chung quanh hầu hết là những gia đình HO, tôi cảm thấy dễ chịu hơn nhiều. Họ đón tiếp chúng tôi ân cần và thiện cảm.
Con gái út của tôi vẫn chưa liên lạc với tôi, hình như tôi đã tha thứ cho nó rồi. Nghĩ cho cùng nó cũng chỉ là nạn nhân của chế độ mà thôi, xã hội cộng sản khiến người dân sống trong cùng cực, chỉ có cán bộ và tầng lớp thống trị giàu có nhờ cướp bóc tài sản của dân bằng những luật pháp phi nhân. Giới trẻ giờ đây cũng đang khao khát một cuộc sống tự do thoái mái. Họ cũng đang tranh đấu đòi hỏi dân chủ, nhân quyền cho phù hợp với xã hội bên ngoài. Tuy nhiên, dễ dàng nhất vẫn là tìm cách kết hôn với việt kiều, chỉ có cách đó mới mong thoát khỏi chế độ cộng sản và hi vọng có đời sống sáng sủa hơn. Con tôi cũng đã kết hôn với việt kiều, nhưng nó không lấy chồng bừa bãi. Nó cũng đắn đo, muốn yêu và được yêu, bằng chứng là cả gia đình nhà chồng đã về Việt Nam rước nó sang Mỹ. Tuy nhiên, đời sống gia đình đã xãy ra những mâu thuẫn ngoài ý muốn. Không biết cuộc sống lứa đôi như thế nào mà nó không thể thổ lộ cùng bố mẹ, cũng chẳng hề tâm sự với chị hai, mà lại âm thầm chịu đựng tự giải quyết lấy một mình. Tính khí nó quật cường nên có lẽ nó nghĩ giải pháp tốt đẹp nhất không phương hại đến danh dự gia đình chồng là tình nguyện nhập ngũ trong quân đội, như vậy sẽ có lý do xa chồng một thời gian, rồi từ từ giải quyết sau. Tội nghiệp con tôi, ở nơi xa lạ mà phải tính toán một mình, không người chỉ vẽ.
Lạy Chúa, con gái của con thật tội nghiệp. Không phải nó lấy chồng chỉ với mục đích duy nhất là để được sang Mỹ. Hôn nhân của nó bị rạn nứt chắc hẳn phải có nguyên do gì đó mà con chưa thể suy đoán ra được, nhưng Chúa biết. Chúa biết lòng nó rất chân thật. Xin hãy thương xót con bé và ban ơn bình an cho nó. Amen.

Duy Sam - 2016

21 thg 4, 2015

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA VNCH

Nam Nguyên/RFA
Bốn mươi năm trước, vào ngày 30/4/1975, cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 2 thập niên đã kết thúc. Cuộc chiến quốc-cộng đã làm 2 triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc bỏ mạng cùng sự hy sinh của hơn 58 ngàn người thuộc lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh.

Nam Việt Nam lúc đó đã kết thúc sứ mệnh "tiền đồn của thế giới tự do" một cách nhanh chóng và cay đắng. Những ngày cuối cùng của VNCH đã diễn ra như thế nào?

Vỡ trận
Tháng 3/1975 trước thực tế tiềm lực quân sự suy yếu, đạn dược chỉ còn đủ dùng trong 30 ngày, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định tái phối trí lực lượng. Tuy vậy quyết định triệt thoái khỏi cao nguyên Trung phần tức Quân khu II và cách thức mà các tư lệnh chiến trường thực hiện nó là một sai lầm lịch sử. Sự hỗn loạn dẫn tới việc mất luôn cả khu vực Quân khu I ở phía Bắc Việt Nam Cộng Hòa, Huế rồi Đà Nẵng thất thủ và sự sụp đổ dây chuyền kéo dài tới quê hương của Tổng thống Thiệu là Phan Rang.

Trước áp lực từ nhiều phía, ngày 21/4/1975 Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định từ chức và rời khỏi Việt Nam hai ngày sau đó.

"Thưa đồng bào, anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức tổng thống và theo Hiến pháp, Phó Tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức Tổng thống..."

Khi nhà giáo Trần Văn Hương trở thành vị Tổng thống thứ ba của chế độ VNCH, thì cũng là lúc mặt trận Xuân Lộc tuyến phòng thủ cuối cùng của Saigon đã vỡ, các lực lượng của VNCH can trường chịu thiệt hại nặng và giữ vững được 12 ngày đêm.

Bàn giao - Diễn văn lịch sử

Giữ chức Tổng thống VNCH được 5 ngày và bất lực trước tình hình sụp đổ nhanh chóng, ngày 26/4/1975 Tổng thống Trần Văn Hương yêu cầu Quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hòa bình hòa giải dân tộc. Quốc hội VNCH ra nghị quyết chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh vào chức vụ Tổng thống. Trên thực tế Hiến pháp VNCH đã không còn được thi hành từ thời điểm này.

Chiều 28/4/1975 lễ bàn giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập. Nam Nguyên của ban Việt ngữ RFA lúc đó là Đặc phái viên của Hệ thống Truyền thanh Quốc gia đã thực hiện cuộc Trực tiếp Truyền thanh cuối cùng của mình từ Dinh Độc Lập. Đoạn ghi âm lịch sử mà quí thính giả sắp nghe là những lời của Tổng thống Trần Văn Hương đan xen với tường thuật của Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến thuộc Hệ thống Truyền thanh Việt Nam:

Tổng thống Trần Văn Hương: "...Làm thế nào cho dân được sống yên...làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của Đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của đại tướng...(vỗ tay)

Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến : "...Sau khi nguyên Tổng thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu Tổng thống hai con rồng bay xuống...và thay thế bằng một huy hiệu Tổng thống mới với hình một hoa mai năm cánh...Đây là Phóng viên Hệ thống Truyền thanh Việt Nam, quí thính giả đang theo dõi Trực tiếp Truyền thanh lễ trao nhiệm chức Tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu Đại tướng Dương Văn Minh...Thưa quí thính giả vào lúc này bên ngoài dinh Độc lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Saigon đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước..."

Một trong hàng triệu thính giả đã nghe cuộc trực tiếp truyền thanh lịch sử ngày 28/4/1975 là ông Nguyễn Quốc Thái, một nhà báo thuộc nhóm tạp chí Hành Trình, Đất Nước và Trình Bầy. Ba tờ báo này do một nhóm trí thức công giáo được cho là thiên tả chủ trương và có khuynh hướng đối lập với chính phủ. 40 năm sau cuộc bàn giao lịch sử giữa hai vị Tổng thống Trần Văn Hương và Dương Văn Minh, từ Saigon ông Nguyễn Quốc Thái cho biết cảm nhận của ông vào thời điểm chiều 28/4/1975:

"Lúc đó tôi biết mọi chuyện đã xong rồi; có một hiển hiện rõ ràng là tất cả những người có thể giữ lại miền Nam thì đã rời khỏi miền Nam. Đây là một cuộc bàn giao theo sắp xếp, nhưng có người hoang tưởng rằng việc đảm nhận chức vụ đó có thể trao đổi thỏa thuận với phía bên kia là Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam... Nếu nhìn lại cuộc bàn giao đó thì thấy rằng đây là một cái gạch nối quá ngắn, mà chỉ làm một cái việc đã được sắp xếp, đã được hứa hẹn trong hoang tưởng của người nhận trách nhiệm lúc đó."
Khí tiết Việt Nam: tướng chết theo thành

4 thập niên sau ngày sụp đổ của Miền Nam Tự do dưới danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, nhiều tài liệu lịch sử đã được bạch hóa cho thấy Hoa Kỳ chỉ mong muốn việc rút quân của họ được an toàn trong một khoảng thời gian nhất định và thích hợp; tương lai của VNCH hầu như đã được quyết định trong Hiệp định Paris 27/1/1973. Nam Việt Nam rơi vào số phận nghiệt ngã vì bị đồng minh bỏ rơi, những mật ước của Tổng thống Nixon với TT Thiệu đã đi vào quên lãng. Hoa Kỳ đã không can thiệp quân sự khi phía Cộng sản vi phạm Hiệp định Paris lấn chiếm lãnh thổ với những cuộc tấn công qui mô.

Vào những ngày cuối cùng của Nam Việt Nam, Đại tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng; mặc dầu bản thân ông Minh và bộ tham mưu của ông có thể có những người vẫn còn tin vào giải pháp chính phủ liên hiệp như Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Nhậm chức chưa đầy 48 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, tuyên bố của ông được phát đi trên hệ thống Truyền Thanh Quốc gia vào buổi trưa ngày 30/4/1975.

"Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam...Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận Lễ bàn giao Chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào..."

Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập đi lập lại lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh, cũng như nhật lệnh tương tự của Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm phụ tá cho Trung tướng Vĩnh Lộc vị Tổng Tham mưu trưởng sau cùng, quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước. Nhiều vị tướng lãnh, sĩ quan cao cấp đã tuẫn tiết sau lệnh đầu hàng như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai...

Xe tăng Cộng sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập, bộ đội xe tăng treo lá cờ của Mặt trận Giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11g 30 trưa ngày 30/4/1975, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Miền Nam tự do hay VNCH là một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản và được Hoa Kỳ hỗ trợ. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hòa và tồn tại được 21 năm. Cuộc chiến Quốc - Cộng giữa những người cùng chung giòng máu nhưng khác ý thức hệ đã làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58.000 quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ khác của các nước đồng minh như Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.
Tiếp thu dinh Độc Lập

Thưa quí thính giả, cũng là một sự tình cờ lịch sử, khi cờ của Mặt trận Giải phóng đã tung bay trên Dinh Độc Lập, thì các đại diện chính trị của bên Cộng sản chưa vào tới Saigon để tiếp nhận Chính quyền. Do vậy ông Bùi Tín lúc đó là Trung tá trong vai trò một nhà báo Cộng sản Bắc Việt, cũng là người có cấp bậc cao nhất và được bộ đội xe tăng ủy quyền vào Dinh gặp Chính quyền Dương Văn Minh. Ông Bùi Tín hiện nay tỵ nạn chính trị ở Pháp. Năm 2005 từ Paris ông Bùi Tín kể lại giây phút lịch sử khi ông giáp mặt ông Dương Văn Minh và toàn thể nội các Vũ Văn Mẫu:

SB: " Tôi là người đầu tiên tiếp xúc, ông Dương Văn Minh và tất cả đứng dậy...ông Minh nói là chúng tôi chờ quí vị tới từ sáng nay, đặng chuyển giao chính quyền....Tôi có trả lời là, tất cả chính quyền các ông không còn nữa qua cuộc tấn công của chúng tôi...cho nên không thể bàn giao cái gì đã không còn nữa..."

Do sự kiện cựu Đại tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Nhân dân đã tỵ nạn chính trị khi sang Pháp dự Hội Báo L'humanité năm 1990, kể từ đó báo chí Hà Nội tường thuật những câu chuyện hoàn toàn khác với lời kể của ông Bùi Tín.

Vào những thời khắc sau cùng của chế độ VNCH, chuyện gì xảy ra ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ? Câu hỏi này đã được chúng tôi đặt ra với ông Robert Funsett, người vào thời điểm đó đang là Người Phát Ngôn cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Năm 2005 ông Funsett kể lại với Ban Việt Ngữ chúng tôi như sau:

"Ðúng giờ này, vào chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, giờ Washington tức rạng sáng 30/4 theo giờ Việt Nam, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ Trung Tâm Ðiều Hành ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Phillip Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Ðại Sứ Graham Martin.

Ðại Sứ Martin chưa muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Tòa Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội. Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên."
Đồng minh bội ước

Sau 4 thập niên từ khi chấm dứt chiến tranh các tài liệu hồ sơ của Tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã được bạch hóa. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa đã được định đoạt và Nam Việt Nam sẽ chỉ tồn tại cho đủ thời gian để Hoa Kỳ rút chân khỏi cuộc chiến một cách an toàn. Đây là một thực tế phũ phàng của lịch sử. Việt Nam Cộng Hòa có cái giá phải trả khi hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ.

Bị Washington cắt viện trợ quân sự và kinh tế, VNCH đơn độc trong cuộc chiến chống cộng. Vào năm 1975 không có nhiều người ở miền Nam tự do thấy trước là số phận của mình đã được các siêu cường sắp đặt. Khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và ra đi, quân dân VNCH chịu nhiều nỗi thống khổ với muôn vàn oán hận ông. 15 năm sau sự sụp đổ của VNCH, xuất hiện tại California Hoa Kỳ năm 1990, cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đăng đàn trả lời chất vấn của cộng đồng người Việt. Sau đây là một trích đoạn những biện giải của ông Nguyễn Văn Thiệu:

" Tổng Thống Nixon có nói nếu như không có vụ Watergate thì tình trạng Việt Nam không đến nỗi như vậy. Chúng ta tin hay không tin là quyền của chúng ta. Nhưng chúng ta chỉ làm việc trên sự kiện người ta cúp viện trợ quân sự, cúp viện trợ kinh tế, ngoại giao thì áp lực và không có phản ứng mãnh liệt. Trong lúc đó Nga Xô và Trung Cộng thì tăng cường viện trợ cho cộng sản và họ thừa thắng xông lên để xâm chiếm miền Nam đặt thế giới và Hoa Kỳ trước một việc đã rồi. Cho nên tôi phải từ chức, cái hành động mà tôi từ chức ngay lúc đó chính tôi cũng đã thấy khó chịu rồi. Nhưng mà tôi không có một sự lựa chọn nào khác, nếu như tôi còn ngồi thì tôi mang tội với nhân dân, là vì ông còn ngồi mà Mỹ không viện trợ bởi vì ai nấy cũng được cho hiểu như vậy, vì ông còn ngồi mà Việt Cộng không thương thuyết, phải có Dương Văn Minh lên mới được thương thuyết vì ông còn ngồi mà chiến tranh còn triền miên chết chóc. Tôi thấy lịch sử sẽ chứng minh cái đó trúng hay trật, cái đó để cho lịch sử và nhân dân, nhưng bổn phận của tôi là một Tổng thống lúc đó tôi phải ra đi."

Lịch sử đã sang trang từ 40 năm qua, những người chịu trách nhiệm hay là chứng nhân một giai đoạn lịch sử của VNCH đều đã khuất bóng. Việt Nam đã thống nhất từ năm 1976 nhưng 40 năm qua những người cộng sản chiến thắng đã tự ru ngủ mình, theo cách nói của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

4 thập niên sau chiến tranh, vào tháng 3/ 2015 Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận Việt Nam phát triển quá chậm, kém xa 6 nước sáng lập ASEAN, hiện nay có nhiều lãnh vực còn thua kém cả Lào và Campuchia.

Nước Việt Nam thống nhất đã 40 năm nhưng vẫn còn quá nhiều câu hỏi được đặt ra về sự tụt hậu cũng như vấn đề dân chủ, dân quyền và nhân quyền.

Nam Nguyên/RFA

19 thg 3, 2014

TÂM TÌNH NGƯỜI LÍNH GIÀ H.O


Từ cửa sổ nhìn xuống sân bệnh viện
Những hàng cây vàng đỏ gió rung rinh
Cánh lá rơi lác đác cuối chiều đông
Ngẫm phận mình tái tê chiều xế bóng

Nhớ khi xưa trên chiến trường nam bắc
Dãy Trường Sơn đã mòn gót quân hành
Đời chiến binh ta nguyện hiến thân mình
Cho tổ quốc cho nhân dân an lạc

Có ngờ đâu phận dân nước nhược tiểu
Phải quay cuồng theo thế lực ngoại bang
Đồng minh vì quyền lợi của riêng mình
Đã bội ước khiến quân dân rúng động

Tướng bất tài lo co giò chạy trước
Để lại ta với một đám tàn quân
Tuy có lòng nhưng làm sao chiến đấu
Chẵng lẽ nào lấy đá chọi xe tăng

Đành vậy thôi, đành cởi áo chinh y
Trại Cải Tạo ta chịu kiếp lưu đày
Việt cộng chê chính quyền ta thối nát
Độc lập rồi sao dân vẫn lầm than?

Trại Cãi Tạo đã đành ta gian khổ
Vợ con ta cũng lâm cảnh đọa đày
Kinh Tế Mới thiêu rụi cả tương lai
Nghĩ đến con lòng ta đau rướm máu

Cũng may thay Mỹ còn chút lương tri
Dùng dollar khỏa lấp những lổi lầm
Thế lực Mỹ cưu mang Tù Cải Tạo
Cho ra đi lánh xa Thiên Đường Đỏ

Ta ra đi cho vợ con bớt khổ
Cho con ta có được chút tương lai
Ngẫng mặt lên nhận ánh sáng quang minh
Phát huy tinh thần Việt cho mai hậu

Thân xác ta mòn mỏi theo năm tháng
Cơn bệnh này rối cũng sẽ lành thôi
Nhưng hồn ta quằn quại mãi không yên
Hận vong quốc vẫn còn trong tâm khảm


Viết thay cho người bạn già H.O
Duy Sam

13 thg 2, 2014

Bài thơ gửi Anh bộ đội

Anh và Tôi

Anh là bộ đội cụ Hồ miền Bắc..
Tôi là anh lính Cộng Hoà miền Nam ..
Ta gặp nhau trên một đất nước tan hoang
Nơi chiến địa, ngút ngàn khói lửa ..

Mẹ tôi mỗi chiều chờ tin con tựa cửa
Mẹ anh gục đầu quỵ ngã giữa đấu trường
Bao mái đầu già, tóc bạc thảm thương ..
Bao mái đầu xanh, lên đường nhập cuộc..

Khẩu AK trên đôi tay gầy guộc..
Mắt căm thù anh tiến bước căm gan..
Vượt Trường Sơn, anh xẻ núi, băng ngàn
Quyết giải phóng miền Nam, vui lòng " bác "...

Đây miền Nam! Ruộng đồng xanh bát ngát
Người lính miền Nam không một lúc nào quên
Bảo quốc, an dân, kinh nhật tụng đầu tiên ..
Ưu tiên một trong sáu điều tâm niệm ..

Nhưng hôm nay..!! Tiếng AK át lời kinh cầu nguyện ..
Ngơ ngác kinh hoàng câu chuyện Mậu Thân ..
Tiếng súng chen vào tiếng pháo đầu xuân ..
Xác mai vàng trộn xác dân đẫm máu ..

Em bé thơ chẳng kịp khoe quần áo
Đã vội lìa đời mắt thao láo, mở trừng ..
Mẹ già nua, mờ khoé lệ rưng rưng ..
Lặng lẽ khóc giữa... trùng trùng lửa đạn..

Bác Hồ cười..!! Ôi giọng cười.... điên loạn
Mắt long lanh như ngàn vạn yêu tinh ..
Có phải chăng " bác " đang hiện nguyên hình ...
Vâng, chính bác..!! Hồ Chí Minh đích thị

Bác là người, hay là ma là quỷ ..
Là yêu tinh, hay " tay anh chị " Trường Sơn ..
Ai làm gì mà bác cứ ..... căm hờn
Cứ đòi tiến trên con đường chủ nghĩa ..

Trong đầu bác đầy âm mưu độc địa
Dối gạt anh, bác đã " phịa " đủ điều ..
Dân miền Nam bị kìm kẹp trăm chiều ..
Anh lên đường và tin theo ........ lời bác ..

Ta gặp nhau trên chiến trường tan nát
Ôi kiếp con người giữa đạn lạc, tên bay ..
Vũ khí giết người của Nga, Mỹ , Tầu , Tây
Nhưng lại nằm trên đôi tay người... Việt .!!

Hè đỏ lửa, anh hăng say cuồng nhiệt ..!!
Vào Bình Long, anh quyết giết chúng tôi..
Bạn bè tôi, gãy cánh giữa lưng trời ..
Đồng chí anh cũng thây phơi chật đất..

Anh hăm hở vào Nam theo lời bác ..
Tay anh xâm câu " Sinh Bắc , tử Nam " ..
Tôi thương mẹ già một nắng hai sương ..
Viết vào vai câu " Xa quê hương , nhớ mẹ"

Nghe bác Hồ, anh căm thù Mỹ Nguỵ
Anh hận tôi tận xương tuỷ, tim gan ..
" Bác " dạy anh, anh thù cả ...... thế gian
Và anh tin lời " ngọc vàng " của ... " bác "

Lời Mẹ tôi dạy nhiều điều ...... hơi khác ...
Dạy thương yêu, sống bát ngát tình người
Dạy thứ tha , lấy 9 bỏ làm 10 ..
Dạy vươn lên, mỉm cười trong nghịch cảnh

Đôi mắt Mẹ hiền từ như bà thánh ..
Bảo tôi đừng tập xấu tánh, thù dai ..
Không dạy căm thù, nên tôi chẳng biết phải thù ai ..
Giờ chúng ta gặp nhau ngoài chiến trận

Anh bắn tôi, lòng anh tràn thù hận ..
Đạn tôi đi, kèm một chút bâng khuâng ..
Cánh tôi rơi, anh hớn hở reo mừng ..
Anh gục ngã, thoáng lòng tôi bất nhẫn ..

Tuổi trẻ Việt Nam, lớn lên trong chiến trận
Là đớn đau, chua xót lẫn hận thù ..
Ôii cuộc đời ..!! Một bể khổ thiên thu..
Thiên đường bác hứa, thiên đường mù không lối thoát

Hôm nay đây, toàn dân Nam ngơ ngác ..
Đường " bác " đi, bi đát đến thảm thương
Bắc, Trung, Nam, giờ... bí lối cùng đường
Lê lết sống đời .... vất va, vất vưởng ..

Bác tưởng mình là con " rồng ", con " phượng " ..
Nhưng " bác " chỉ là con ..... " vượn " Trường Sơn ..
Bác hận đời, " bác " nuôi mãi căm hờn ..
Ăn trúng gì ..!! Mà " bác " lên cơn say máu ..

" Bác " gian hùng từ khi còn thơ ấu ..
" Bác " làm bao nhiêu điều xấu vì tiền ..
Chó săn Tây, " bác " làm điềm chỉ viên ..
" Bác " bán đứng bao người hiền yêu nước

" Bác Hồ " ơii ..!! Có phải chăng kiếp trước
"Bác" là tên bạo ngược Mạc Đăng Dung !!?
Hay " bác " là Lê Chiêu Thống hiện thân !?
Cõng rắn về cắn nhân dân lần nữa ..!!??

Lại là " bác ", " Người ruồi " gieo máu lửa .
Đường " bác " đi, chẳng có cửa nào ra ..
Lăng Ba Đình, còn lại một thây ma ..
Vào xem " bác ", tên cùng hung cực ác ..

Sử ghi " bác ", Hồ Chí Minh bán nước ..
Cả biển Đông không rửa được danh nhơ..
Vẫn còn ghi, và mãi chẳng phai mờ
Lừng danh " bác ", tên tội đồ dân tộc ..

Này anh bộ đội ..!!
Lẽ nào số anh cung .......... nô bộc ......
Nên " bác " Hồ cứ đầu độc tỉnh bơ
" Bác " dùng anh như một thứ .... gia nô ..
Xúi anh làm chuyện điên rồ cho " bác " ..

Nếu có dịp, anh dừng tay một lát ..
Nghĩ thử xem tội ác đến từ đâu ..!!??
Sẽ thấy ngay hình ảnh ... " bác " Minh Râu
Kẻ tình nguyện theo Tầu làm ..... đầy tớ ..

Này anh bộ đội ..!! Hãy luôn luôn ghi nhớ
Đất nước nghìn năm, sao lại nỡ đem dâng
Lịch sử oai hùng, từ Đinh, Lý, Lê, Trần
Quyết không nhượng cho ngoại nhân 1 tấc

Thế mà hôm nay Hoàng Sa kia biến mất ..
Tiếp theo sau, Bản Giốc cũng không còn
" Bác " Hồ ơi ..!! Tội " bác " chất tầy non
Bia đá mòn, nhưng vẫn còn ... bia miệng

Nó ô nhục như cột đồng ..... Mã Viện ..
Nó kinh hoàng như câu chuyện năm xưa ..
Đến bao giờ mới rửa sạch vết nhơ ..
Cho đất nước, không ngờ ... sinh ra "bác"

Này anh bộ đội ..!! Hãy dừng tay chốc lát
Nghe chuyện kinh hoàng hơn cả ... Pháp thực dân ..
Súng trên tay, hãy tự cứu lấy bản thân ..
Quay nó lại, xoá đi niềm hối hận ..

Cợ hội đến, khi số trời chuyển vận ..
Thì những tên trùm , táng tận lương tâm
Đã từ lâu hút cạn máu nhân dân ..
Phải trả lời trước cán cân lịch sử ..

Này anh bộ đội từng vào sinh, ra tử ..
Thấy hay không ..!!? Lũ quỷ dữ lộng hành
Đất nước mình giờ đã nát tan tành ..
Anh không biết, hay anh đành ... giả điếc

Bao nhiêu năm trong hận thù , chém giết
Xương máu dân đã cạn kiệt suy tàn..
Có nghe chăng muôn triệu tiếng oán than
Giòng suối lệ dân nước Nam đang chảy ..

Khẩu AK nằm trên tay anh đấy ..
Sẽ nhiệm mầu gấp mấy chiếc ... đũa thần
Quay súng về để cứu lấy muôn dân ..
Và cứu cả chính bản thân anh nữa ..

Còn phần tôi , dù hôm nay ... ngã ngựa
Nhưng nếu trời còn tựa chút sức tàn..
Cũng tiếp tay xây dựng lại giang san
Dù tan nát, dù muôn ngàn đổ vỡ ..

Cũng cố gắng đến tận cùng hơi thở ..
Mới mong tìm ánh sáng ở tương lai ..
Dân Việt mình mới thấy được ngày mai ..
Và mới mong sánh vai cùng thế giới ..

Mới mong thoát cảnh u mê tăm tối ..
Xuống tuyền đài không thẹn với cha , ông
Hãy nắm tay cùng góp sức chung lòng ..
Vực thẳm hôm nay mới mong qua khỏi ..!!

Phúc Trần

18 thg 11, 2013

MƯA THÁNG SÁU

Truyện ngắn chiếm giải Nhất năm 2013 của giải văn chương lớn nhất ở hải ngoại do Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt tổ chức
(Thân mến tặng các chị cùng đợt thăm tù tại Cà Tum năm 1977, để nhớ “Những tháng ngày không quên” …)

Thu Tâm
Đôi mắt mở to, trằn trọc mãi vẫn không tài nào dỗ được giấc ngủ, tôi nằm yên lặng ngó quanh căn phòng dành cho người lỡ đường của ngôi Chùa nhỏ đơn sơ . Trong yên lặng, thỉnh thoảng một vài tiếng thạch sùng tắc lưỡi không đủ làm khuấy động màn đêm. Ánh đèn điện trên trang thờ bên góc tường đủ soi sáng cả không gian chật hẹp , đồ đạc không có gì ngoài bộ ván gỗ 1m6, trên đó chật cứng bốn người lớn và hai đứa con nhỏ của tôi, nên mỗi lần cử động hay trở mình rất khó khăn.

Mỏi qúa, tôi nhè nhẹ bước xuống giường ra trước bàn thờ , tay cầm nén nhang mà chẳng biết van vái điều gì, chỉ nghe nghèn nghẹn nơi cổ họng và rồi những giọt nước mắt từ đâu bỗng tuôn rơi không kềm lại được.Tôi đứng gục đầu trước trang thờ thổn thức, tưởng nhớ tới hình ảnh người chồng thân yêu đang nằm “bệnh xá” cả tháng nay…

Giờ này chắc cũng khuya lắm rồi, mọi người đang say ngủ bởi cả ngày di chuyển mệt mỏi. Kẻ từ Saigon , người từ miền Tây, cùng gặp nhau xin tá túc qua đêm nơi này để sáng ra còn lặn lội mấy chặng đường nữa , vừa đi xe vừa lội bộ mới tới được nơi người thân đang “cải tạo”. Đứa con nhỏ của tôi giật mình khóc, thằng anh nó cũng mếu máo theo, tôi chạy lại ôm con vào lòng . Hai đứa bé hoảng hốt ôm chặt mẹ khi nghe tiếng đập ầm ầm bên ngoài.
Vị Sư Cô tay cầm tràng hạt ra mở cửa. Như một làn gió ùa vào trong, một cụ bà tóc bạc trắng, nét mặt và đôi mắt đầy nét kinh hãi bế trên tay đứa bé trai chắc cũng trạc tuổi con trai nhỏ của tôi, cả hai quần áo nhếch nhác và rách toạc nhiều chỗ lấm lem vết máu, vết bùn. Mọi người choàng tỉnh ngủ hẳn, sợ hãi ngồi hẳn dậy bởi tiếng khóc la của hai bà cháu .
-“Chúng nó giết chết hết cả nhà con cháu tôi rồi! trời ơi sao chúng nó ác qúa vậy, con cháu tôi có làm gì nên tội đâu ….!”
Bà cụ vừa kể vừa gào thét, vật vã tay chân. Đứa bé cũng khóc la thảm thiết, những vết rách trên da thịt đang rướm máu, khuôn mặt kháu khỉnh lem luốc. Thời gian này hai chính phủ đang có cuộc xung đột nên bọn người từ bên kia biên giới Miên Việt bất ngờ nửa đêm đã tràn qua tàn sát những người dân Việt vô tội để trả thù. Gia đình ngoài bà còn có con trai, con dâu và 8 đứa cháu , tất cả là mười một người. Bây giờ chỉ còn sót lại bà và đứa bé nhất này vì ngủ ở nhà sau. Khi bọn sát nhân gõ cửa và đâm lưỡi lê sát hại từng người trong nhà, bà chỉ kịp ôm cháu theo ngã sau, băng đồng ruộng, hàng rào, chạy thoát được tới đây…
Chúng tôi không cầm được nước mắt, vô cùng xót thương cho hoàn cảnh của hai nguời , nhưng chỉ biết vỗ về an ủi. Không nói ra, ai cũng nặng lòng lo nghĩ tới cuộc hành trình ngày mai.
Một lúc sau, bà cụ hầu như kiệt sức nên chỉ còn rên rỉ nho nhỏ, Sư cô đưa hai bà cháu vào phòng trong nghỉ ngơi . Đồng hồ điểm 1 giờ sáng, sự yên tĩnh trở về. Chị em chúng tôi nhìn nhau yên lặng, trong lòng mỗi người ôm một nỗi ưu tư riêng. Trong đoàn người hôm nay chỉ mình tôi là dắt theo con nhỏ, vì không nơi thân thuộc để gởi gấm nên dù đi bất cứ nơi nào hoặc bao xa cũng tay ôm tay dắt mẹ bên con …
Các chị bạn thì thầm hỏi nhau có nên đi tiếp hay trở về. Tấn thoái lưỡng nan, bởi người nào đến được Tây Ninh rồi cũng cố ven vét tiền để mua thêm thứ này thứ khác đem vào trong tù cho chồng. Bây giờ mang trở về làm sao thoát khỏi bọn “công an kinh tế”lục soát và tịch thu hàng hoá, vừa mất của vừa bị chúng kết tội thêm phiền hà.Vì luật “miệng” đưa ra cho tất cả mọi hành khách, cứ 2 kg mỗi thứ đều là “buôn lậu”. Phần tôi, lần thăm nuôi này đã phải đem bán vài vật dụng trong gia đình để mua một số thuốc trị bệnh ngoài chợ “đen”cho anh , tiền lương eo hẹp cứ hai tháng mới được lãnh nên thiếu trước trả sau là chuyện thường. Bữa nay tạm có chút đỉnh để thăm chồng, hết mấy buổi mua sắm sửa soạn, mấy đêm liền nấu nướng, chuẩn bị. Chả lẽ bây giờ lại để bị tịch thu một cách vô lý, trong khi tự bản thân và hai đứa con nhỏ phải tiện tặn từng chút biết bao ngày . Hơn nữa thiếu thuốc men thì sức khoẻ anh sẽ ra sao ?!. Mà lần này nếu mất hết lấy đâu ra tiền để mua sắm lại. Nhưng…nếu cứ đi tiếp thì làm sao vượt thoát nổi những hiểm nguy nếu có xảy ra !!!
Đầu óc rối tung, tay ôm con, lòng như tơ vò . Tôi đưa mắt thẫn thờ qua các chị bạn, rồi cúi xuống hai đứa con thơ, mấy sư cô đang có mặt nhìn tôi áy náy , một vị lên tiếng:
- “Hay là cô để các cháu ở đây chơi, nhà Chùa sẽ giữ săn sóc giúp cho đến khi nào cô trở về.! Dắt chúng theo tội nghiệp lắm.”
Lời nói đầy tình nhân ái khiến tôi suy nghĩ, nhưng làm sao yên lòng được. Vì chúng còn nhỏ qúa, vả lại hồi nào tới giờ hai đứa chưa bao giờ xa mẹ một hôm nào, nhất là phải ở cả ngày, đêm với những người lạ. Chúng sẽ khóc đến thành bệnh mất! Mà không biết chuyến đi bao lâu mới trở ra được. Mấy chị bạn đã nhất định không trở về nếu chưa gặp được chồng.
Lau khô những giọt nước mắt phân vân, “Một liều ba bảy cũng liều” Quyết định cuối cùng là “Đi”! Mẹ đâu con đó! Tôi đành cám ơn vị sư cô đưa ra đề nghị vừa rồi.

HÀNH TRÌNH GIAN NAN

Chuyến xe lam chất đầy hành khách đưa chúng tôi rời bến Tây Ninh từ sáng đến gần trưa thì vào đến “Càtum”. Đoạn đường phủ mờ bụi và sóc mạnh nên mọi người cứ ngã chúi lên nhau, đôi lúc đang đi bỗng xe nhảy dựng lên, đầu một vài người bị dộng mạnh lên mui xe đau điếng. Chúng tôi cùng đùa với tên đặt cho địa danh và con đường đang đi là “Cà Tưng”. Hai đứa con ngồi hai bên đùi khiến tôi tê dại cả người, c ăng thẳng sợ con bị thương vì những va chạm mạnh nên tôi càng thêm mệt mỏi. Một người thanh niên trẻ bên cạnh thấy vậy nên đỡ giúp tôi cháu bé. Thằng bé không biết mệt cứ cười toe toét nhe mấy cái răng sữa, ngọng nghịu nói đủ thứ. Dù chỉ biết mặt bố một lần từ lúc sinh ra gần hai năm nay, chẳng hiểu đã nghe từ đâu mà bé đã biết nhiều chuyện về người cha vắng mặt :
-“Chú biếc Bố coong hông, coong i xăm (thăm) bố đó, Bố bị bộ đội bắc chù (t ù) zồi, coong héc (ghét) bộ đội nắm ! Coong hương (thương)bố nắm…”
Mọi người phì cười , thằng bé thấy được chú ý nên càng ra sức huyên thuyên. Không khí trên xe có những tiếng cười vui nên bớt căng thẳng mệt mỏi, nhưng riêng tôi lại lo lắng với sự ngây thơ thật thà của trẻ thơ. Từ ngày vắng anh, ba mẹ con sống đơn độc, khép kín, luôn lo sợ sự bất trắc xảy đến. Vì “tai vách mạch rừng” khiến chỉ dám tiếp xúc với người cùng hoàn cảnh, nín lặng trước mọi điều bất công. Trong cuộc sống eo hẹp khó khăn đã khiến một số nhỏ chị em không chịu đựng nổi, hoặc bị bọn Công an , cán bộ dồn vào thế phải tùy thuộc chúng. Bọn chúng trong tay đầy quyền hành, đem thủ đoạn mưu mô đối phó với những người đàn bà trẻ yếu đuối, khờ khạo trong hoàn cảnh mới, liệt chúng tôi vào thành phần “gia đình Ngụy có tội với nhân dân”, luôn rình mò , dòm ngó, đe nẹt . Chúng tôi phải bươn chải khắp nơi, cố gắng vượt qua bao nhiêu cơ cực, đề phòng và né tránh bao cạm bẫy hầu an toàn mang được miếng ăn bữa no bữa đói về cho con, cho gia đình. Chỉ trông mong vào sự che chở của Phật Trời , của ơn trên để sống còn mà nuôi con dại, cha mẹ già.
Riêng tôi, còn để thoát qua những cặp mắt đầy ác tính đó, hàng ngày đã tự hóa thân thành một thiếu phụ lem luốc lôi thôi, dù tuổi đời mới hai mươi mấy. Đầu tóc bù rối, áo quần luộm thuộm, lùng thùng với chiếc nón rách tả tơi lụp xụp che khuất mặt mỗi sớm tối đi và làm về, hoặc khi phải ra ngoài. Chỉ còn thêm ít … vết lọ nồi trét trên mặt nữa chắc người thân yêu nhất cũng chẳng thể nhận ra !!
Đôi lúc ngắm mình trong gương, tôi không biết nên cười hay nên khóc !!
*****
Cà tum đây rồi, chiếc xe dừng lại nơi gọi là “bến “ ,chỉ lèo tèo vài chiếc xe chở khách (loại xe máy có đóng thêm một khung gỗ đàng sau để chuyên chở ), rất đúng nghĩa với tên được gọi là “Lôi” đứng bơ vơ giữa gió bụi vắng tanh. Chắc hành khách chỉ là những chị em đi nuôi chồng hay thân nhân như chúng tôi. Vài con chó ốm tong teo lang thang quanh những đống rác chí choé dành nhau tìm thức gì có thể ăn được. Lòng tôi như chùng xuống theo màu xám khung trời … Đoạn đường đi tới còn dài, chúng tôi lại vội vã chia nhau lên từng chiếc “xe “.
Cứ hai người cùng với hàng hoá đi chung một chuyến , chiếc xe ngộ nghĩnh ì ạch “lôi”chúng tôi ngã sấp ngã ngửa trên con đường đất “sống trâu” gồ ghề ,sình lầy đầy những ổ gà ngập nước mưa sâu hoắm. Hai bên đường lác đác dăm mái nhà đơn sơ nửa tranh, nửa tôn lụp xụp chen giữa những thửa ruộng cuối mùa, càng tăng thêm phần tiêu điều của một vùng quê nghèo nàn, hẻo lánh. Thỉnh thoảng một vài người dân địa phương chân đất ,quần áo nhếch nhác tay bế con nhỏ , cạnh mấy đứa bé trần truồng đứng ngơ ngác nhìn đoàn xe kỳ khôi chúng tôi đi qua với đôi mắt tò mò. Bụi mù theo gió lốc xoáy lên cao rồi cuốn tròn quanh đoàn người khốn khổ, mặt mũi chúng tôi đều lem luốc phờ phạc, tóc tai xác xơ như những tên hề hoá trang vụng về sau đêm hát. Mọi người nhìn nhau cười không ra tiếng!!
Đoạn đường tuy không bao xa nhưng cũng hơn 3 giờ chiều mới đến Bố Túc. Tên gọi mà chúng tôi chưa hề được nghe nhắc tới bao giờ.
Từ đây , vì không có xe nào chịu chuyên chở giúp nữa, nên chúng tôi phải gồng gánh lội bộ 6 km đường đất mới tới được nơi để ngủ qua đêm . Đến lúc này ai nấy đều uể oải cả ,nhưng đành phải cố gắng. Một tay bế đứa con nhỏ, trên lưng là chiếc balo căng phồng nặng trĩu đến còng gập cả người, còn tay kia thì kéo lê chiếc bao 50 kg chật cứng. Đứa con lớn mới hơn bốn tuổi của tôi nắm áo mẹ lúp xúp bước thấp bước cao chạy theo sau, nhưng làm sao hơn khi tôi cũng gần như kiệt sức với số hàng hóa đang mang trên lưng, trên tay. Tôi nhủ thầm tiếng xin lỗi với con và nói nhỏ : “mẹ con mình cố lên chút nữa rồi sẽ được gặp bố nghe con” Bé nhìn mẹ mếu máo không dám khóc, nhưng nước mắt tôi thì đã chan hoà từ bao giờ...
Những bóng người lem luốc nặng nề lê bước bên nhau trong ráng chiều hiu hắt, không ai còn đủ hơi mà chuyện trò nổi. Vài tiếng qụa kêu vọng lại càng tạo cho bầu không khí thêm thê lương. Bầu trời càng lúc càng xuống thấp hơn, đám mây vần vũ trên trời như đe doạ cơn mưa ập tới bất ngờ . Mẹ con tôi cố gắng lắm nhưng vẫn bị bỏ lại đàng sau một đoạn xa dù các chị bạn cố tình đi chậm lại để chờ.
Vừa đi vừa nghỉ rồi cũng đến được đích khi hoàng hôn đã bao phủ nhạt nhoà cảnh vật. Những người dân thật thà chất phác rất nhiệt tình giúp đỡ. Sau khi lo cho hai con tắm và ăn uống xong, soát lại trong túi chỉ chừa đủ tiền xe cho chuyến về, tôi bắt chước họ, mua thêm con gà, luộc chín. Nấu miếng xôi để mai mang vào cho chồng xong tôi định đi nghỉ. Ngày mai còn phải khởi hành sớm vì từ đây đi tới cổng trại cả 4 km đường cũng mất nhiều thời gian. Họ sẽ nhận đơn lúc 9 giờ sáng, cỡ 11 giờ là được thăm.

ĐOẠN TRƯỜNG

Trời khuya dần, hai đứa bé quá mệt mỏi vừa đặt xuống giường là ngủ say sưa. Trằn trọc mãi, tôi ra ngồi trước hiên căn nhà lá nhìn làn mưa rơi trong màn đêm u tịch, lòng bồi hồi nghĩ tới anh. Những giọt nước mưa mát lạnh theo làn gió hắt vào mặt càng làm tôi tỉnh táo, dù rằng xác thân đã rã rời. Tiếng chó nhà ai sủa vang phá tan sự tĩnh lặng của đêm đen, giờ này chắc các anh cũng đang thao thức mong cho mau sáng để được gặp mặt vợ con hay thân nhân…
- Chạy mau, chúng nó tới nơi rồi …”
Tiếng la thất thanh của ai đó kèm theo tiếng chân người chạy cùng tiếng chó sủa liên hồi, tôi hoảng hốt đứng bật dậy . Ngoài đường từng chiếc xe bò chất chồng cả người lẫn đồ đạc đang rộn ràng chạy qua, bóng tối bị đẩy lùi bởi những ngọn đuốc sáng rực khắp nơi. Tôi đứng chết trân giữa cửa không biết làm gì. Trong nhà mọi người đã thức giấc đang gói ghém đồ đạc chất lên xe bò (hình như ở đây gia đình nào cũng có sẵn loại xe này), tiếng kêu gọi nhau í ới vang rền cả xóm. Các chị em bạn cũng tay ôm tay xách chạy ra ngoài, thấy tôi đứng lớ ngớ họ la lớn thúc dục. Tôi nghẹn ngào khi nhìn hai đứa con thơ và đống đồ đạc bên cạnh. Bủn rủn tay chân, làm sao đây! Tôi ngẩn ngơ tê dại ngồi xuống ôm con khóc không ra tiếng trong khi mọi người lăng xăng. Vợ chồng người chủ nhà la to:
- Cô để một túi đồ và bỏ thằng con lớn lên xe tui chở đi cho, còn cô bồng thằng nhỏ mà chạy theo sau. Lẹ lên không thì chết hết đó.
Cuống cuồng làm theo người chủ nhà tốt bụng, chỉ còn chiếc balo và đứa con nhỏ . Tôi cố chạy theo nhưng đôi chân hình như không còn biết nghe lời , cứ qụy xuống trên mỗi bước đi. Chiếc xe chở đứa con lớn càng lúc càng bỏ xa tôi, mấy chị bạn nóng lòng thấy tôi cứ thụt lùi phía sau nên la lớn:
-Chị phải hy sinh mà giữ mạng mình với con trước, vất bớt đồ đạc đi cho nhẹ mà chạy. Chứ đi kiểu này thì tụi tui cũng chết theo chị luôn đó!
Tôi nào muốn liên luỵ đến mọi người, dù trong lòng rất phân vân lo lắng. Trong chiếc balo này có một ít qùa của chị em bạn gởi nhờ đem giúp nữa, không biết mai này giải thích với họ ra sao cho khỏi bị hiểu lầm đây. Để bớt áy náy lương tâm, tôi nhờ chị bạn mở nắp balo sau lưng tôi vất bỏ bất cứ vật gì nằm trên cùng. Một phần ba số lượng rồi mà hình như vẫn không thấy nhẹ đi chút nào. Lưng tôi vẫn đau gập cả xuống , thằng bé con sợ hãi nên bám chặt cứng một bên hông nhức nhối. Bóng tối và sự yên lặng phủ trùm vạn vật, đoàn người chạy loạn cùng những bó đuốc bập bùng đã ở đâu đó xa tít đàng trước mặt từ lúc nào. Tôi kéo lê lần mò từng bước chân đau nhức, tê mỏi trên con đường gồ ghề, ngã chúi đầu mỗi lần vấp phải những ổ gà, hất cả thằng con nhỏ xuống đường khiến nó khóc thét lên vì đau đớn. Ôm chặt con thơ, ruột gan người mẹ như đứt từng đoạn. Có 6 km đường mà sao đi hoài không tới !!
Gần 3 giờ sáng, cổng trại giam mở đón chúng tôi vào nhưng chỉ được dừng lại ở ngay sau cánh cổng. Tôi trải chiếc khăn lông lớn mang theo lên bãi cỏ cho hai con nằm , ngồi bên cạnh quạt muỗi chờ sáng . Một rừng người yên lặng nằm ngồi la liệt chung quanh. Đến 5 giờ, mấy tên “cán bộ” ra lệnh cho chúng tôi phải trở về khu nhà dân vì không còn nguy hiểm nữa . Lại rồng rắn kéo nhau quay lại!
Chỉ kịp lau mặt mũi thay quần áo cho ba mẹ con , rồi ăn chút lót dạ xong là chúng tôi tiếp tục gánh gồng , tay mang tay xách trở lại đoạn đường cũ vừa đi qua. Lúc này trời đã sáng tỏ, trên mặt đất ngổn ngang bao nhiêu đồ đạc thức ăn bị vất bỏ hồi khuya. Tôi bất ngờ tìm lại được vài món qùa còn nhớ được . Tuy cả đêm hầu như không chợp mắt nhưng bao nhiêu mỏi mệt lúc này tan biến đâu mất, hàng hóa trên lưng, trên tay cũng nhẹ hơn bao giờ ... Hai đứa bé tíu tít vui đùa chạy trên đường, sự vô tư của con thơ cho tôi niềm hạnh phúc ngọt ngào trong nỗi xót xa vô tận.
Ba mẹ con ngồi ngơ ngẩn trong phòng đợi, người đi thăm đã lần lượt ra về mà sao tên chồng tôi vẫn chưa được gọi đến.. Một ý nghĩ chợt đến khiến tôi muốn nghẹt thở vì sợ hãi, hay là có chuyện bất trắc xảy ra cho anh, hay anh bị chuyển đi trại khác rồi?! Hỏi tên cán bộ ngồi canh gác thì hắn nói, vì anh bị bệnh không tự đi được từ bệnh xá ra tận đây , mà lúc này anh em đi “lao động” hết , phải chờ có người về “võng” anh ra . Đành chờ tiếp mà ruột gan tôi nóng như lửa. Ngổn ngang những lo lắng , hay anh bị bệnh nặng qúa họ không cho thăm, mà trễ qúa sợ khi gặp xong sẽ không còn xe về! Tôi xin phép có 3 ngày mà hôm nay đã là ngày cuối, nếu nghỉ lâu sẽ không làm đủ số lượng hàng bắt buộc. “Tiêu chuẩn” 12 kg gạo mỗi tháng bị cắt thì lấy gì cho con ăn ?! Trăm thứ lo âu lộn xộn lúc này ! Thời gian cứ chầm chậm trôi trong sự yên lặng đầy nghi vấn trong tôi.
Không thể ngồi yên, tôi đánh bạo tới xin tên CS :
- Cán bộ có thể cho tôi tự đi vào trong bệnh xá thăm chồng tôi được không?
Hắn trả lời là đường rừng dài tới 6 cây số , lại nhiều rắn rết rất nguy hiểm nên không thể đi được. Tôi chán nản trở về chỗ ngồi lòng buồn rười rượi. Người đi thăm đã ra về hết từ bao giờ, chỉ còn trơ trọi ba mẹ con ngồi buồn rầu trong dãy nhà dành cho thăm nuôi tù bằng tre nứa trống trải. Đêm nay mẹ con tôi sẽ ra sao, nhìn hai đứa con thơ gầy ốm vất vả theo mẹ mấy ngày nay , tim tôi buốt nhói !

NIỀM VUI HÒA LẪN NỖI ĐAU

Chiều xuống dần, những đám mây đen vần vũ kéo báo hiệu trời lại sắp đổ mưa, định lấy gì cho con ăn đỡ đói thì tên cán bộ tới báo cho hay đã có anh em đi lao động về, và lát nữa chồng tôi sẽ ra đến. Hai đứa bé nghe tin mừng rỡ reo lên , nhịp tim tôi bỗng nhiên rộn ràng …
Ôi ! người chồng thân yêu của tôi kia ư? Sao nhìn không ra anh nữa rồi ! Người bạn dìu một bên nách, còn anh thì vừa bò vừa lết bằng hai đầu gối đang tiến đến gần. Tôi chết sững người, bóng chiều nhạt nhòa và mắt ngập lệ xót xa… Chiếc balo trên lưng bỗng dưng nặng trĩu đè gập người tôi xuống. Anh và tôi cùng qùy đối diện, bốn mắt nhìn nhau nghẹn ngào không nói được nên lời, chỉ nghe tiếng ríu rít vô tư của hai đứa con thơ. Đâu đó tiếng chim kêu buồn thảm như muốn buông lời cảm thông !
Cố run run đứng thẳng giữa hai dãy bàn, vòng tay ôm hai đứa con trai nhỏ, anh úp mặt vào má chúng nghẹn ngào. Những giọt nước mắt của người đàn ông cương nghị ngày nào nhòe ướt mặt con thơ. Hai đứa trẻ đưa bàn tay bé xíu chùi nước mắt cho cha rồi oà khóc theo người cha tội nghiệp!
- Hết giờ rồi!
Tiếng tên VC vang lên cướp mất niềm hạnh phúc nhỏ nhoi của gia đình bốn người chúng tôi..
Tâm hồn như đóng băng, đôi mắt tôi mờ hẳn và hầu như không còn nhận thức được điều gì đang xảy ra xung quanh…
Hai đứa bé mếu máo níu, ôm chặt người anh không chịu buông, tim tôi như nghẹn thắt …
Ngoài kia trời đang mưa rơi...rơi ! .

Thu Tâm
Những ngày tháng không quên.

27 thg 5, 2013

Thắng cuộc hay tội đồ?

Thắng cuộc hay tội đồ?
Trần Gia Phụng

Chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30-4-1975. Cho đến nay, cộng sản Việt Nam (CSVN) thường tự hào họ là bên thắng cuộc. Nhân mùa Quốc hận năm nay, có lẽ nên thử trở lại vấn đề ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?

THẾ NÀO LÀ BÊN THẮNG CUỘC?

Trước hết cần phải xác định thế nào là thắng cuộc thì mới có thể biết bên nào thắng cuộc? Thông thường, bên thắng cuộc là bên thực hiện được mục đích do chính bản thân đặt ra trước khi tham chiến.

Những bên tham chiến vừa qua là: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt Nam (BVN), Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN), Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN). Ngoài ra, phía BVN có Liên Xô và Trung Quốc viện trợ và gởi quân làm cố vấn và bảo vệ BVN. Phía NVN có Hoa Kỳ viện trợ và gởi quân tham chiến.

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và MTDTGPMN tuy hai mà một, do đảng Lao Động (LĐ) điều khiển. Tại Hà Nội, từ 5-9 đến 10-9-1960, diễn ra Đại hội đảng LĐ lần thứ III, được mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ nghĩa và “giải phóng hoàn toàn miền Nam...” (Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb Giáo Dục, 2001, tt. 154-155.) Sau Đại hội nầy, đảng LĐ thành lập MTDTGPMNVN, ra mắt tại Hà Nội ngày 12-12-1960 và ra mắt tại xã Tân Lập, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (vùng chiến khu Dương Minh Châu) ngày 20-12-1960.

Trong chế độ dân chủ, quyền tuyên chiến, quyền quyết định chiến tranh, một vấn đề tối quan trọng, liên hệ đến vận mạng đất nước, thuộc về quốc hội, đại diện toàn dân quyết định. Ở BVN, quyết định chiến tranh và tuyên chiến, lại do đảng LĐ quyết định, chứ không do quốc hội, chứng tỏ rõ ràng rằng đảng LĐ nắm quyền tuyệt đối ở BVN, và nhà cầm quyền Hà Nội chỉ là bù nhìn của đảng LĐ mà thôi. Thế là BVN khởi binh đánh NVN.

Tuy viện cớ thống nhất đất nước, nhưng thực sự đảng LĐ quyết tâm đánh chiếm miền Nam vừa vì tham vọng bành trướng cố hữu của CS, vừa làm tay sai quốc tế cho Liên Xô và Trung Quốc. Lê Duẫn bí thư thứ nhất đảng LĐ, đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)

Liên Xô (LX) và Trung Quốc (TQ) đều mang đặc tính chung của các nước CS là luôn luôn chủ trương bành trướng, bá quyền. Tại LX, ngày 15-10-1964, Leonid Brezhnev đảo chánh và lên làm thư ký thứ nhất đảng CSLX thay Nikita Khrushchev. Brezhnev, tăng cường viện trợ BVN, gởi quân và chuyên viên sang giúp BVN. Đây là khởi đầu chủ trương can thiệp mới của Liên Xô, mà về sau các nước Tây phương gọi là chủ thuyết Brezhnev, theo đó. “Nguyên lý Xô viết về luật quốc tế khẳng định quyền của Cộng đồng Cộng sản can thiệp bất cứ ở đâu mà các lực lượng nội tại và ngoại lai thù địch đối với chủ nghĩa cộng sản tìm cách biến đổi sự phát triển một nước theo chủ nghĩa xã hội hướng về chủ nghĩa tư bản, một tình thế được xem có tính cách đe dọa đối với tất cả các nước cộng sản.” (The New Lexicon Webster's Encyclopedic Dictionary of English Language, Nxb. Lexicon, New York, 1988, mục "Brezhnev Doctrine".)

Trung Quốc ở sát ngay phía bắc của Việt Nam. Từ năm 1950, TQ giúp CSVN vừa vì sự cầu viện của CSVN và của Hồ Chí Minh, vừa vì lợi ích an ninh bản địa TQ. Mao Trạch Đông đã từng nói: “Không thể chỉ nói Trung Quốc giúp Việt Nam, phải nói rằng Việt Nam cũng giúp Trung Quốc là sự giúp đỡ lẫn nhau.”(La Quý Ba, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, trong Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch. Montreal: Nxb. Tạp chí Truyền Thông (in lại), số 32 & 33, 2009, tr. 27.)

Thật vậy, từ năm 1956, mối bang giao TQ - LX rạn nứt. Liên Xô bao vây TQ ở phía bắc và phía tây. Phía tây nam, Ấn Độ chận TQ. Phía đông (biển Thái Bình) là hàng rào ba nước đồng minh của Hoa Kỳ và ký hiệp ước phòng thủ song phương với Hoa Kỳ là Nam Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Nếu để cho Hoa Kỳ bao vây luôn BVN, thì TQ bị chận hết các đường ra biển. Vì vậy, TQ giúp BVN chẳng những do ý thức hệ CS và sự cầu viện của BVN, nhưng đồng thời cũng do TQ bị bao vây các mặt, trừ một phần phía nam TQ là BVN.

Năm 1954, chính phủ Quốc Gia Việt Nam không đồng ý chia hai đất nước, nhưng nghiêm chỉnh thi hành hiệp định Genève (20-7-1954). Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa năm 1955. Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ tự do dân chủ, dầu hạn chế vì chiến tranh, duy trì nền văn hóa dân tộc cổ truyền, hệ thống giáo dục khai phóng, cởi mở, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại cuộc xâm lăng của BVN. Tuy nhiên, vì yếu sức, VNCH phải nhờ đến sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.

Sau thế chiến thứ hai, từ năm 1946, trên thế giới bắt đầu xảy ra chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và CS. Hai khối tư bản và CS tranh chấp quyết liệt trên toàn cầu. Tuy vậy Hoa Kỳ và Liên Xô tránh đụng độ trực tiếp vì cả hai đều thủ đắc võ khí nguyên tử, sợ chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai đều thiệt hại. Tình trạng tranh chấp căng thẳng nhưng không đánh nhau nầy, gọi là chiến tranh lạnh.

Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô và khối CS dùng chiêu bài giải phóng dân tộc để tuyên truyền và bành trướng thế lực. Hoa Kỳ và khối tư bản cho rằng khi một nước bị CS chiếm quyền, thì các nước lân bang dần dần sẽ bị mất vào tay CS, nghĩa là một quân cờ domino sụp đổ, thì các quân cờ domino khác cũng sụp theo. Đó là nguồn gốc thuyết domino tại các nước Tây phương, nhất là Hoa Kỳ.

Vì vậy, khi TQ (ngày 18-1-1950) rồi LX (ngày 30-1-1950) thừa nhận nhà nước VNDCCH do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, thì Hoa Kỳ (ngày 4-2-1950) và Anh (ngày 7-2-1950) thừa nhận chính phủ QGVN do Bảo Đại làm quốc trưởng. Từ đó, Hoa Kỳ giúp Pháp và QGVN chống lại CSVN.

Sau hiệp định Genève, Việt Nam bị chia hai. Để ngăn chận làn sóng CS ở Đông Á, nhất là ngăn chận Trung Quốc xuống phía nam, Hoa Kỳ vận động ký kết Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Collective Defence Treaty) tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân, ngày 8-9-1954. Từ đó ra đời Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization, SEATO), gồm các nước Australia (Úc), France (Pháp), New Zealand (Tân Tây Lan) Pakistan (Hồi Quốc), Philippines (Phi Luật Tân), Thailand (Thái Lan), United Kingdom (Anh), và United States of America (Hoa Kỳ).

Trong phụ bản (protocol) của hiệp ước SEATO, ba nước Cambodia (Cao Miên), Laos (Lào) và NVN được liệt kê trong vùng lãnh thổ được SEATO bảo vệ. Hoa Kỳ dựa vào phụ bản nầy để minh chứng sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á, và giúp xây dựng NVN thành một “tiền đồn chống cộng”. Lúc đầu, Hoa Kỳ chỉ gởi cố vấn sang giúp NVN. Từ năm 1965, Hoa Kỳ đưa quân trực tiếp tham chiến.

Tuy nhiên, vào cuối thập niên 60, tình hình thay đổi. 1) Giới phản chiến Hoa Kỳ hoạt động mạnh, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam. 2) Trong khối CS, cuộc tranh chấp LX-TQ càng ngày càng trầm trọng. Chính phủ Hoa Kỳ liền thay đổi chính sách ngoại giao toàn cầu. Khi lên cầm quyền năm 1969, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon quyết định rút quân ra khỏi NVN bằng kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh nhằm yên lòng dân chúng Hoa Kỳ; đồng thời Nixon thay đổi chính sách ngoại giao đối với khối CS, hòa hoãn với Trung Quốc và Liên Xô, đào sâu sự chia rẽ giữa LX và TQ.

Richard Nixon sang thăm TQ từ 21-2 đến 28-2-1972, và ký kết với thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bản Thông cáo chung Thượng Hải (Shanghai) ngày 28-2-1972, làm nền tảng cho chính sách của cả hai bên về Đông Á cho đến ngày nay. Tiếp theo, Richard Nixon thăm Liên Xô từ 22 đến 30-5-1972, cùng Leonid Brezhnev ký kết hiệp ước SALT (Strategic Arms Limitation Treaty = Hiệp ước giới hạn võ khí chiến lược) ngày 26-5-1972, và hứa hẹn sẽ cho Liên Xô quy chế tối huệ quốc (most favored nation).

Sau hai cuộc viếng thăm nầy, Hoa Kỳ ký hiệp định Paris ngày 27-1-1973, đơn phương rút quân khỏi Việt Nam. Quốc hội Hoa Kỳ giảm viện trợ cho VNCH. Quân đội VNCH thiếu nhiên liệu, thiếu phương tiện chiến đấu, đành buông súng; VNCH sụp đổ ngày 30-4-1975.

2.- AI LÀ BÊN THẮNG CUỘC

Dựa trên mục đích của các bên tham chiến và diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam được sơ lược trên đây, vấn đề đặt ra là ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?

Trước hết và rõ ràng nhất, sau cuộc chiến vừa qua, người CS thường huyênh hoang tự hào là họ là kẻ thắng cuộc. Quả thật, ngày 30-4-1975, VNCH sụp đổ, VNDCCH chiếm được NVN, thực hiện mục tiêu “giải phóng” miền Nam đã được đề ra trong Đại hội III đảng LĐ ở Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960. Tuy nhiên, sau khi CS làm chủ toàn bộ đất nước, CS có thật sự là bên thắng cuộc hay không?

Ngay tức khắc, sau khi CS chiếm NVN, khoảng 150,000 người di tản ra nước ngoài. Tiếp đến là phong trào vượt biên. Dầu CS kiểm soát gắt gao, khoảng trên 1,500,000 bỏ nước ra đi bằng tất cả các phương tiện, “cây cột đèn cũng muốn ra đi”, trong đó khoảng 500,000 người bỏ mình ở biển Đông. Biển Đông trở thành nghĩa địa biển lớn nhất thế giới. Ở trong nước, nhiều phong trào nổi lên chống đối CS đều bị đàn áp. Như thế, CS chiến thắng bằng súng ống, chiếm được đất đai, nhưng hoàn toàn thất bại về nhân tâm, không chiếm được lòng người, không thống nhất được lòng dân.

Những người ra đi bị ghép tội “phản động”, chạy theo bơ sữa “đế quốc Mỹ” năm 1975, sau đó bỗng chốc trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, “Việt kiều yêu nước”. Nhà nước CS kêu gọi hòa giải hòa hợp với “khúc ruột ngàn dặm”, nhưng chỉ có một nhóm người đếm được trên đầu ngón tay, tìm kiếm chút hư danh, về nước nói là “đóng góp xây dựng đất nước”, trong khi đại đa số người Việt hải ngoại chẳng có nhu cầu hòa giải hòa hợp với CS toàn trị. Về Việt Nam du hí thì có, nhưng về Việt Nam để giúp chế độ CS thì không. Như thế, CSVN có phải là “bên thắng cuộc” hay không?

Phải vay nợ súng ống thì mới có súng ống chiến đấu. Cộng sả n Vay nợ LX và TQ. Vay nợ thì phải trả nợ. Sau năm 1975, CSVN trả nợ LX, giao hải cảng Cam Ranh cho LX và muốn chạy theo LX để xù nợ TQ, liền bị TQ dạy cho một bài học năm 1979, làm 6 tỉnh biên giới tan hoang. Năm 1990, khối Đông Âu sụp đổ, CSVN quay qua đầu phục TQ ở Thành Đô (TQ), đưa đến các hiệp ước 1999 và 2000, mất đất mất biển. Sau đó còn nhiều chuyện tiếp theo, thuê rừng, khai thác bauxite, tấn công ngư dân...

Sau năm 1975, một điểm nổi bật là hầu hết người BVN, từ cán bộ, bộ đội, đến thường dân, khi vào Nam đều học theo cách sống của người Nam, chứ hầu như người Nam không học theo người Bắc. Người Bắc (1975) thích ăn bận theo người Nam, đua đòi thời trang miền Nam, nghe nhạc Nam mà CS gọi là "nhạc vàng", đọc sách Nam, từ tiểu thuyết trữ tình, tiểu thuyết kiếm hiệp đến văn chương, triết học, và làm tất cả các cách để thành người Nam. Ngay cả những cán bộ cao cấp trong Bộ chính trị đảng LĐ (năm 1976 cải danh thành đảng CS) cũng từ bỏ bộ áo quần đại cán cao cổ để ăn bận Âu phục theo kiểu người Nam. Chẳng những thế, hầu như toàn thề BVN cũng được Nam hóa, trang bị bằng sản phẩm của NVN, nghĩa là được đồng hóa theo NVN. Cho đến nay, CSVN muốn trở lại con đường của NVN, duy chỉ muốn bảo vệ quyền lực đảng CSVN. Ngang đây, cũng tạm đủ để cho thấy CSVN có phải là kẻ thắng cuộc hay không?

Về phần VNCH, ngày 30-4-1975, quân đội VNCH bị thiếu tiếp liệu, súng ống, đành phải ngưng chiến đấu. Chính phủ VNCH sụp đổ. Cộng sản đặt ách thống trị lên NVN. Tuy nhiên, dân chúng còn bị kẹt lại ở trong nước, vẫn quy hướng về chính thể VNCH, vẫn mong muốn hít thở không khí tự do dân chủ của VNCH, luôn luôn tưởng nhớ VNCH, nghĩa là linh hồn VNCH vẫn còn đó. Vì bị đàn áp, dân chúng đành lặng thinh, nhưng ai ai cũng mong sẽ có ngày giải trừ CS, tái xây dựng chế độ Cộng hòa. Vậy làm thế nào giải thích hiện tượng nầy? Phải chăng VNCH chỉ tạm thời thất bại năm 1975 nhưng vẫn chưa bị tiêu diệt. Anh linh VNCH còn đó. Ai cũng tin sẽ có ngày VNCH phục sinh. Thời gian sẽ trả lời.

Về các nước ngoài: Hoa Kỳ mang tiếng là đã bị CSVN đánh cho “Mỹ cút”, nhưng thật sự Mỹ không cút, Mỹ cũng chẳng “tháo chạy” (như tựa đề quyển sách Khi đồng minh tháo chạy), mà phải nói cho thật đúng diễn tiến lịch sử là Mỹ tức Hoa Kỳ ngưng, không tiếp tục hiện diện ở Việt Nam vì thay đổi chiến lược toàn cầu của họ, và Hoa Kỳ đã thành công trong các mục tiêu chiến lược của họ: Rút quân khỏi Việt Nam, giải quyết chuyện nội bộ Hoa Kỳ, bắt tay với Trung Quốc, và cuối cùng chiến thắng cuộc chiến tranh lạnh với LX khi LX sụp đổ năm 1991. Riêng nội bộ Hoa Kỳ, nhân dân Hoa Kỳ mất gần 60,000 thanh niên ưu tú trong chiến tranh Việt Nam. Đổi lại Hoa Kỳ thí nghiệm nhiều loại võ khí tối tân tại Việt Nam, kể cả những chuyến oanh kích thử nghiệm đầu tiên của B52. Tư bản kỹ nghệ võ khí Hoa Kỳ thu lợi như thế nào thì không được thống kê đầy đủ.

Ngoài ra, một số đồng minh của Hoa Kỳ cũng hưởng lợi: Nhật Bản phục hưng nhanh chóng nền kỹ nghệ sau thế thiến thứ hai nhờ cung cấp hàng tiêu dùng cho Việt Nam, nhất là cho quân nhân Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam. Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân nhờ VNCH làm lá chắn ngăn chận làn sóng CS và các nước nầy kịp phục hồi kinh tế và an ninh để chống lại sự bành trướng của TQ.

Trung Quốc thu lợi nhiều mặt. Trước hết, thông qua chiến tranh Việt Nam, TQ bắt tay được với Mỹ năm 1972, được Mỹ thừa nhận chỉ có một nước TQ, công nhận Đài Loan là một phần lãnh thổ TQ, công nhận không kiếm cách làm chủ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và chống đối bất kỳ nước nào hay nhóm nước nào muốn làm bá chủ vùng nầy, ý ám chỉ Liên Xô. Đó là những điều TQ mong muốn nhất.

Về biển Đông, Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ để TQ viện trợ cho BVN đáng NVN. Vì vậy năm 1974, nhân cơ hội VNCH bị Mỹ bỏ rơi, bị BVN tấn công dồn dập, TQ ra tay cướp đoạt Hoàng Sa thuộc lãnh thổ VNCH. Sau năm 1975, khi CSVN chạy theo LX, muốn trốn nợ TQ. Trung Quốc liền đánh 6 tỉnh biên giới năm 1979, dạy cho CSVN một bài học. Vì vậy, khi Đông Âu lung lay, CSVN qua Thành Đô xin đầu hàng TQ năm 1990, đưa đến hai hiệp ước 1999 và 2000. Trung Quốc chiếm đất, chiếm biển của Việt Nam. Như vậy, tuy không được tiếng là bên thắng cuộc, nhưng TQ là kẻ thu hoạch nhiều nhất sau chiến tranh Việt Nam.

Liên Xô viện trợ cho BVN không kém gì TQ. Đầu năm 1975, viện trợ của LX cho BVN để BVN đánh NVN tăng gấp bốn lần so với trước. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.) Sau năm 1975, Việt Nam gia nhập khối COMECON (Council for Mutual Economic Assistance tức Hội đồng Tương trợ Kinh tế) ngày 27-6-1978. Ngày 3-11-1978, Lê Duẫn, tổng bí thư đảng CSVN, sang Liên Xô và ký với Leonid Brezhnev, tổng bí thư đảng CSLX, Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ giữa hai nước. Từ sau hiệp ước nầy, hải quân Liên Xô bắt đầu tiến vào sử dụng hải cảng Cam Ranh làm căn cứ tại Viễn đông.

Có hai ảnh hưởng gián tiếp đáng ghi nhận sau chiến tranh Việt Nam: 1) Khi rời bỏ Việt Nam năm 1975, Hoa Kỳ chủ trương để lại nguyên vẹn và không phá hủy tất cả máy móc thiết bị mà Hoa Kỳ giao lại cho VNCH. Cộng sản rất mừng tiếp nhận được những chiến lợi phẩm nầy. Sau ngày 30-4-1975, đại diện các nước CS trên thế đến thăm viếng NVN, chúc mừng sự thành công của CSVN, rất ngạc nhiên về những chiến lợi phẩm nầy, sự tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, y khoa của Hoa Kỳ so với Liên Xô mà lâu nay Liên Xô bưng bít, giấu kín. Nhờ đó, các nước Đông Âu mới biết rõ sự cách biệt giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, khiến họ giảm tin tưởng đối với đàn anh Liên Xô và bắt đầu nhìn về phía Hoa Kỳ, nhập cảng sản phẩm của Hoa Kỳ, tạo tâm lý thuận lợi cho sự sụp đổ của khối CS. 2) Làn sóng vượt biên vĩ đại của người Việt Nam chạy ra nước ngoài tỵ nạn CS sau năm 1975, khiến cho lương tâm thế giới, nhất là các nước Tây Âu, lâu nay thiên tả là một “thời trang”, bừng tỉnh về giấc mộng “xã hội chủ nghĩa”, ghê sợ và chán ghét các chế độ CS. Các nước Tây Âu quay qua giúp đỡ các phong trào kháng chiến ở các nước CS Đông Âu, góp phần dần dần đưa đến sự sụp đổ của hệ thống CS Đông Âu.

KẾT LUẬN

Đặt kết quả chiến tranh Việt Nam trong chiều rộng của không gian và trong chiều dài của thời gian, mà vẫn khó có thể thẩm định ai là bên thắng cuộc. Tuy nhiên chắc chắn có hai điều rất rõ ràng: 1) Toàn dân Việt Nam ở cả Bắc và Nam Việt Nam đều thua cuộc về nhiều mặt. Ngoài thiệt hại vật chất, nhà cửa, ruộng vườn, hàng triệu gia đình tan nát vì chủ nghĩa CS, hàng triệu người tử vong vì chiến tranh do CS gây ra, nền văn hóa và đạo đức suy đồi trầm trọng. 2) Thủ phạm của tấn thảm kịch nầy chính là kẻ đã du nhập chủ nghĩa CS ngoại lai bạo tàn, chính là kẻ đã rước voi về giày mồ tổ tiên, chính là kẻ chủ trương gây chiến để phục vụ quyền lợi ngoại bang và chỉ làm lợi cho ngoại bang dù là CS hay tư bản. Chúng là những tên phản quốc dâng đất, dâng đảo, dâng biển cho kẻ thù phương bắc. Đám nầy không ai khác hơn là tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN.
Sau năm 1975, chúng dần dần lộ diện. Chúng mất trắng tất cả vốn liếng chính trị mà chúng đã dày công lừa phỉnh toàn dân Việt Nam và thế giới. Chúng không phải là bên thắng cuộc. Chúng chẳng những trở thành kẻ thua cuộc, mà chúng còn là tội đồ dân tộc. Lịch sử sẽ ghi tội, hậu thế sẽ đời đời lên án.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Quốc hận 2013)

22 thg 4, 2013

Tháng Tư, sống và chết


Huy Phương

Chết không phải là đã tắt hơi thở
Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.

(Chúc Thư)

Trong một cuộc phỏng vấn với một sĩ quan VNCH đã trải qua những giờ phút kinh hoàng trên bãi biển An Dương vào ngày 26 Tháng Ba, 1975, khi một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị kẹt lại trên bờ biển, trước mặt là biển cả chỉ có một chiếc tàu nhỏ hải quân vào đón thương binh, sau lưng là quân thù và đạn pháo, phần lớn những người lính thất trận đã bị “chết cạn” trên bờ biển tại đây hay bị bắt làm tù binh, tôi đã đặt câu hỏi với người lính còn sống sót đến hôm nay, là điều gì khiến cho ông suy nghĩ nhất, sau ba mươi tám năm dài trôi qua?


Thẻ bài tử sĩ tìm thấy trên bãi biển An Dương. (Hình: Huy Phương)

Ðiều ông nói có thể khi mới nghe qua, chúng ta ngạc nhiên, nhưng nghĩ lại nghe thật giản dị, nhưng không khỏi xót xa:

“Ðiều ân hận của tôi là đã không được chết!”

Tôi nghĩ rằng câu nói của ông, người lính già, trong giờ phút nhắc lại chuyện cả một quân đội tan rã, bao nhiêu người đã nằm lại trên những con đường lui binh, trên những bờ biển tuyệt vọng của miền Nam, là một câu nói phát xuất từ đáy lòng, không khoa trương hay đại ngôn chút nào, bởi sự sống có trăm nghìn lần khó khăn hơn sự chết!

Bản năng sinh tồn của mọi loài là cố bám lấy sự sống. Chúng ta cũng không trách ai những ngày hỗn loạn, tìm được một chỗ trên trực thăng hay ra đi với toàn bộ gia đình an toàn trên một chiến hạm ra khơi trong khi xe tăng của địch quân đã vào đến Sài Gòn. Khi những con tàu rời bến Khánh Hội, khi những chiếc trực thăng đã bốc lên cao giữa một thủ đô đang hứng chịu những quả đạn pháo kích cùng với cảnh hỗn loạn của một giờ thất thủ, ở những nơi nào đó, có những người lính đang tuân thủ lệnh chỉ huy giữ đất một phút không rời, hay thất vọng đành quàng vai ôm nhau, chia chung cái chết.

Ba mươi tám năm sau, những người còn sống sót, bằng cách này hay cách khác, lần lượt ra khỏi đất nước, đã thật sự còn sống không hay cũng như đã chết. Có những vị tướng đã chết lẫm liệt, cho những ông tướng khác sống cuộc đời tầm thường trên đất khách, ngày hai buổi sáng chiều và chết quạnh quẽ, hay thậm chí còn quay về bợ đỡ kẻ thù.

Có những người lính đã chết trong những giờ cuối cùng để cho chiến hữu họ được sống, qua ngày đoạn tháng, trở về trên những con đường tắm máu ngày xưa, nhưng đầu óc trống rỗng, ngu ngơ như những người mất trí nhớ. Có những người còn thân thể còn lành lặn nhưng tâm thần tê liệt, trở lại rong chơi giữa số phận nghiệt ngã của đồng đội què cụt quanh mình.

Trở lại câu trả lời của người lính già, ông nói ngày xưa, nếu nằm lại với anh em trên bãi biển, cái chết đến một cách thật dễ dàng, nhưng cái sống bao nhiêu năm nay quả là khó, vì không biết sống thế nào cho đáng sống, cho khỏi hổ thẹn với chính mình, nhất là khi nghĩ đến những người đã chết ngay trước mặt mình, đã chết ngay sau lưng khi mình đã may mắn được ra đi.

Sống phải chăng không dễ, vì sự sống còn mang nặng nghĩa vụ với những người đã chết.

Chúng tôi xin nhắc lại một câu chuyện cũ. Ngày 21 Tháng Sáu, 1945, khi quân đội Nhật không giữ được Okinawa, tại bộ tư lệnh của đơn vị tại Mabumi, Tướng Mitsuri Ushijima đã viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo, trước khi tiến hành việc mổ bụng tự sát, ông đã nói với Ðại Tá Hiromichi Yahara:

“Ðại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng đây là lệnh từ cấp chỉ huy của ông!”

Yahara do đó là sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Ðánh Vì Okinawa.” Như vậy, sống còn phải chăng cũng là một nghĩa vụ?

Lòng dũng cảm không chỉ dành cho những vị anh hùng đã tự sát. Sống cũng cần lòng dũng cảm. Từ ba mươi tám năm nay có những người sống trong sợ hãi, tê cứng tứ chi và đầu óc. Họ sợ khi trở về Việt Nam bị công an làm khó dễ, họ sợ con cái của họ còn ở bên kia sẽ bị liên lụy, họ sợ sẽ không được trở về để thăm viếng người thân, nếu ở bên này họ có một cử chỉ hay lời nói nào chống lại hay gây bất lợi cho chế độ trong nước. Toàn là những cái sợ cho lợi lộc của bản thân. Chúng tôi cũng xin nói thêm đây không phải là một người dân bình thường, tình cờ một đêm nọ, có mặt trên bãi biển, là điểm hẹn của những người vượt biển, nên bị lùa xuống ghe, bất đắc dĩ phải bỏ nước ra đi, mà họ là những người quyết định chọn cái chết để tìm con đường sống, hay đã đánh đổi bằng những năm tháng tù đày khốn khổ nơi chốn rừng thiêng nước độc. Họ cũng không phải là những người lính vô danh, những người này có hoạt động trong các hội đoàn, có tên tuổi, có chức vị.

Một lần tôi có hẹn phỏng vấn với một cán bộ xây dựng nông thôn trên một chương trình truyền hình về quá trình hoạt động của đơn vị ông trước năm 1975. Trước giờ thu hình, tôi gọi điện thoại cho ông, ở đầu dây bên kia, vợ ông trả lời “ông không có nhà.” Tôi ngỡ rằng ông đang trên đường đến đài truyền hình, nhưng khi tôi xưng danh tánh, bà vợ cho tôi biết “ông đã đi xa - out of town!” Trời đất! Mới hôm qua đây, ông “ừ è” với tôi, mà chỉ trong thời gian, chưa đến 24 tiếng đồng hồ, ông đã trốn chạy một buổi phỏng vấn, cũng là trốn chạy cái dĩ vãng mà ông thường tự cho là hào hùng ngày xưa, chỉ vì một nỗi sợ hãi nào đó, mà bản thân ông không đủ can đảm nói thật với tôi là ông sợ.

Một người nữa đang sống, bề ngoài có vẻ hào hùng nhưng còn sợ hãi. Ðây là một cựu sĩ quan có chức vụ trong một hội đoàn cựu quân nhân, và vào dịp Tháng Tư năm nay, tôi muốn mời ông lên một chương trình nói về những ngày “lui binh.” Ðến giờ thu hình, không thấy ông đến, sốt ruột, tôi gọi cho ông. Ông trả lời vắn tắt, trong khi đèn đuốc, sân quay, chuyên viên và cả tôi đang chờ ông: “Tôi bận, không đến được!”

Ông biết truyền thông đi xa, có khi về tận bên kia, cẩn thận ẩn mình đi là tốt. Có điều tôi không hiểu sao ông lại dấn thân đi làm việc cộng đồng, trong khi lòng ông đầy sự sợ hãi. Ông muốn về Việt Nam chăng, hay là ông còn mẹ, còn em mà ông lấy cớ muốn bảo vệ họ, sự sợ hãi lớn lao đến dường ấy hay sao? Bây giờ mà cái bóng ma cộng sản còn lởn vởn bao trùm lên đời sống của ông, một người đã cao bay xa chạy, trong khi tuổi trẻ ở trong nước, những người dân bị phản bội, sống giữa kìm kẹp tù đày, vẫn không hề biết sợ hãi là gì!

Tướng McArthur nói: “Old soldiers never die; they just fade away - Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi.” Chết đã đành, sống mà phai nhạt, mờ dần trong quên lãng như cỏ cây, thì còn gì buồn hơn nữa!

Chết và sống, điều gì khó hơn?

12 thg 9, 2012

Một Bài Thơ Không Đề Tựa (đọc dễ chảy nước mắt )


Phạm Đức Nhì

Tự Do như muối
Hạnh Phúc như đường
Khi còn đang ăn đủ miếng ngọt miếng ngon
Khó thấy giá trị của hạt đường hạt muối

tôi sống ở miền Nam
nhìn dòng đời trôi nổi
nở lại tàn
bao nhiêu mùa hoa
hai nền Cộng Hoà
một cuộc chiến tranh dài đẫm máu
tôi đã dốc lòng chiến đấu
bảo vệ tự do
dưới lá cờ
nền vàng ba sọc đỏ

tiếc thay trong đội ngũ
chúng tôi có ít những Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam
mà lại khá nhiều Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn
nên lính mất niềm tin
dân chán nản
những kẻ có lòng
lắc đầu ngao ngán
rồi nước Mỹ đồng minh, xưa là bạn
nay trở mặt lọc lừa
quên lời hứa năm xưa
bỏ mặc « tiền đồn của thế giới tự do »
thất thủ

kẻ thù đưa tôi lưu đày biệt xứ
rồi khua chiêng gióng trống ăn mừng
đám trí thức, sinh viên, học sinh
xưa trốn vô bưng
mơ một thiên đường trên trái đất
nay ngồi trên khán đài nghếch mặt
« Thiên đường đang ở trong tầm tay »
Má Hai
xưa đào hầm nuôi cán bộ
nay hớn hở
« Tụi nó dzià mình chắc có tương lai »
bà Tám con chết trận Đồng Xoài
hãnh diện lãnh bằng gia đình liệt sĩ
những nhà văn, nhà thơ, xưa chống « cuộc chiến tranh phi lý »
(đâm sau lưng người lính Cộng Hoà )
nay chìa bút ra
xin viết bài ngợi ca chế độ mới
đám thanh niên xưa trốn chui trốn nhủi
ở hậu phương
xanh mặt khi nghe nhắc tới chiến trường
nay tự nhận đã yêu thầm cách mạng
những người dân bình thường
xưa gặp lính khi ghét khi thương
lúc buồn ngồi chửi đổng
« Tao chửi cả thằng Tổng Thống
xá gì lính tráng tụi bay »
nay cũng ngập ngừng vỗ tay
nhưng mắt nhìn quanh lấm lét
họ chưa có câu trả lời dứt khoát
muốn đợi một thời gian

sau vài năm
cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật
đã đầy nước mắt
và những tiếng nấc nghẹn ngào
đám trí thức vô bưng năm nào
tức giận thấy mình bị bội phản
buông lời phản kháng
kẻ vô khám Chí Hoà
người bị quản thúc tại gia
đưổi gà cho vợ
thiên đường ước mơ sụp đổ

má Hai
đã quen dần với bo bo, với sắn với khoai
như người dân miền Bắc
những cán bộ xưa má nuôi trong hầm bí mật
đã ra lệnh bắt má mấy lần
má không đủ ăn
lấy đâu đóng thuế

bà Tám ôm tấm bằng Gia Đình Liệt Sĩ
bụng đói meo
làng trên xóm dưới ai cũng nghèo
tình người hiếm hơn hồi đó
bà ra mộ con ngồi nhổ cỏ
khóc thầm

những văn nhân
một thời phản chiến
« ngộ biến tòng quyền »
cố bẻ cong ngòi bút
nhưng với văn thơ, với nhạc
quen phóng túng tự do
sao chịu nổi gông xiềng
lại tiếc những ngày trời rộng thênh thang
muá bút

đám thanh niên hèn, khoác lác
tưởng được chế độ mới tin dùng
bị đi lao động quốc phòng
thanh niên xung phong
làm việc không công nơi rừng sâu nước độc
cháy da vàng mắt
đói lòng

những người dân
xưa chửi vung chửi vít
nay im thin thít
chẳng dám hé môi
một số kẻ lỡ lời
bị đi « tù không án »
khi cán bộ xưng tụng bác Hồ, ca ngợi Đảng
họ cao giọng hoan hô
vỗ tay thật to
nhưng bụng thầm ao ước được sống lại những ngày xưa cũ

sau ba mươi tháng tư, đớn đau tủi hổ
là gia đình người lính Cộng Hoà
kể bị cướp nhà
người bị cướp đất
con bị đuổi học
vợ mất sở làm
chồng đi tù biệt tăm
đi họp, cán bộ Cộng Sản mỉa mai nhiếc móc
ra đường bị lườm dọc nguýt ngang

đến khi ruộng vô tập đoàn
gạo vải sữa đường bán theo tiêu chuẩn
nhà máy công ty hãng xưởng
trờ thành quốc doanh
công an khu vực đầy quyền hành
thực thi chính sách nhân hộ khẩu
người dân chịu đời không thấu
mà chẳng dám than vãn kêu ca
bấy giờ gia đình người lính Cộng Hoà
mới nhận được những tia nhìn thiện cảm
nghĩ đến con, đến chồng, đến cha
trong nhà tù Cộng Sản
họ hãnh diện ngẩng đầu

hôm nay giữa trời cao
được thấy lá Vàng Ba Sọc Đỏ
phất phới bay trong gió
tôi muốn khóc thật to
tôi muốn hét lên
« Đây Hạnh Phúc ! Đây Tự Do ! »
Mà thuở nào tôi đã buông tay đánh mất
để phải chôn tháng năm tươi đẹp nhất
của cuộc đời
trong các trại tù rải rác khắp nơi
trên đất nước
họ hàng tôi, đồng bào tôi
những ai không đi được
mấy chục năm trường
gánh chịu đau thương
uất hận tủi hờn
nhìn quê hương tan nát
mẹ Việt Nam ơi ! Những đứa con lưu lạc
đã nhận rõ lỗi lầm
đang đấu tranh âm thầm
cho một ngày quang phục

sẽ còn nhiều khó nhọc
để dành lại giang san
từ tay bọn Cộng Sản tham tàn
nhưng kìa ! Phất phới bay trong gió
vẫn như ngày nào
lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ
mà sao hôm nay chính nghĩa sáng ngời
chẳng cần một lời luận bàn lý giải

tôi đứng lặng nhìn, lòng khoan khoái
lá cờ vẫn còn đây
thì quê hương ơi ! Sẽ có một ngày.

Phạm Đức Nhì
Viết tại San Leon sau một lần dự lễ dựng kỳ đài tại Houston

29 thg 8, 2012

Chuyện thuở giao thời


Tiểu Tử

Tháng 3, rồi tháng 4 năm 1975, thiên hạ chạy di tản rần rần từ miền trung vào trong nam, rồi từ đất liền « chạy » ra biển, nhốn nháo hỗn loạn chẳng biết « trời trăng » gì hết,..chỉ có một ý nghĩ rõ rệt ở trong đầu là « Ở lại với tụi nó là chết ! ». Vậy rồi giai đoạn di tản đó chấm dứt vào ngày 30 tháng 4…

…Giữa tháng 4, một thằng bạn gọi điện thoại cho tôi, nói : « Mầy đừng đi di tản. Ở lại đi ! Không có sao hết ! Tao bảo đảm ». Thằng nầy làm lớn trong « Tổng Nha », nó nói « chắc như bắp » ! Lại một thằng bạn khác – thằng này người Pháp, làm việc ở sứ quán Pháp – nói trong điện thoại, giọng rất bình thản : « Mầy đừng đi đâu hết ! Mọi việc đều đã thoả thuận trước rồi ! Yên tâm ! ». Riêng tôi, tôi nghĩ : « Mình làm việc cho hãng dầu ngoại quốc trực thuộc hãng quốc tế SIPC ( Shell International Petroleum Company – Anh Quốc ) chắc không sao ! ». Vậy là tôi quyết định ở lại…

…Ngày 30 tháng tư năm 1975 ! Việt cộng vào « đớp » hết, công tư gì cũng đớp hết, thượng vàng hạ cám gì cũng đớp hết. Họ gọi hành động đó bằng một danh từ nghe cũng…văn chương :« Tiếp Quản ». Không biết hai thằng bạn tôi kể ở trên có…tức hộc máu hay không khi thấy mình bị gạt dễ dàng như con nít ? Riêng tôi, tôi thấy như tôi từ trên trời rơi xuống, thấy những gì xưa nay mình học, mình hỏi, mình hiểu biết, mình suy luận v.v…đều sai bét đối với « cái gọi là cách mạng » !

Hãng dầu tôi làm việc bị tiếp thu bởi…«ê-kíp » có bí số K7. Những người nầy mặc đồ đen đội mũ tai bèo đen. Mấy tay có vẻ « xếp » mang túi dết ngang hông và bao súng lục nằm…sau đít ! Họ chiếm kho dầu Nhà Bè và văn phòng trung ương ở đường Thống Nhứt. Hai hôm sau, có tin bộ đội vào kho Nhà Bè « vít » K7 ra ngoài, vì kho dầu không thuộc quyền quản lý của mấy cha K7. Vậy là trong cái tổ chức rất là…« cách mạng » nầy, cái « đầu não » của công ty không còn dính với cái thân mình là kho dầu nữa ! Phải nói thiệt : tôi làm việc cho hãng dầu hơn 19 năm, đã đi thăm viếng nhiều hãng dầu ở các quốc gia khác, nhưng chưa thấy một tổ chức hãng dầu nào…khùng như vậy !

Qua sáng ngày thứ ba, tôi được chở xuống kho Nhà Bè để hướng dẫn một ông tướng VC đi viếng kho ( Có lẽ mấy tên « nằm vùng » đã cho bọn « cách mạng » biết rằng tôi…rành kho dầu này lắm ! ) Đến kho, tôi được « ông » bộ đội xếp kho cho biết ông tướng là « xếp » cục hậu cần. Tôi tưởng tượng sẽ gặp lão ta với bộ quân phục thẳng nếp và một ngực mề đai như thường thấy ở mấy tướng các nước cộng sản !

…Xe ông tướng đến. Bước xuống là một người cao lớn mặc bộ đồ « xá xẩu » tàu bằng lụa màu ngà, đội nón Panama trắng, miệng ngậm ống đót có điếu thuốc đang cháy dở. Được giới thiệu, ông ta không bắt tay tôi, chỉ gật nhẹ đầu, nói :« Ta đi thôi ! ». Tôi lưu ý ông ta đừng hút thuốc trước khi vào kho. Ổng gạt bỏ mẫu thuốc nhưng vẫn ngậm ống đót trên môi…

Kho Nhà Bè lớn lắm. Ngoài bốn cầu tàu chiếm hết mặt sông, trên bờ có khu bồn chứa và các khu nhà máy trộn nhớt, trộn hoá chất, sản xuất thùng thiếc 20 lít đựng dầu hôi, châm dầu vào thùng 200 lít, nhà máy nhựa đường.v.v…

« Phái đoàn » đi viếng gồm có ông tướng, hai người hộ vệ và xếp kho. Vì kho dầu không làm việc nên tôi chỉ đưa họ đi…phớt phớt vòng ngoài các khu nhà máy. Tôi có ý đợi họ đặt câu hỏi, nhưng không nghe cha nào nói một tiếng. Sau nầy, tôi mới biết rằng ngoài bắc không có những gì chúng tôi có ở trong nam, cho nên họ không biết…khỉ gì để mà hỏi !

Đến khu bồn chứa, bỗng ông tướng chỉ một cái bồn, hỏi : « Cái bể nầy bao nhiêu khối ? ». Tôi trả lời : « Mười lăm ngàn m3 ». Hỏi : « Mỹ nó làm cho các anh đấy à ? ». Trả lời : « Không có thằng Mỹ nào vô đây hết ! Toàn là dân Việt Nam thực hiện ».

Nghe vậy, lão ta cười khẫy : « Làm gì có ! Ở ngoài ta, trên 2000 khối là phải ông Liên Xô hay ông Trung Quốc thực hiện cơ ! ». Cái cách thằng chả nghi ngờ lời tôi nói đã chạm mạnh tự ái của tôi, đồng thời cũng cho tôi thấy rằng miền bắc của mấy chả nó dở ẹc hà ! Tôi nhấn mạnh : « Tất cả ba mươi mấy cái bồn nầy, lớn nhỏ gì cũng do nhà thầu thực hiện với thầy thợ hoàn toàn người Việt.)) Tôi đưa mấy người đến xem cái bồn mới làm xong cách đây mươi hôm. Đó là cái bồn lớn nhứt kho Nhà Bè, 30000 m3, do nhà thầu Việt Nam EVS thực hiện, nó lớn bằng nửa cái sân banh !. Từ đó, mấy chả làm thinh luôn cho đến về văn phòng để họp với mấy anh em cấp chỉ huy cũ theo ý muốn của ông tướng !

Sau khi nghe mấy anh em lần lượt trình bày lý lịch, cấp bậc, phần việc và lương bổng của mình, ông tướng nói : « Các anh yên tâm : Đảng và Nhà Nước sẽ trả lương các anh y như cũ. Cứ yên chí phục vụ ! ». Nghe giọng ông ta rất tin tưởng vào những gì ổng nói, mình cũng thấy tin tưởng theo…

…Thời gian sau, hãng dầu đường Thống Nhứt được mang tên « Công Ty Xăng Dầu Khu Vực Hai ». Hỏi « Khu Vực Một » ở đâu thì được trả lời « Chưa có, nhưng đã có Tổng Công Ty ở Hà Nội » ! Cách mạng có khác !

Rồi là « xếp thang lương », nghĩa là mỗi ngành mỗi nghề đều được xếp cấp bậc trên từng thang lương, từ đó lãnh lương mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ nửa lương. Tôi được xếp « kỹ sư bậc 2 trên 6 », nghe…khoẻ re. Thang lương có 6 bậc mà mình nằm gần trên đĩnh rồi, họ cũng biết…chấm điểm đó chớ ! Ai dè khi lãnh lương mới…té ngửa : mấy chả xếp thang lương ngược , hạng nhứt là bậc 6 nằm trên hết, rồi tuột lần xuống dưới chót là hạng một. Tôi bậc 2 trên 6, là hạng…áp chót ! Mẹ !…

Tôi lãnh 80 đồng tiền mới ( Vậy là thằng cha tướng Tổng Cục Hậu Cần đã nói láo ! ) Bực mình, chạy đi gặp thủ trưởng, ảnh nói : « Trời đất ! Bác Hồ chủ tịch nước mà chỉ lãnh có 200 đồng. Còn anh, anh lãnh tới 80 đồng còn muốn gì nữa ? ». Thấy thằng chả đem « Bác Hồ » ra…làm chứng, tôi biết có cãi cũng vô ích. Rồi tôi nhớ ra là anh tài xế cũ của tôi bây giờ lãnh 90 đồng, tôi…đánh đòn chót : « Vậy thôi anh cho tôi làm tài xế, đi ! ». Thằng chả cười, thấy như tôi sao quá khùng, nên vừa lắc đầu vừa trả lời : « Đâu được ! Anh là Kỹ Sư đâu làm tài xế được ! ». Tôi làm thinh, bước ra khỏi văn phòng thủ trưởng mà thấy như mình từ trên trời rơi xuống !

* * *

…Tôi « chịu trận » với cái gọi là « cách mạng » hết ba năm. Vượt biên thất bại hết ba lần, qua lần thứ tư đi thoát, để bây giờ – ba mươi mấy năm sau – ngồi viết mấy dòng nầy nhân ngày 30 tháng tư thứ 37…mà thấy không phải tôi đã từ trên trời rơi xuống, chính mấy thằng cha « cách mạng » mới là từ trên trời rơi xuống !

Tiểu Tử

12 THÁNG ANH ĐI