4 thg 7, 2009

Tháo ngòi nổ Trung cộng - Đài loan, tạo nên áp lực nặng đối với Việt nam


Lý Đại Nguyên

Vào đầu thập niên 70 của Thế Kỷ 20, khi Hoa Kỳ trao chiếc ghế Hội Viên Thường Trực của Hội Đồng Bảo An LHQ từ tay Trung Hoa - Đài Loan sang tay Trung Cộng – Hoa Lục, mà trước đó, nước này vốn sinh hoạt ngoài tổ chức LHQ, thì nước Mỹ cũng ban hành một đạo luật cung cấp phương tiện và khí tài cho Đài Loan, để hòn đảo này có thể tự bảo vệ mình. Đồng thời sẵn sàng tiếp sức với nước này khi bị một nước khác dùng sức mạnh quân sự để tấn công, hoặc đe dọa. Như vậy là Hoa Kỳ vừa thiết lập hòa bình với Trung Cộng, nhằm chấm dứt cuộc chiến Việt Nam, vừa cài lại Á Châu một ngòi nổ chiến tranh thường trực giữa eo biển Trung, Đài, mà Hoa Kỳ có thể danh chính ngôn thuận, hợp pháp đem quân vào can thiệp, nếu Trung Cộng phát động chiến tranh thôn tính Đài Loan.

Cũng từ đó, Trung Cộng chính thức thoát ra khỏi chiếc bóng của Liên Xô trên chính trường thế giới. Có cơ hội mở rộng bang giao, tiếp nhận đầu tư quốc tế, đổi mới kinh tế để trở thành một nhà nước độc đảng, độc tài cộng sản, lấy chủ nghĩa dân tộc đế quốc Đại Hán làm mục đích, lấy công ty quốc doanh làm chủ đạo cho kinh tế thị trường, biến cộng đảng thành một công ty tư bản man rợ cực quyền. Tuy thế đời sống người dân vùng kỹ nghệ đã được cởi mở, Nhưng lại đã phân hóa xã hội Trung Hoa giữa thành thị và nông thôn ra 2 thế giới giầu nghèo quá chênh lệch. Thời đó Quốc Dân Đảng di tản từ lục địa ra nắm quyền tại Đài Loan thường xuyên nêu cao danh nghĩa sẵn sàng “Quang Phục Trung Hoa”. Tuy là một xứ nhỏ, nhưng nhờ cuộc chiến Việt Nam, với chương trình viện trợ đối giá của Mỹ, dùng hàng hóa Đài Loan, Nhật Bản cung cấp cho thị trường Việt Nam, bởi thế khối lượng Mỹ Kim khổng lồ viện trợ cho chiến tranh Việt Nam không vào tay người Việt, mà lại ào ào đổ vào tay người Nhật, người Đài, khiến cho nền kinh tế của họ mới mau cất cánh thành những con Rồng Châu Á.

Kinh tế Đài Loan càng phát triển mạnh, thì họ càng phải mua đủ loại vũ khí tối tân của Mỹ để phòng thủ. Đây được xem như gian hàng triển lãm các đợt vũ khí mới, mà Mỹ muốn giới thiệu với thế giới, không cần tới cuộc chiến như ở Đệ Nhị Thế Chiến, chiến Tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Vùng Vịnh. Trung Cộng không thể để thua kém, nên một phần lớn lợi nhuận thu được nhờ kinh tế thị trường nửa vời, họ cũng đổ vào việc hiện đại hoá quân đội, trang bị vũ khí, chế tạo cả ngàn hỏa tiễn hướng vào đe dọa Đài Loan, và cố vuơn lực lượng hải quân ra đại dương, khiến cho cả thế giới lo ngại. Nhật, Ấn, Úc trở thành đồng minh chiến luợc của Mỹ. Các nước chung quanh Trung Cộng buộc phải đề cao âm mưu bành trướng Bắc Kinh. Nhất là 8 năm Đài Loan nằm dưới quyền lãnh đạo của tổng thống Trần Thụy Biển thuộc đảng Dân Tiến của những người gốc thổ dân Đài Loan, họ luôn luôn đòi Đài Loan được độc lập, nên bất cứ lúc nào chiến tranh Trung – Đài cũng có thế bùng nổ. Trong khi đó ngày 22/05/08, sau khi vừa đắc cử tổng thống Nga, Dmitry Medvedev liền sang Bắc Kinh gặp Hồ Cẩm Đào lãnh tụ Trung Cộng ký một thông cáo chung lên án kế hoạch“Lá Chắn Hỏa Tiễn Phòng Thủ” của Mỹ ở Âu Châu, khiến cho tình thế thêm căng thẳng.

Nhưng sau cuộc tổng tuyễn cử tháng 03/2008 của Đài Loan, ông Mã Anh Cửu thuộc Quốc Dân Đảng được bầu vào chức tổng thống Đài Loan, và chính thức nhận chức ngày 20/05/08, thì tình thế đã lật ngược. Không còn chủ trương quang phục như cha anh, không đòi độc lập như đảng Dân Tiến, mà giữ nguyên trạng để 2 bờ eo biển tương tác, hợp tác cùng phát triển. Trước đó một cuộc gặp mặt lịch sử ngắn ngủi giữa Hồ Cẩm Đào với Phó Tổng Thống Tiêu Vạn Tường, mới đắc cử của Đài Loan, bên lề cuộc hội thảo doanh nghiệp khu vực trên đảo Hải Nam vào ngày 12/04/08 đã mở ra một thời kỳ mới cho quan hệ giữa Trung – Đài. Dịp này phó ngoại trưởng Mỹ, John Negroponte cho rằng cuộc gặp giữa 2 ông Hồ-Tiêu là bước tiến tốt. Ngày 13/06/08, các nhà thương thuyết Trung Cộng và Đài Loan đã đặt bút ký một thỏa thuận thực hiện các chuyến bay trực tiếp giữa 2 miền địch thủ lâu dài. Bắt đầu từ ngày 04/07/08. Trần Vân Lâm đại diện Trung Cộng vả Giang Bỉnh Khôn đại điện Đài Loan cùng nâng ly sâm banh để ăn mừng. Báo Washington Post đưa tin: “Kế hoạch của Hoa Kỳ nhằm bán cho Đài Loan nhiều tỉ đô la vũ khí đã bị đình trệ.”

Thế là ngòi nổ chiến tranh Trung, Đài, ở đó có tính hợp pháp với Mỹ, buộc Mỹ phải đem quân can thiệp ở Châu Á khi binh biến, đã bị người Trung Hoa ở 2 bên eo biển chủ động tháo gỡ. Trong khi đó Trungcông thực hiện chủ trương hòa giải với 2 nước Đông Bắc Á là Nam Hàn và Nhật Bản. Nhật, Trung ngày 16/06/08 đã đạt được một thỏa thuận và đồng ý khai thác các mỏ khí đốt và chia lợi nhuận trong khu vục đang trong vòng tranh chấp tại biển Đông Trunghoa. Trong khi đó thì Trung Cộng thiết lập một quân cảng nguyên tử khổng lồ tại cực Nam đảo Hải Nam, có sức chứa tới hàng chục tầu ngầm nguyên tử, để khống chế toàn vùng Đông Nam Á. Khiến Tư Lệnh Thái Bình Dương, Đô Đốc Timthy J. Keating phải lên tiếng báo động, sự tranh giành các tài sản năng lượng trong vùng biển Đông là mới quan ngại. Ông nói với báo Financial Times: “Chúng tôi muốn bảo đảm rằng các nước có thể có lợi ích trong đó, nên hiểu, vùng biển Đông có những luật lệ thành văn và bất thành văn. Các bạn không thễ chỉ ra đó, đấm ngực và tuyên bố, tôi có quyền khai thác mỏ ngay tại chỗ này”. Trong cuộc họp Thượng Đỉnh An Ninh Á Châu mới đây, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, Robert Gates cũng chứng tỏ, nước Mỹ không quay lưng lại với an ninh trong vùng.

Trong khuynh hướng Trung Cộng bành trướng sức mạnh quân sự về vùng Đông Nam Á, thì Việt Nam là nước trực tiếp bị đe dọa, vì thềm lục địa Việt Nam có một trữ lượng dầu hỏa rất lớn, mà Trung Cộng đang khống chế Việt Cộng quá chặt, nên các công ty thăm dò Mỹ và Tây Phương chưa thấy có sự đảm bảo an ninh bền vững, họ chưa vội đưa dầu ra khỏi mỏ. Chừng nào Hoa Kỳ chưa bảo đảm được an ninh cho các công ty khai thác, thì Việt Nam chưa thể là một Quốc Gia Dầu Hỏa trong vùng. Cuộc Mỹ du của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay, có đến gặp các ông vua dầu lửa của Mỹ, và các nhà đầu tư Mỹ thì đó cũng chỉ là xã giao. Họ có chịu lập tức đổ vốn vào cứu nguy cho nền kinh tế Việt Nam hay không? Còn tùy ở chính phủ Mỹ có bảo đảm được an ninh trước sức ép về quân sự, chính trị của chủ trương “tàm thực” kiểu Trung Cộng hay không?. Phải thành thât, can đảm mà nhận rằng: Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, chỉ có sức mạnh toàn dân, cùng với sự hỗ trợ trực tiếp về an ninh của Mỹ và Thế Giới Dân Chủ, mới hy vọng chận được sức bành trướng của Trung Cộng tại Việt Nam mà thôi.

Hoa kỳ từng bước rút khỏi Iraq - Trung cộng từng bước xâm chiếm Việt Nam


Lý Đại Nguyên

Sau sáu năm, Hoa Kỳ đem quân vào Iraq lật đổ chế độ độc tài Saddam Hussein, để nhận chịu cuộc chiến chống khủng bố, trộn lẫn cuộc nội chiến giáo phái tàn nhẫn nhầy nhuạ, tưởng chừng không lối thoát. Nhưng nay, ngày 30/06/09, binh lính Mỹ đã có thể rút khỏi các thành thành phố và thị trấn, trao trách nhiệm bảo đảm an ninh cho lực lượng an ninh non trẻ của chính quyền dân chủ Iraq, theo đúng với kế hoạch dự trù là những hoạt động quân sự của Hoa Kỳ sẽ kết thúc vào cuối tháng 9 năm 2010 và toàn bộ lính Mỹ sẽ rút khỏi Iraq trước cuối năm 2011.

Tư lệnh quân đội Mỹ tại Iraq, Đại Tướng Ray Odierno tuyên bố: “Nỗ lực phối hợp của chúng tôi sẽ thành lập một hệ thống phòng thủ thành nhiều lớp. Trong khi quân đội Iraq bảo vệ các thành phố thì lực lượng chiến đấu của chúng tôi cùng với lực lượng an ninh Iraq bảo vệ các vòng đai biên giới trong một nỗ lực tiêu diệt các sào huyệt, các nơi ẩn nấp và hạn chế đi lại của các phần tử nổi dậy”. Tướng Odierno nói tiếp: “Hôm nay là một trong những chỉ dấu cho tôi hy vọng là, Iraq có thể tiến tới một quốc gia an ninh. ổn định, có chủ quyền, và Iraq có thể là một đối tác lâu dài với Hoa Kỳ tại Trung Đông với một chính phủ dân chủ”. Chính quyền Iraq tuyên bố: Ngày 30/06 là Ngày Chủ Quyền Quốc Gia. Quân đội diễn hành trên các đường phố Baghdad. Dưới mắt người dân Iraq, nước Mỹ từ một kẻ xâm lăng, từng bước rút quân khỏi Iraq để đổi thành nước hợp tác.

Trong khi đó Trung Cộng đối với Việt Nam thì từ “láng giềng tốt, đối tác tốt”, từng bước tiến hành xâm lăng toàn diện Việt Nam. Một cuộc xâm lăng không tiếng súng, mà bằng ngay sự lệ thuộc hèn mạt của bọn Mancộng đang cầm quyền tại Việt Nam. Theo tài liệu chép lại từ băng ghi âm của cuộc họp giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam của Trung Cộng và Tổng Cục II của Việt Cộng, do Ninh Cơ phiên dịch từ tiếng Tầu sang tiếng Việt, được Tin VN06/27/09 sáng, loan tải. Dù tài liệu này chưa thể, hay không thể kiểm chứng, nhưng xét về nội dung và thực tế diễn biến đang xẩy ra tại Việt Nam thì không chối cãi được rằng, Trung Cộng đang từng bước “Hợp Nhất Trung Hoa Việt Nam là Một”, đúng như tinh thần của bản tài liệu tối mật này. Theo viên tư lệnh Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam, họ Lương, chủ trì đại hội tình báo Trung Cộng - Việt Cộng tuyên bố: “Với tư cách Chính Ủy được đề cử chủ trì hội nghị tôi xin tóm tắt vài điều cần thiết. Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có và không hề có chuyện Trung Quốc thôn tính Việt Nam”.

Nhưng ngay sau đó hắn cao giọng dọa nạt, đổi từ ý nghĩa thôn tính sang kêu gọi Việt Nam ‘trở về’ là một với Trung Hoa: “Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại. Đi với Mỹ chăng? Thì các đồng chí chạy đi đâu? Trở về với tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm hoạ của bọn dòi bọ đang tích cực phản công, nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, các đồng chí không được ngồi ở bàn giấy trong công thự, mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật khủng khiếp! Vì thế, chúng ta phải chiến đấu hết mình cho sự tồn tại của chúng ta, cho con cháu chúng ta, tương lai của chúng ta, của con cháu chúng ta. Quyết không để lọt vào tay kẻ khác. Lũ dân chủ dòi bọ ấy có cả ở Trung Quốc. Tôi thừa nhận điều đó. Nhưng chúng tôi thẳng thắn trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt Nam tình trạng có khác. Chúng hung hăng lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu kiên quyết. Nếu ở Trung Quốc có một Thiên An Môn, thì tại sao Việt Nam không có một cái tương tự? Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng, Trung Quốc sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí, một khi có sự biến đe dọa quyền lợi của các đồng chí, để bảo vệ các đồng chí, Trung Quôc không thiếu xe tăng dĩ chí trong vài Thiên An Môn. Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí (Nông Đức Mạnh) xem Hồ đồng chí (Hồ Cẩm Đào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi”.

Hắn tiếp tục dẫn chứng: “Việt Nam trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. Trung Quốc và Việt Nam là một. Đó là chân lý đời đời. Đó là lời của Hồ đồng chí ( tức là Hồ Chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng cộng sản Trung Quốc. Hồ đồng chí tôn kính còn dậy ‘Trung Quốc, Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh’. Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong một cơ thể. Nông đồng chí (Nông Đức Mạnh) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gỡ các đại biểu Quốc Vụ Viện. Mà người Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. Hắn khoe thêm rằng: “Ngày nay, Trung Quốc vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có Việt Nam nhập vào Trung Quốc đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại. Thế giới hôm nay chỉ còn lại hai siêu cường. Đó là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Con hổ giấy Hoa Kỳ”.

Ngày xưa đế quốc cộng sản Liên Xô cũng từng nói Hoa Kỳ là con hổ giấy, nhưng ‘con hổ giấy ấy lại bằng đô la’ nên nó đã đốt tiêu luôn hệ thống cộng sản quốc tế do đế quốc Liên Xô cầm đầu. Ngày nay, con hổ giấy đô la đó vẫn lại bện thành một sợ giây thòng lọng vô hình bền chắc, cuốn quanh cổ con khủng long Trungcộng, thắt hay mở đều nằm trong tay Mỹ. Giới lãnh đạo Trungcộng đều biết, sở dĩ Trungcộng được như ngày nay, là nhờ ở chính sách giai đoạn ‘nuôi đối tượng’ của Mỹ, trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, mà chưa đạt đúng mức Dân Chủ Hóa Toàn Cầu. Tiếc rằng, chính quyền Cộng Hòa Bush đề ra chủ trương Dân Chủ Hóa Toàn Cầu vào đúng thời điểm, chiến tranh Iraq bế tắc, nền kinh tế Mỹ đổ dốc, không còn được dư luận Mỹ quan tâm. Nên chủ trương Dân Chủ Hóa Toàn Cầu chỉ còn là một mớ lý thuyết suông. Vì chính sách nuôi độc tài Trungcộng nguy hiểm trước nay của Mỹ, mà Việt Nam và các nước nhỏ trong vùng trở thành nạn nhân của chủ trương bành trướng của Trungcộng. Trungcộng thừa biết rằng kể cả về mặt kinh tế lẫn quân sự, họ chưa là đối thủ của Mỹ. Nhưng họ lợi dụng việc Mỹ cấm vận Miến Điện đã ôm được Quân Phiệt Miến vào tay. Lợi dụng bọn Việt Cộng sợ mất quyền khi Việt Nam đi vào Dân Chủ Hóa, nên đã sai xử được bọn cầm quyền Hànội, tuyệt đối bưng bít thông tin, tiêu diệt luôn tinh thần độc lập dân tộc, đề kháng với đế quốc Tầu của toàn dân Việt Nam, để đồng hóa Việt Nam là một với Tầu. Đúng như ý của viên tư lênh Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam. Nếu Việt Nam hợp nhất với Trung Hoa thật sự, thì toàn vùng Đông Nam Á sẽ là của Trungcộng, lúc đó dù Mỹ có mạnh tới đâu, cũng đành phải đứng ngõ ngoài mà cắn móng tay để nhìn thôi. Trước mắt, người Việt trong và ngoài nước đang đứng trước một sự thách đố sinh tử đây!

Lời Thông Điệp Gửi Mai Sau



Đinh Hùng

Anh vẫn còn yêu em, kiếp sau
Vầng trăng về núi sẽ quay đầu
Bóng em trên những vì sao lạ
Sẽ ngả dài qua thế kỷ sâu.

Những dáng tinh vân lạc biển hồn
Chưa phai thần tích gót chân son.
Anh xin ngủ giữa lòng nham thạch
Nghe tiếng em cười dậy hỏa sơn.

Anh gọi em từ mỗi tế bào
Nhập hồn linh điểu, cánh ca dao
Lượn theo chiều máu, lời thông điệp
Thể xác bay cùng nhạc vút cao.

Ôi những mùi hương sắp lãng quên
Và em chưa thực đã hư huyền!
Nụ hôn tuyệt vọng hằn thương tích
Giông bão hàng mi vẫn ngủ yên.

Những ngón tay xưa còn vọng âm
Không gian trầm nhịp thở Hồ cầm
Tiếng vang hậu kiếp rung hình bóng
Điệu hát quen từ biển gọi thầm.

Rồi những lời mê, những ý say
Sẽ ghi lên đá, khắc vào cây
Và khi em nhập vào cây cỏ
Hồn sẽ tan trong nét nhạc này.

Anh nói lời hoa lá thuở đầu
Mây đưa ngoài thể chất mai sau
Hỡi em, gương mặt hờn trăng khuyết
Quyền phép hai ta hết nhiệm mầu.

3 thg 7, 2009

Ðừng sợ, Trung Quốc sắp khốn đốn lớn


Nguyễn Gia Kiểng - Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt Online

LTS: Ông Nguyễn Gia Kiểng từng giữ chức phụ tá tổng trưởng kinh tế (1974 - Tháng Tư 1975). Sau đó ông bị tù Cộng Sản 4 năm rồi sang Pháp định cư. Ông là thành viên sáng lập của Tập Hợp Dân Chủ Ða Nguyên có trụ sở chính tại Paris. Dưới đây là bài phỏng vấn của biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái với ông Nguyễn Gia Kiểng xoay quanh vấn đề về mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian gần đây.

- Người Việt: Trung Quốc ngày càng ngang ngược với Việt Nam: cấm ngư dân Việt Nam đánh cá, đưa công nhân vào khai thác bauxite tại cao nguyên, và mới đây, hàng trăm công nhân Trung Quốc võ trang dao gậy hành hung người Việt tại cao nguyên. Tình hình này do lỗi của ai?

- Ông Nguyễn Gia Kiểng: Việc các xí nghiệp Trung Quốc cho công nhân hành hung dân cư chung quanh vẫn thường xảy ra tại Trung Quốc, đôi khi còn hung bạo hơn. Ðây không phải là một vấn đề chính trị mà chỉ là một thói quen của người Trung Quốc. Vấn đề là họ đang ở Việt Nam. Ðáng lẽ chính quyền Việt Nam đã phải có biện pháp thích đáng.

Về việc Trung Quốc cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên biển Ðông, cần phân biệt rõ ràng hai mặt kỹ thuật và thẩm quyền. Cấm đánh cá một thời gian mỗi năm để cho phép nguồn hải sản tái tạo là điều đúng; tuy nhiên cấm đánh bắt ở những nơi nào, vào lúc nào, đối với loại hải sản nào, trong thời gian bao lâu v.v... phải là một thỏa ước chung giữa các nước chia sẻ biển Ðông chứ không thể do một nước đơn phương áp đặt. Tại Châu Âu cũng có những qui định rất chi tiết về đánh cá trên Ðại Tây Dương nhưng là qui định của cả Liên Hiệp Châu Âu. Trung Quốc đã cư xử ngang ngược với thái độ của một thượng quốc. Ðáng chú ý là thái độ của Trung Quốc và Việt Nam trong vụ này. Sau khi hải quân Trung Quốc bắt giữ, đánh đập và phạt tiền ngư dân Việt Nam theo quyết định đơn phương của họ thì, theo chính lời người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Hà Nội, phía Việt Nam đã chỉ “giao thiệp” và “đề nghị” Trung Quốc không ngăn cản ngư dân Việt Nam và phía Trung Quốc đã trả lời ngắn gọn rằng việc cấm đánh cá trong mùa Hè là cần thiết. Không khác gì một lời mắng mỏ, “cấm là đúng, các người ngu quá hay sao mà không hiểu?” Và Việt Nam im lặng. Bắc Kinh đã cư xử như một thượng quốc và Việt Nam đã cư xử như một thuộc quốc. Trước đây Trung Quốc đã từng làm như vậy đối với Philippines, chính quyền Philippines đã phản ứng quyết liệt và Trung Quốc đã nhượng bộ. Philippines không có thái độ của một thuộc quốc nên đã không bị đối xử như một thuộc quốc.

- Người Việt: Như ông nói, Bắc Kinh đã cư xử như một thượng quốc và Hà Nội đã cư xử như một thuộc quốc, đồng bào Việt Nam trong và ngoai nước nên có thái độ nào với Trung Quốc?

- Ông Nguyễn Gia Kiểng: Trước hết là thái độ không nên có: đó là thái độ bài Hoa, thù ghét người Trung Quốc. Trung Quốc và chúng ta là hai nước láng giềng có nhiều gắn bó về chủng tộc và văn hóa, một quan hệ hữu nghị và hợp tác chỉ có thể có lợi cho cả hai dân tộc. Ngược lại, một quan hệ thù địch tạo một tình trạng căng thẳng tai hại. Hơn thế nữa nó còn đặt hai triệu rưỡi đồng bào ta thuộc hai sắc tộc Tày và Nùng vào tình trạng rất nhức nhối vì bên kia biên giới, trong tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc còn có gần 20 triệu người Choang cũng cùng một chủng tộc với họ. Nhận xét này dĩ nhiên không cấm cản chúng ta bảo vệ những quyền lợi quốc gia chính đáng.

Trung Quốc và Việt Nam cùng theo chế độ toàn trị. Khi vấn đề dân chủ hóa chưa giải quyết được thì thái độ của chúng ta, người Việt trong nước cũng như ngoài nước, chỉ có một tác động rất giới hạn trên các diễn biến. Người Trung Quốc cũng ở trong tình trạng bất lực tương tự như chúng ta. Tuy vậy chúng ta vẫn phải có thái độ, trước hết là thái độ với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Họ không những quỵ lụy trước Trung Quốc mà còn dùng bạo lực để đàn áp những người Việt Nam yêu nước dám bày tỏ sự phẫn nộ trước những hành động uy hiếp ngang ngược của Bắc Kinh. Cô Phạm Thanh Nghiên, các anh Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Hùng, Phạm Văn Trội, Trần Ðức Thạch, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn, Nguyễn Văn Túc, Ngô Quỳnh, Nguyễn Mạnh Sơn đã bị bắt giam chưa xét xử từ gần một năm nay. Họ bị cáo buộc là đã căng biểu ngữ lên án Trung Quốc xâm lược, đồng thời đòi dân chủ. Trước đó nhiều người trong họ đã bị công an hành hung vì biểu tình ôn hòa trước sứ quán Trung Quốc. Ðây cũng là những khuôn mặt dân chủ tích cực nhất hiện nay. Chúng ta cần lên tiếng mạnh mẽ hơn nữa đòi trả tự do cho họ. Họ rất xứng đáng với sự quý trọng và sự hỗ trợ của chúng ta.

Chúng ta cũng cần tích cực vận động dư luận toàn quốc đòi nhà cầm quyền Cộng Sản đưa ra trước công luận và pháp luật quốc tế những hành động khiêu khích ngang ngược của Bắc Kinh. Ðiều đáng giận nhất hiện nay là Hà Nội cứ ngoan cố hy vọng giải quyết các mâu thuẫn qua quan hệ song phương giữa hai chính quyền mặc dù thực tế đã cho thấy chọn lựa này chỉ khuyến khích Trung Quốc leo thang trong chính sách chèn ép. Ðây chỉ là chọn lựa dại dột của một kẻ yếu không dám chống cự trước một kẻ mạnh quyết tâm chèn ép. Chừng nào mà ngay cả chính đa số đảng viên Cộng Sản cũng phản đối chọn lựa này thì ban lãnh đạo Cộng Sản sẽ phải thay đổi thái độ. Ðây là điều ta có thể vận động được.

Ðối với Trung Quốc điều mà chúng ta, người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, có thể làm, ngoài việc vận dụng mọi cơ hội để tố cáo trước thế giới chính sách lấn chiếm của Trung Quốc, là tẩy chay hàng hóa Trung Quốc. Tác dụng kinh tế đến đâu còn tùy thuộc ở sự hưởng ứng của đồng bào, nhưng điều quan trọng là bày tỏ sự phẫn nộ. Chúng ta phải hết sức minh bạch: chúng ta không hề thù ghét Trung Quốc, chúng ta chỉ phản đối sự lộng hành của những người cầm quyền Bắc Kinh và sẽ có thái độ thân thiện ngay khi Trung Quốc chứng tỏ thiện chí muốn giải quyết những vấn đề giữa hai nước trong tinh thần thỏa hiệp và tương kính.

- Người Việt: Liệu Trung Quốc có dám gây thêm một cuộc chiến với Việt Nam như năm 1979; và nếu chiến tranh bùng nổ, người Việt hải ngoại nên chọn thái độ nào để một mặt, chung sức cùng đồng bào trong nước chống quân xâm lược, mặt khác không bị mang tiếng là tiếp tay cho chế độ Cộng Sản hiện nay?

- Ông Nguyễn Gia Kiểng: Giữ nước là nhiệm vụ tối thượng, ngay cả nếu cần phải tiếp tay cho chính quyền Cộng Sản. Chế độ này rồi sẽ qua đi, không nên vì ghét nó mà làm ngơ trước những thiệt hại không thể đảo ngược được cho đất nước. Tuy vậy tôi nghĩ là sẽ không thể có một cuộc chiến Việt-Trung như năm 1979, ngay cả ở mức độ thấp hơn. Kinh tế Trung Quốc dựa vào xuất khẩu do đó Trung Quốc rất lệ thuộc vào dư luận thế giới. Hình ảnh Trung Quốc trên thế giới hiện nay đã khá xấu, một hành động gây chiến chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc bị lên án và hàng hóa bị tẩy chay. Ðừng nên quên là biện minh duy nhất của chế độ cộng sản Trung Quốc là phát triển kinh tế, kinh tế mà sụp đổ thì sẽ có bạo loạn và chế độ Cộng Sản sẽ sụp đổ theo. Trung Quốc ngày nay không còn là Trung Quốc hồi Bước Nhẩy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa nữa, nó giầu có hơn nhiều nhưng cũng dễ chao đảo hơn nhiều. Sẽ không có chiến tranh dù Việt Nam có chính sách đối ngoại thế nào đi nữa. Ngay cả việc Trung Quốc đánh chiếm các đảo còn lại của chúng ta tại Trường Sa cũng khó hình dung vì thiệt hại sẽ quá lớn so với kết quả. Ðiều tối đa Bắc Kinh có thể làm là gia tăng khiêu khích trên biển Ðông, gây trở ngại cho Việt Nam trong việc khai thác hải sản và dầu khí, đồng thời mua chuộc những phần tử xấu để làm loạn ở biên giới phía Bắc, nhưng họ cũng không thể đi quá xa mà không gây phẫn nộ trong dư luận thế giới và bị tẩy chay.

Vả lại, trái với nhận xét hời hợt của một số chuyên gia, chính quyền Bắc Kinh đang gặp rất nhiều khó khăn và sẽ ngày càng bối rối hơn nữa vì cuộc khủng hoảng kinh tế này. Xuất cảng suy sụp trong khi tiêu thụ nội địa cũng giảm đi thay vì tăng lên. Không nên mắc lừa những con số. Tỷ lệ tăng trưởng 6% hiện nay mà Trung Quốc đưa ra không có gì bảo đảm là đúng, những con số của Bắc Kinh đều rất đáng ngờ vực. Mà cho dù tỷ lệ này có đúng đi nữa tình trạng kinh tế Trung Quốc cũng vẫn rất nguy ngập nếu ta nhìn sát hơn một chút. Chỉ có nhà nước bỏ tiền dự trữ ra chứ dân chúng không mua. Tình trạng này có thể kéo dài bao lâu? Trong vòng một năm qua Bắc Kinh đã xài gần một nửa tổng số dự trữ của họ, cái gì sẽ xảy ra khi số tiền dự trữ đã cạn? Và cho dù kinh tế thế giới có sớm phục hồi như Bắc Kinh hy vọng đi nữa thì cũng không bao giờ họ có thể xuất cảng ở mức độ trước đây vì một trong những hậu quả quan trọng nhất của cuộc khủng hoảng này là từ đây phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, sẽ phải cố giữ thăng bằng cán cân thương mại và không thể nhập siêu như trước. Ðừng sợ, Trung Quốc sẽ rất khốn đốn.

Cũng cần nhìn rõ lý do khiến Hà Nội sợ Bắc Kinh. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không sợ Trung Quốc sẽ tấn công bằng quân sự, họ biết điều này sẽ không xảy ra. Họ thần phục Bắc Kinh để khỏi cô lập, họ cần dựa vào Bắc Kinh để duy trì chế độ độc tài đảng trị. Họ thừa biết họ bị nhân dân Việt Nam thù ghét.

- Người Việt: Việt Nam có hy vọng gì lấy lại được Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng đất đã mất không?

- Ông Nguyễn Gia Kiểng: Nếu chỉ lý luận trên bối cảnh địa lý chính trị hiện nay thì không. Ðiều tối đa ta có thể hy vọng là đừng mất thêm nữa. Chính sách khôn ngoan đối với Việt Nam là tiếp tục xác nhận chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa, Trường Sa và biển Ðông, nhanh chóng dân chủ hóa và hội nhập với thế giới, và chờ bối cảnh trong vùng thay đổi. Vùng Ðông Á sẽ còn chứng kiến những thay đổi rất lớn. Ðiều chắc chắn là Trung Quốc không thể tồn tại dưới hình thức hiện nay.

Dần dần cùng với trào lưu dân chủ hóa và toàn cầu hóa các biên giới chính trị hiện nay sẽ mất dần ý nghĩa và tầm quan trọng. Ngược lại, những quan hệ kinh tế và văn hóa sẽ dần dần tạo ra những liên minh mới. Trong cái nhìn này một số khối hợp tác sẽ hình thành trong và chung quanh Trung Quốc và sẽ có thực chất hơn nhiều so với các nhà nước hình thức, trong đó sẽ có một khối gồm hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, Việt Nam, Lào và Campuchia. Trong một tương lai xa hơn khối này có thể gồm cả tỉnh Quý Châu.

Trong khối này sự ràng buộc của Quảng Tây - hiện đã là một vùng tự trị - và Vân Nam - hiện đã có nhiều khu tự trị - với Bắc Kinh sẽ mờ nhạt dần. Việt Nam có vai trò trung tâm gần như tự nhiên với vị trí thuận lợi và dân số đông đảo nhất, gần một nửa dân số toàn khối. Việt Nam cũng có những ưu thế khác: bờ biển dài và tốt, kinh nghiệm tiếp xúc với các nước phương Tây, thông thạo ngoai ngữ hơn hẳn. Tiếng Việt, dù còn cần được cải thiện, cũng là một lợi khí lớn vì dễ học. Chúng ta cũng là một nước ít ảnh hưởng tôn giáo, đó cũng là một điểm mạnh. Ưu thế của Việt Nam càng mạnh nếu chúng ta trở thành một mẫu mực dân chủ và đa nguyên trong khối. Một khi khối này đã thành hình, đã có sự lưu thông tự do của người và hàng hóa trong nội bộ khối, thì vấn đề biên giới tự nó đã được giải quyết. Tóm lại thu hút Vân Nam và Quảng Tây vào ảnh hưởng Việt Nam dễ hơn là chỉ muốn lấy lại những gì đã mất.

- Người Việt: Dư luận tại Pháp, đặc biệt là chính phủ Pháp, có quan tâm đến tình hình biển Ðông và thái độ hung hăng của Trung Quốc hay không, thưa ông?

- Ông Nguyễn Gia Kiểng: Không, hoặc không đáng kể. Chính quyền Cộng Sản Việt Nam không báo động với dư luận thế giới về vấn đề biển Ðông. Vả lại Pháp ngày nay cũng chỉ còn là một cường quốc trung bình với nhiều vấn đề khó khăn của chính mình.

- Người Việt: Xin nghe ý kiến của ông về vai trò của các tổ chức đấu tranh người Việt hải ngoại trước tình hình này?

- Ông Nguyễn Gia Kiểng: Có nhiều việc cần và có thể làm lắm, nhưng muốn có vai trò nào thì phải có thực lực trước đã. Tình trạng bi đát hiện nay là số người quan tâm đến tương lai đất nước và đóng góp cho cuộc vận động dân chủ sút giảm nhanh chóng. Tâm lý bỏ cuộc lan tràn một cách thật đáng buồn. Sau khi đã loay hoay bỏ nhiều công sức cho những hoạt động cùng lắm chỉ có thể gây tiếng vang nhất thời, người ta thất vọng vì không đạt kết quả nào đáng kể và bỏ cuộc thay vì rút ra kết luận đáng lẽ phải có ngay từ đầu là không thể giành thắng lợi cho dân chủ nếu không có một tổ chức dân chủ mạnh, và một tổ chức dân chủ mạnh chỉ có thể là thành quả của một cố gắng kiên trì và thông minh trong nhiều năm. Cuộc chiến đấu gay go nhất của những người còn ý chí và niềm tin trong lúc này là chiến đấu chống chủ nghĩa bỏ cuộc. Nhưng đó là một chủ đề nằm ngoài khuôn khổ cuộc phỏng vấn này.

- Người Việt: Cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của Người Việt.

2 thg 7, 2009

Trung Quốc đang chuẩn bị quân sự cho Biển Đông


Hoàng Sa Trường Sa chuyển ngữ.

(Tác giả là Diệp Bằng Phi, bài đăng trên mạng tin tức Trung Quốc. Xin lưu ý đây là bài báo chính thức được đăng tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc)

Trung Quốc đang chuẩn bị quân sự cho khả năng Biển Đông phát sinh những thay đổi

Theo tin tức từ báo Giải Phóng Quân: Đầu tháng 6 không quân Trung Quốc đã tổ chức phân đội chiến đấu, lần đầu tiên diễn tập triển khai tiếp nhiên liệu ngay trên không để bay đến vùng biển xa, tiếp sau đó lại diễn tập thành công tổ chức biên đội chiến đấu cơ có máy bay tiếp nhiên liệu bảo trợ tuần tra viễn hải thành nhiều đợt, nhiều vòng. Đúc rút ra nhiều kinh nghiệm cho các chiến đấu cơ tuần tra viễn hải ở những vùng biển xa nhất.


Ngày 27 tháng 5 lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc tiến hành tuần tra giám sát trên đường trung tuyến giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ. Theo tin từ Tân Hoa Xã cho biết, đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đang bàn thảo việc thiết lập chuyên trách luật về bảo vệ sinh thái hải đảo, theo báo cáo Trung Quốc hiện có 3 triệu Km vuông biển, trong đó có hơn 6900 đảo có diện tích trên 500 mét vuông, và hàng vạn đảo có diện tích dưới 500 mét vuông.

Ngày 12 tháng 6 năm 2009 trong cuộc tập trận mang tên CARAT2009 tại Biển Đông, khu trục hạm Chung Vân trang bị tên lửa Mỹ Bá Khắc(美伯克) tiến hành diễn tập bắn pháo chống hạm 127 mm. Đồng thời trong thời gian này chiếm hạm Hoa Kỳ tham gia tập trận tại Philippin trở về căn cứ tại Nhật Bản đề sửa chữa thiết bị siêu âm do đã va chạm với tầu ngầm Trung Quốc.

Cuối tháng 5 hạm đội Nam Hải điều thêm tổ hợp các tầu hộ tống loại mới, khu trục hạm loại mới nhất, các tầu đổ bộ và bổ sung thêm nhiều biên đội chiến hạm tới khu vực vùng Biển Đông để tham gia tiến hành cuộc tập trận tác chiến cơ động xa bờ kéo dài 17 ngày. (Có lẽ TQ muốn chiếm Trường Sa trong 17 ngày)

Theo tin tức từ Tân Hoa Xã ngày 29 tháng 6 điện về cho biết thời báo Liên Hợp buổi sáng của Singgapor ngày 29 viết: Gần đây hải không quân Trung Quốc liên tiếp tiến hành tập trận tác chiến viễn hải, đại hội nhân dân toàn quốc Trung Quốc bàn thảo dự luật bảo hộ hải đảo, các trang mạng Trung Quốc liên tiếp có bài về chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông đang bị khiêu khích, Trung Quốc đang chuẩn bị cho những khả năng xẩy ra thay đổi tại Biển Đông.

Theo báo giải phóng quân ngày hôm qua ( 29/6) cho biết đầu tháng 6 không quân Trung Quốc đã tổ chức phân đội chiến đấu, lần đầu tiên diễn tập triển khai tiếp nhiên liệu ngay trên không để bay đến vùng biển xa, tiếp sau đó lại diễn tập thành công tổ chức biên đội chiến đấu cơ có máy bay tiếp nhiên liệu bảo trợ tuần tra viễn hải thành nhiều đợt, nhiều vòng. Đúc rút ra nhiều kinh nghiệm cho các chiến đấu cơ tuần tra viễn hải tại những nơi xa nhất.
Như trước đây bản tin quân sự của đài truyền hình Trung Ương Trung Quốc giới thiệu lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc tiến hành diễn tập quy mô trên Biển Đông, đã thu hút sự chú ý của nhiều người đam mê quân sự Trung Quốc, cho rằng khả năng bảo vệ chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc đã siêu việt, vượt hơn cả những gì trên sách vở, lựa chọn khả năng thực địa càng ngày càng lớn.

Rất nhiều các diễn đàn quân sự của Trung Quốc cũng đã dẫn thuật tuyên bố của bộ tư lệnh hải quân Thái Bình Dương Hoa Kỳ về việc hạm đội hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận quy mô lớn, bắn đạn thật trong tháng 5 tại khu vực Biển Đông. Cuộc diễn tập đã huy động 30 chiến thuyền bao gồm 12 tầu ngầm tiên tiến, cùng với sự tham gia của 3500 lính hải quân lục chiến hoàn thành các bài tập tác chiến đổ bộ lên các đảo.

Năm 2003 cục hải dương quốc gia Trung Quốc, bộ dân chính và bộ tổng tham mưu quân giải phóng liên hiệp công bố "quy định về khai thác và bảo vệ các đảo không người" bắt đầu xây dựng cơ chế cho việc quản lí hải đảo.


Các báo dẫn nguồn từ chủ nhiệm văn phòng ủy ban pháp luật về tài nguyên môi trường đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Bách Huệ Phong cho biết pháp lệnh về bảo vệ biển đảo "không can thiệp đến vấn đề chủ quyền biển đảo, là bước kế tiếp pháp luật hành chính tại chủ quyền biển đảo đã định trước đây để bảo hộ sinh thái hải đảo". Hiện nay tại Trung Quốc liên quan đến quy định luật về chủ quyền hải dương và hải đảo quốc gia có: "Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp" "tuyến bố của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa liên quan tới lãnh hải" ...

Tờ tạp chí Hoàn Cầu trong tháng này có bài viết nói: Năm nay trong khu vực xung quanh vùng biển Trung Quốc phát sinh hàng loạt sự kiện đột phát hoặc sự kiện giống như phát sinh một cách tình cờ khiến cho năm 2009 biên giới trên biển của Trung Quốc từ đầu năm bắt đầu nổi sóng.

Bài báo với nhan đề: "Chuỗi động thái bất thường quanh các đảo Trung Quốc" có đoạn viết: ngày 8 tháng 3 và ngày 1 tháng 5 tầu thăm dò của hải quân Hoa Kỳ 2 lần trong khu vực độc quyền kinh tế của Trung Quốc bị Trung Quốc chặn lại, Hoa Kỳ liền lớn tiếng gây lên một làn sóng mới gọi là "sự uy hiếp trên biển của Trung Quốc".

Bài báo cho rằng trọng tâm trong chiến lược của Hòa Kỳ trong mấy năm gần đây chuyển hướng sang khu vực Châu Á Thái Bình Dương, không những tăng cường hợp tác quân sự với hai đồng minh Nhật Bản và Hàn Quốc mà còn thu được lợi ích cho việc cất hạ cách của máy bay và bến đỗ cho các quân thuyền tại các căn cứ và bến cảng tại nhiều nước Đông Nam Á, một lần nữa củng cố lại " chuỗi đảo thứ nhất " phong tỏa lối thoát ra biển của Trung Quốc, đồng thời bắt đầu từ năm 2003 Hoa Kỳ đầu tư lớn cho việc bố chí quân sự bao gồm căn cứ ở các đảo " chuỗi đảo thứ hai ".

Bài báo viết: "Trong hơn 10 năm trở lại đây chính sách Biển Đông của Hoa Kỳ từ chỗ không tham gia chuyển dần thành tham gia, đã công khai hoặc ngấm ngầm giúp đỡ các quốc gia Đông Nam Á tiến hành chiếm đoạt tài nguyên trên Biển Đông. "

Đỉnh điểm năm nay Trung Quốc và Hoa Kỳ đã phát sinh va chạm trên Biển Đông, trong thời gian không xa đã xảy ra hai lần. Theo tin tức từ kênh truyền hình Hoa Kỳ CNN, ngày 11 tháng 6 tại khu vực phụ cận của vịnh Phillipin một chiếc tầu ngầm của Trung Quốc đã va chạm với thiết bị siêu âm dưới nước của tầu chiến Mỹ, một quan chức dấu tên của bộ quốc phòng Mỹ đã xác nhận tin này, gặp sự cố là một khu trục hạm tên lửa của Hoa Kỳ khi đang theo sát tầu ngầm Trung Quốc.

Thời báo Quảng Châu đã dân thuật nguyên phó tổng thâm mưu trưởng quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thượng tương Trương Lê cho biết: Trung Quốc hiện nay đang phải đối mặt với nguy cơ Biển Đông bị xâu xé, lợi ích hải dương và lãnh thổ hải dương của Trung Quốc đang phải chịu rất nhiều uy hiếp và khiêu khích.

Trương Lê nói: "Quần đảo Trường Sa có hơn 500 đảo ( tính cả đảo chìm ), Trung Quốc chỉ kiểm soát 4 đảo, Việt Nam kiểm soát 29 đảo, Phillipin, Bruney, Malayxia mỗi nước kiểm soát 3 đảo trở lên, Trung Quốc trên Biển Đông không có một giếng dầu nào các nước khác lại có đến hơn 1000 giếng."

Trả lời phỏng vấn tờ báo tuần Trung Quốc giáo sư trường đại học Quốc phòng Trương Trao Trung đã nhấn mạnh: "Xét theo việc tôn trong nguyên tăc luật pháp quốc tế "ai chiếm lĩnh trước sẽ làm chủ", ai chiếm lĩnh trước và thực thi quản lí hữu hiệu thì người đó sẽ có quyền chủ đạo tương đối lớn, và được sự tôn trọng của pháp luật quốc tế do đó tranh chấp tại Biển Đông không thể để kéo dài không quyết định"

Hoàng sa Trường blog

Vì sao Hoa Kỳ sẽ phục hồi sớm nhất?


Nguyễn Xuân Nghĩa

Liên Hiệp Quốc đã tổ chức một hội nghị quốc tế về kinh tế tại New York trong ba ngày 24-26/6/09 vừa qua mà không gây nổi một chút dư âm trên truyền thông Mỹ, Âu Châu hay Nhật Bản. Lý do không phải vì Michael Jackson bị đột tử.

Liên Hiệp Quốc dự tính tổ chức “thượng đỉnh” quy tụ lãnh đạo của 192 nước hội viên để thảo luận về hậu quả của khủng hoảng kinh tế tài chánh toàn cầu đối với các nước nghèo và tìm phương cách giải quyết. Kết quả chỉ là một hội nghị cấp cao - cỡ bộ trưởng hoặc đại sứ - vì có quá ít nguyên thủ quốc gia tham dự, chừng một chục người, mà chẳng có đại gia nào đáng kể. Hội nghị kết thúc với 16 trang thông cáo vu vơ mơ hồ mà không có giá trị cưỡng hành. Không có bài báo này, e chừng độc giả cũng chẳng biết là đã có một hội nghị như vậy!
Thật ra, có bốn đại gia đã lên tiếng rất mạnh, và từ trước, về hội nghị ấy.

Phối hợp chống Mỹ

Ðó là bốn nước “tân hưng”, mới nổi, gọi tắt theo tên nước là BRIC: Brazil, Russia, India và China. Họ vừa có thượng đỉnh đầu tiên tại Yekateriburg ở vùng Trung Á của Nga vào ngày 16, cũng tiến hành trước sự thờ ơ của truyền thông Mỹ. Qua hội nghị Liên Hiệp Quốc, đại diện của họ đồng ca bài “ăn vạ”:
1) Các nước đang phát triển bị oan ương kinh tế do tai họa từ các nước đã phát triển gây ra;
2) Nên thế giới phải cùng phối hợp giải quyết;
3) Bằng cách tăng cường vai trò điều hợp của Liên Hiệp Quốc;
4) Theo chiều hướng cải tổ hệ thống tài chánh quốc tế;
5) Trước hết là hai định chế tài chánh thành lập sau Thế Chiến II là Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Ngân Hàng Thế Giới:
6) Trong tinh thần giảm bớt ảnh hưởng quá nặng của Hoa Kỳ.
Ðiểm sau cùng là kết luận ngầm do người viết ghi lại cho độc giả!

Thật ra, quan điểm này đã được Trung Quốc và Liên Bang Nga liên tục nêu lên từ nhiều năm. Việc tăng cường vai trò Liên Hiệp Quốc là dễ hiểu khi hai quốc gia đó có lá phiếu phủ quyết tại Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và tự xưng là vô địch bảo vệ quyền lợi các nước nghèo. Dĩ nhiên là đại biểu Mỹ - dù là dưới sự lãnh đạo của chính quyền Barack Obama - đã lập tức phản bác tại hội nghị nói trên: Liên Hiệp Quốc không có thẩm quyền gì về chuyện tiền bạc quốc tế (hệ thống tài chánh quốc tế và hai định chế tài chánh nói trên)!
Vốn đã đặt nhiều kỳ vọng vào Tổng Thống Obama, xuất thân… phân nửa từ một nước nghèo là Kenya, các nước nghèo chờ đợi Ðại Sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc là bà Susan Rice tham dự hội nghị với vài lời cổ võ. Chờ đợi hoài công! Ðại Sứ Rice được Tổng Trưởng Ngân Khố (Tài chánh) Timothy Geithner mớm cho vài điều thực tế về tiền bạc nên hôm 26 đó bận việc ở… Utah, để Ðại Sứ John Sammis nói ra sự thật, theo cái nhìn của Hoa Kỳ… Hạ màn!
Hội nghị thất bại một phần vì đưa ra quan điểm thiên tả đầy tính chất bao cấp về sự thể kinh tế toàn cầu và ngầm quy tội cho kinh tế thị trường, hay chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, để đề ra việc phối hợp quốc tế mà thực tế là giới hạn vai trò của thị trường và của Hoa Kỳ. Hội nghị còn đượm mùi ngụy tín khi nêu kết luận tiên khởi, là thế giới đang bị khủng hoảng nặng như thời Tổng Khủng Hoảng 1929-1933, thời tư bản giẫy chết, nên các nước cần tìm ra giải pháp khác… các nước kỹ nghệ hóa không mấy vui với cách nhìn đó.
Vì giải pháp nào thì cũng quy về một mối là các nước giàu sẽ phải chi thêm tiền viện trợ cho các nước nghèo. Vừa bị kết tội vừa bị vòi tiền thì Hoa Kỳ dưới triều đại Obama cũng thấy khó nuốt! Các quốc gia vốn đều là sinh vật lạ mà quen: chỉ vận hành theo quyền lợi sinh tử của mình (ngoại lệ nếu có là… Việt Nam ngày nay, xin hỏi ngư dân của ta thì biết!)

Trước khi khủng hoảng tài chánh bùng nổ tại Mỹ vào Tháng Chín năm ngoái, nhiều người suy luận rằng kinh tế thế giới nay đã tách đôi. Các nước đang phát triển có cái trớn riêng nên không bị trôi vào suy trầm (recession) cùng ba đầu máy kinh tế của thế giới là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản. Sự thật lại không lạc quan như vậy vì ba khối kinh tế ấy vẫn là nguồn đầu tư và thị trường tiêu thụ lớn nhất cho các nước kia. Khi kinh tế sa sút thì ai cũng sa sút, nặng hay nhẹ là tùy chiến lược kinh tế của từng quốc gia, để bị lệ thuộc nhiều hay ít vào quốc tế. Chuyện chuyên môn ấy xin tạm gác một bên.
Bây giờ, khối kinh tế nào sẽ đứng dậy trước để leo khỏi vực suy thoái?
Vẫn lại Hoa Kỳ!

Ðịnh mệnh kinh tế

Nhìn từ bên ngoài thì đây là một thực tế phũ phàng khác…
Hoa Kỳ không đụng đáy sớm nhất nhờ kế hoạch kích thích kinh tế, Tổng Thống Obama ban hành ngày 17 Tháng Hai. Kế hoạch này chưa kịp kéo kinh tế ra khỏi suy trầm. Cuộc khủng hoảng tài chánh tạo cơ hội cho ông thắng cử để thực hiện chương trình cải tạo xã hội, đồng ý hay không là quyền mỗi người.
Còn vụ kích thích trị giá 787 tỷ Mỹ kim thì chưa thấm vào kinh tế, vì tiền chưa kịp xài, giỏi lắm thì mới chỉ trăm tỷ suốt năm nay. Trong khi ấy, việc tăng chi quá mạnh sẽ gây bội chi ngân sách và nâng gấp đôi gánh nợ quốc trái trong 10 năm tới. Ðây là kết luận của một cơ quan nghiên cứu kinh tế độc lập của Quốc Hội, Congressional Budget Office - CBO.
Nhưng so với các nước kia, Mỹ có thể đụng đáy và hồi phục sớm hơn cả, như người ta bắt đầu thấy từ Tháng Sáu. Lý do nội tại có thể là một định mệnh nằm sâu trong địa dư hình thể và văn hóa của các quốc gia.

Xin hãy nói về lá “tử vi kinh tế” ấy

Hoa Kỳ là một “hải đảo” vuông chành chạnh, được bảo vệ bởi hai đại dương lớn nhất địa cầu bên hai lân bang rất yếu. Lãnh thổ Mỹ được trời cho hệ thống giao thông của sông ngòi và các hải cảng tiếp giáp với đại dương trên một khu vực có khả năng canh tác rất cao và chuyển vận rất tiện. Nhờ địa dư hình thể ấy, nước Mỹ từ thời lập quốc đã có thể phát triển theo quy luật “dân đi trước, nhà nước đi sau” mà không cần chính quyền mở đường khai phá, hoặc bảo vệ.
Ngay từ định mệnh, dân Mỹ không chấp nhận chế độ tập trung quản lý của nhiều quốc gia trên thế giới khi phải dồn sức đầu tư trong giai đoạn kỹ nghệ hóa. Những thành tựu kinh tế lớn lao nhất đều do sáng kiến tư nhân mà ra. Họ lập ra cơ chế tự điều tiết và thanh tra, hoạt động song song cùng guồng máy nhà nước.
Cùng với vốn liếng văn hóa và lịch sử là quốc gia của các di dân chạy trốn sự ngược đãi của chính quyền và tôn giáo, trước là Âu Châu, sau là các xứ khác, Hoa Kỳ trở thành cường quốc kinh tế nhờ quyền tự do độc đáo và hiếm hoi của người dân, hơn hẳn các quốc gia khác. Kinh tế thị trường có phát triển và dân chủ chính trị có được củng cố hơn nhiều xứ khác thì cũng nhờ các yếu tố tiền định đó.
Thể chế liên bang của Hoa Kỳ còn lập ra một định chế điều tiết giá trị đồng bạc, là hệ thống Dự Trữ Liên Bang, tức là Ngân Hàng Trung Ương, một định chế độc lập, không bị chính trường chi phối theo chu kỳ bầu cử, và có thẩm quyền liên bang, trên toàn quốc. Ðịnh chế này có khả năng ứng phó linh động hơn tất cả các ngân hàng trung ương khác trên thế giới, như ngân hàng Trung Ương Âu Châu, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga hay Anh quốc, v.v… Khi hữu sự thì có quyền hạ lãi suất, thậm chí in bạc bơm vào kinh tế, cả ngàn tỷ, mà khỏi kể công xin phiếu như các chính khách! Là chuyện đã thấy từ năm ngoái.

Bây giờ, hãy so sánh với mấy nơi kia.

Liên Bang Nga hay Liên bang Xô viết (và Ðế Quốc Nga ngày xưa) không được như vậy, trước tiên cũng do địa dư hình thể khắc nghiệt hơn. Với lãnh thổ trải rộng trên đại lục địa Âu-Á, thực ra Nga có nhiều vùng hoang vu bát ngát của sa mạc và thảo nguyên ít thuận lợi cho canh tác và vận chuyển. Hệ thống sông ngòi không tiếp cận với nhau để giải quyết bài toán giao thông và bảo vệ an ninh. Xứ này lại từng bị tấn công nhiều lần từ hướng Tây nên có phản ứng phòng ngự với một lực lượng bộ binh lớn lao, tốn kém.
Với địa dư hình thể ấy, dân Nga trông chờ vào phép lạ của nhà nước, các sa hoàng hay tổng bí thư, tổng thống… Sau khi Liên Xô tan rã, Nga co cụm thành một cường quốc hạng nhì và đang giành lại ảnh hưởng đã mất. Khủng koảng kinh tế và nạn dầu thô sụt giá chỉ giúp Thủ Tướng Vladimir Putin tập trung quyền lực sau nhiều bẽ bàng với kinh tế thị trường kiểu Boris Yeltsin.
Còn hy vọng phục hồi kinh tế thì xa vời vợi vì Nga cũng lệ thuộc vào kinh tế Âu Châu, một thị trường tiêu thụ nguyên nhiên liệu và một nguồn tài trợ cho các ngân hàng tư doanh.

Liên Hiệp Âu Châu chưa đáp ứng được sự trông đợi ấy.

Như nhiều người khác trên thế giới, lãnh đạo Liên Âu đã trước tiên quy tội cho Mỹ là gây ra khủng hoảng tài chánh. Thật ra, các nước Âu Châu cũng có những sai lầm nội tại như Hoa Kỳ, mà còn nặng hơn. Và khó giải quyết hơn vì yếu tố địa dư hình thể và chính trị!
Lãnh thổ Âu Châu có điều kiện canh tác thuận lợi hơn Nga, cũng có mạng lưới giao thông sông ngòi tiện lợi hơn Nga nhưng lại không tiếp giáp với nhau như hệ thống Hoa Kỳ. Các hải cảng lớn lại phân tán ở nhiều nơi, nhiều nước, khiến từng quốc gia có thể trở thành cường quốc, đế quốc và gây chiến với nhau trong nhiều thế kỷ. Vì chuyện sông nước và lịch sử ấy mà tiến trình thống nhất chính trị tại Âu Châu mới khó thực hiện hơn, trong khi chế độ quản trị kinh tế cũng lại mỗi nơi mỗi khác.
Sau khi Liên Xô tan rã, Âu Châu có thu hồi lại phân nửa còn lại là Trung Âu và Ðông Âu, và mất cả chục năm hội nhập để chung sống… Tiến trình hội nhập ấy có gây phản ứng hồ hởi sảng và thổi lên nhiều trái bóng đầu cơ về gia cư hay tín dụng. Các trái bóng ấy đã bể, như tại Hoa Kỳ mà không hoàn toàn vì Hoa Kỳ.
Ngày nay, Liên Hiệp Âu Châu gồm 27 quốc gia, hoặc khối tiền tệ Euro gồm 16 quốc gia, đang phối hợp giải quyết theo hai hướng là cấp cứu hệ thống tài chánh ngân hàng và kích thích sinh hoạt kinh tế, nhưng họ khó đạt quan điểm thống nhất. Phương pháp kích thích bằng ngân sách (thuế vụ) bị giới hạn bởi những quy định chung của Liên Âu, phương pháp tiền tệ như điều chỉnh lãi suất thì phải có sự đồng ý của cả 16 thành viên trong hệ thống Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu. Quyền lợi riêng tư của từng nước trong gánh nặng cấp cứu là một nguyên nhân của tình trạng thiếu thống nhất đó. Và nói chung, hệ thống ngân hàng Âu Châu bị suy sụp nặng hơn Hoa Kỳ mà các nước không dám có quyết định táo bạo, thậm chí tàn bạo, như Hoa Kỳ…
Vì vậy, trong ngần ấy đầu máy kinh tế lớn của thế giới, Âu Châu bị sâu và nặng nhất, nên chậm phục hồi nhất.

Nhật Bản có sản lượng kinh tế thứ nhì thế giới sau Hoa Kỳ, nhưng là con bệnh kinh tế từ… hai chục năm trước, khi trái bóng gia cư và cổ phiếu bị bể. Từ gần 35,000 điểm năm 1990, chỉ số chứng khoán Nikkei 225 của họ đã sụt phân nửa sau vụ bể bóng và nay sụp thêm phân nửa nữa, chỉ còn quanh quẩn chín/mười ngàn điểm. Suối hai chục năm, thời hoàng kim rất vàng vọt chỉ có khi ông Junichiro Koizumi làm thủ tướng, từ 2001 đến 2006.
Sau đó là sự suy sụp không liên hệ gì đến khủng hoảng tại Mỹ mà vì thương phẩm (nguyên nhiên vật liệu và nông sản mà Nhật phải nhập cảng) vọt tăng giá. Bây giờ, đầu máy kinh tế ấy còn thoi thóp vì các thị trường nhập cảng lớn trên thế giới, như Âu, Mỹ, Tàu, đều co cụm.
Ðịnh mệnh kinh tế Nhật Bản? Khác hẳn các đại gia kia, Nhật thiếu tài nguyên thiên nhiên nên phải sống nhờ xuất nhập cảng dưới sự điều tiết của nhà nước trong cái thế liên kết của ba thế lực là ngân hàng, doanh nghiệp và hành chánh công quyền. Khả năng điều hợp ban đầu giúp Nhật trở thành cường quốc Châu Á đầu tiên đã thách đố và tấn công Tây phương sau khi ra khỏi chế độ phong kiến của nền kinh tế nông nghiệp. Sau khi bại trận, Nhật cũng lại vươn thành cường quốc kinh tế và một quốc gia tiên tiến về kỹ thuật hiện đại trong có ba chục năm.
Nhưng, có liên kết cũng là dễ có toa rập, tham nhũng, và khó có quyết định nhặm lẹ trong hoàn cảnh toàn cầu hóa. Vì vụ khủng hoảng trước, đảng Tự Do Dân Chủ LDP theo xu hướng trung hữu bị đổ năm 1993 sau khi cầm quyền gần như liên tục từ năm 1955. Từ đấy, Nhật có nội các kiểu Ý, hay kiểu Pháp thời Ðệ Tứ Cộng Hòa: mỗi năm lại đổ một lần. Từ 1993 đến nay đã có 15 thủ tướng, lên xuống như đèn kéo quân!
Nguy ngập hơn vậy, Nhật còn có định mệnh khác là nhân khẩu. Với nét văn hóa thuần chủng, và hạn chế di dân vì diện tích quá hẹp, Nhật Bản có dân số giảm dần, 127 triệu hiện nay sẽ chỉ còn 100 trong 40 năm tới, lại bị lão hóa với tỷ lệ ngày một lớn của giới cao niên: sống thọ hơn mà hết khả năng sản xuất như xưa. Ngần ấy vấn đề khiến quốc gia chủ nợ và chủ đầu tư số một của thế giới nay đang mắc nợ nhiều nhất, ít ra là 180% của tổng sản lượng nội địa GDP!

Trung Quốc là niềm hy vọng cuối, là con cưng của các định chế tài chánh quốc tế lẫn giới đầu tư tài chánh láu cá của Wall Street. Cùng giai điệu Bắc Kinh, họ thường xuyên quảng cáo cho sự phục hồi của kinh tế Hoa lục, một chủ nợ của nước Mỹ!
Thật ra, vì địa dư hình thể, Trung Quốc có ba nền kinh tế cho ba khu vực địa dư với ba tốc độ tăng trưởng nhanh chậm khác nhau mà thiên hạ lại cứ nhìn vào nơi trù phú nhất là vùng duyên hải chật hẹp ở miền Ðông. Bên trong, khu vực nội địa và các phiên trấn vùng biên ngoại là đất lạc hậu, mà vẫn phải nuôi cả tỷ người trên một sự khô cằn mênh mang, giao thông khó khăn vì địa dư hiểm trở.
Ngoài đặc tính thiên nhiên đó, Trung Quốc cũng theo đuổi chiến lược xuất cảng như Nhật Bản, và kinh tế lệ thuộc tới phân nửa vào xuất cảng, mà lại có hệ thống chính trị lạc hậu cho một xứ quá rộng và có quá nhiều dị biệt. Ðây là chế độ chính trị độc tài mà bất lực vì trung ương khó điều động được các đảng bộ địa phương và dị biệt giàu nghèo đang bị đào sâu vì khủng hoảng. Các tỉnh duyên hải mất thị trường xuất cảng không muốn san sẻ lợi tức cho các tỉnh bên trong, và đoàn người thất nghiệp cứ đi từ tỉnh này qua tỉnh khác kiếm việc mà không ra.
Trung Quốc có chừng 150 triệu “dân công” xiêu tán như vậy và mỏi chân đi mãi thì họ xuống đường biểu tình, bạo động… Giải pháp cấp cứu của Bắc Kinh là cho ngân hàng bơm tiền vào kinh tế nên đang bơm lên một núi nợ xấu… Trung Quốc sẽ giống Nhật Bản mấy chục năm trước là chìm sâu dưới núi nợ thối. Nhưng sẽ khác là bị động loạn xã hội dội lên thượng tầng chính trị.

Khi nghe nói Hoa Kỳ sẽ sớm phục hồi hơn cả, có người cho rằng đấy là lý luận của… “Chủ nghĩa phục Mỹ!” Sự thật phũ phàng của địa cầu lại không đơn giản như vậy. Và dù chửi Mỹ cho vui, xứ nào cũng mong dân Mỹ sẽ lại tiêu xài như Mỹ, để kéo họ ra khỏi suy trầm.
Chưa chắc đâu: nhờ công cuộc cải tạo xã hội và tăng chi của Obama, dân Mỹ sẽ tằn tiện hơn trong cơn hồi phục rất mong manh hiện tại. Và sẽ lại bị kết án là bần tiện.
Như đã được nghe thấy trong hội nghị tuần qua của Liên Hiệp Quốc!

1 thg 7, 2009

Chiến lược dài hạn của Trung Quốc?


GS. Vladimir Kolotov nghiên cứu về Việt Nam và nói được tiếng Việt

Một chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam từ Nga cho rằng sự lớn mạnh của Trung Quốc là đe dọa an ninh cho Việt Nam.

Nói chuyện với BBC từ Đại học quốc gia St. Petersburg, tiến sĩ Vladimir Kolotov nhận định khả năng khai thác chung ở Biển Đông là có, nhưng Trung Quốc cũng sẽ chiếm phần hơn.
Ông cũng cho rằng Việt Nam đang gặp khó trong việc tìm kiếm liên minh, dù là "theo Mỹ hay Trung Quốc".
Vladimir Kolotov: Trong lịch sử Việt Nam, mỗi khi Trung Quốc tập trung được lực lượng, xây dựng một nước hiện đại, lần nào cũng là vấn đề rất lớn cho Việt Nam. Bây giờ cũng là thời điểm như thế. Trung Quốc mạnh, là đe dọa an ninh cho Việt Nam.
Nhưng bây giờ là thời đại toàn cầu hóa, Việt Nam có thể tìm liên minh, vấn đề là tìm ai. Giữa Mỹ và Trung Quốc, cả hai đều có thể nói là "bạn" của Việt Nam. Theo Trung Quốc là mất chủ quyền, theo Mỹ cũng thế.
BBC: Theo tiến sĩ, tranh chấp Biển Đông sẽ đi đến đâu?
Giữa Mỹ và Trung Quốc, cả hai đều có thể nói là "bạn" của Việt Nam. Theo Trung Quốc là mất chủ quyền, theo Mỹ cũng thế.
Vladimir Kolotov
Tôi nghĩ Trung Quốc sẽ sử dụng áp lực ngoại giao và kinh tế. Vũ lực thì Việt Nam không chống lại được rồi, và Trung Quốc cũng sẽ không dùng vũ lực. Nhưng họ sẽ áp lực về chính trị, ngoại giao, kinh tế.
BBC: Việt Nam và Trung Quốc vừa nộp hồ sơ thềm lục địa cho Liên Hiệp Quốc. Liệu LHQ có chịu sức ép nào không?
Không nên coi trọng chuyện đó. LHQ chỉ như một câu lạc bộ nói chuyện, chẳng đưa ra được quyết định buộc các bên phải theo.
Cứ xem khủng hoảng Nam Ossetia vừa rồi. Chiến tranh năm ngày, bao nhiêu người chết. Nhưng Mỹ không muốn hội đàm vấn đề này, LHQ làm được gì ? Những chuyện lớn liên quan an ninh, LHQ chứng tỏ họ bất lực.
Có thể nộp hồ sơ, nhưng đấy là họ nói chuyện với nhau, còn Trung Quốc muốn khai thác vùng nào thì cứ khai thác.
Nộp cả chục hồ sơ cũng được, vấn đề là ai sẽ ủng hộ Việt Nam ?
BBC: Vậy còn khả năng hợp tác và khai thác tài nguyên ở Biển Đông có thực tế không?
Có thể, nhưng khai thác là phải cùng đầu tư, trong khi kinh tế Trung Quốc mạnh hơn nhiều. Họ có thể làm dự án 10 tỉ đôla, Việt Nam tham gia nổi không?
Phải nói lại một lần nữa, đây chỉ là một bước nhỏ trong chiến lược dài hạn của Trung Quốc. Chiến lược đó rất rõ, kiểm soát vùng Á đông, ban đầu gián tiếp và sau đó là trực tiếp.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/05/090513_kolotov_interview.shtml

12 THÁNG ANH ĐI