8 thg 7, 2009

Liên Thành Trả Lời Chất Vấn Trong Bài Trịnh Công Sơn


Liên Thành

Đã có một số độc giả góp ý cũng như thắc mắc sau loạt bài về Trịnh Công Sơn, vì thế tôi xin chính thức phúc đáp như sau:

Bài giải trình của tôi, với tư cách là một cựu trưởng ty CSQG Thừa Thiên Huế, nói về một ổ CS nằm vùng lớn nhất, nguy hiểm nhất, gây tác hại nhất cho Miền Nam, trong đó có đề cập nhiều về Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng của mạng lưới này, được viết theo lối vừa kể chuyện, vừa mang tính “phúc trình của cảnh sát”, thật tình không ngờ lại gây ra nhiều câu hỏi tùm lum như thế!.

Tôi không phải là cây viết chuyên nghiệp, một gã “vừa cò vừa lính” kể chuyện, nghĩ sao viết vậy, chỉ muốn kể lại một sự thật. Cho nên, thiếu sót và không rõ ràng là chuyện tất nhiên. Đã có vài câu hỏi hoặc ý kiến mang tính mỉa mai xách mé, cố phủ nhận vấn đề. Nhưng cũng có rất nhiều câu hỏi đứng đắn rất đáng trân trọng. Quả tình khi viết, tôi đã không nghĩ ra được điều là tôi đang viết lại một câu chuyện tình báo cho công luận, chứ không phải là đang làm phúc trình cho một cơ quan tình báo của chính phủ. Vì bài viết khá ngắn gọn cho một câu chuyện dài dòng, nên đã gây ra những thắc mắc chính đáng, và cũng tạo cơ hội cho những ai thích bắt bẽ kiếm cớ. Điều chính yếu là, đây là những dữ kiện thật, có liên quan đến một giai đoạn lịch sử đầy biến động, mà tôi lại là người nằm sâu trong cuộc, ngay trong cái nôi đã đẻ ra nó, nên bổn phận của tôi là phải mở nó ra, để những người viết sử có thêm dữ kiệ n và rút ra bài học cho hậu thế.

Để làm vấn đề được hiểu một cách đơn giản và dễ dàng, trong bài này, chúng tôi sẽ cố gắng đề cập về một vài nguyên tắc sơ đẳng trong tình báo của mọi phía, cộng sản cũng như quốc gia dân chủ, nhằm hy vọng là những bài viết sau, tôi sẽ không bị lập lại những chất vấn cũ, hoặc giả những ý kiến hay câu hỏi mang tính xách mé chợ búa, làm tốn thì giờ người đọc. Và điều quan trọng nhất là, những nguyên tắc này có thể hữu ích cho những ai đang và sẽ tham gia các công việc nhằm dân chủ hóa đất nước, rút ra những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động, tránh bớt những sơ xẩy vô vàn đáng tiếc. Bên cạnh đó là nội gián nội thù, một vấn đề muôn thuở của tình báo, mà đã làm hủy hoại đi những tài năng của đất nước, như chuyện vừa mới xảy ra cho Luật sư trẻ Lê Công Định.

Đáng lý việc TCS phải đưa ra ánh sáng sớm hơn, thời điểm nầy đưa ra là quá chậm.

Tôi cần nói rõ “Nghề tình báo là một nghề khắc nghiệt. Những ai đã ở trong nghề này đều phải chấp nhận một cuộc đời nghiệt ngã, bị ràng buộc bởi luật pháp quốc gia và những quy luật chặt chẽ của cơ quan suốt cả đời, cho dù còn phục vụ hay đã về hưu. Họ sống thu mình im lặng câm nín, chôn chặt những gì mình đã làm, mình đã biết, cho đến lúc lìa khỏi cõi đời. Nói một cách đúng nghĩa là “sống để dạ, chết mang theo”.

Nhưng hôm nay, trong cảnh quốc gia suy vong, bị Cộng Sản đô hộ, vận nước điêu linh, chính phủ VNCH không còn nữa, tôi có bổn phận phải tường trình cho lịch sử những oan khiên của đất nước. Nhất là những nhân vật mà thời gian tính cho phép được bạch hóa. Sau khi sau nghĩ và cân nhắc,tôi viết cuốn Biến Động Miền Trung đồng thời sẽ công khai hóa sự thật về một số nhân vật tên tuổi. Bởi vì, do số phận run rủi, tôi lại làm Cảnh Sát Trưởng tại Huế, cái nôi của một hệ thống cộng sản nằm vùng sử dụng chiêu bài tôn giáo, sinh viên học sinh. Tôi có trách nhiệm phải bạch hóa.

Tự cổ chí kim cái gì thuộc về Tình báo, tức thuộc về bí mật, thuộc về im lặng. Chúng tôi, sống để bụng, chết mang theo không bao giờ hở môi tiết lộ một điều gì cả. Tại sao? An ninh quốc gia, an ninh cho bản thân, an ninh cho đồng đội, an ninh cho những kẻ cộng tác với mình. Hầu như luật pháp mọi quốc gia đều quy định như thế, còn cộng sản, tôi không biết chúng xử sự và “luật” của chúng thế nào. Có rất nhiều trường hợp phải đến ba hoặc bốn nưoi năm sau chính phủ mới giải mật một số hồ sơ hoặc cá nhân. Đó là lẽ thường tình.

Sau 1975 Việt nam Cộng Hòa không còn nữa, tuy nhiên vì an toàn cho đồng đội và những tình báo viên, mật báo viên còn kẹt lại trong vùng địch kiểm sóat nên không thể tiết lộ. Đó là đạo đức tối thiểu phải có của một ngừời rất bình thường như tôi.

Tại sao không dám viết khi TCS còn sống? Liên Thành muốn nổi tiếng?

Cá nhân tôi khi viết về những gì tôi biết về TCS vì những lý do sau đây:

Tôi không muốn mang tiếng “tiếng bất nghĩa, hoặc vì lười, hoặc vì sợ mà không nói ra sự thật. Và cũng không muốn để những ai đã thương, ghét, TCS ở trong tình trạng mù mờ về mọi phương diện của cuộc đời TCS, trong khoảng thời gian mà quốc gia, và đặc biệt là xứ Huế, trải qua nhiều khổ nạn, xuất phát từ Đảng Cộng Sản VN, từ những kẻ buôn thần bán thánh, đội lốt tu hành như Trí Quang, Đôn Hậu.

Viết về TCS để mọi người cùng nhìn thật rõ TCS là ai? quốc gia? Cộng Sản, nhân cách thật, con người thật, và cũng để làm rõ hơn những nhận xét của bằng hữu đối với TCS, nhất là nhận xét của Trịnh Cung, Đặng văn Âu, và vài người bạn của TCS nữa, rôi quý vị tự chọn cho mình một thái độ.

Có người cho là tôi muốn bôi nhọ TCS để nổi tiếng.

Có cần bôi nhọ thêm TCS nữa hay không? Vì tỵ hiềm, vì ganh nghét TCS? Thành thật mà nói, quan hệ cá nhân giữa tôi và TCS, nếu không đề cập tới lý tưởng và quan điểm chính trị, tôi và TCS không hề có oán thù cá nhân. Tôi cũng đã từng giúp TCS và gia đình TCS bằng cách lờ đi một số việc mà khó nói ra để gia đình TCS sinh sống. Ngoài ra, tôi còn là bạn của Trịnh Công Hà, (không phải là Trịnh Quang Hà) chúng tôi là bạn võ sinh, thường xuyên tập Judo chung với nhau. Hà hiện ở Cali, chúng tôi vẫn còn là bạn. Tôi cũng không có thói quen ganh ghét, tỵ hiềm bất cứ ai, nhất là thuộc cấp của mình.

Còn nói bám vào TCS để nổi tiếng.

Xin hỏi, bám vào TCS để nỗi cái “tiếng”gì? Tôi xuất thân là cháu đích tôn đời thứ 7 của Gia Long Hoàng Đế, dòng Đông Cung Thái Tử Cảnh, cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Bà nội tôi là cháu ngoại vua Thiệu Trị, chị của Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết. Nhân cách và lòng yêu nước của tiền nhân tôi không đủ cho tôi “nhờ vả” hay sao, mà phải nhờ vào nhạc sĩ nằm vùng TCS để nổi tiếng? Tôi nói vậy thì thế nào cũng có điều tiếng rằng tôi là gã khoe khoang. Không sao cả, còn hơn là bị sỉ nhục ăn theo tên nhạc sĩ mất tư cách Trịnh Công Sơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc sỉ nhục truyền thống gia đình tôi. TCS là thiên tài của ai cũng mặc kệ, nhưng nhất định không phải là thiên tài của tôi. Vả lại, nếu không biết thì thôi, còn đã biết rõ TCS như thế, liệu ai có can đảm để đứng gần TCS không? nói chi đến “nổi tiếng”? Ngoài ra, có một kiểu nổi tiếng nữa, mà tôi cùng rất nhiều bạn đồng ngũ đã nổi tiếng, đó là “nổi tiếng bỏ chạy” trước đồng đội. Cái nổi tiếng này đã quá đủ để suy ngẩm đến cuối đời rồi, có cái nổi tiếng nào mà có thể xóa được cái nổi tiếng này không? cần thêm nữa không?

Những bắt bẻ sao đợi đến bây giờ mới nói ra? Dám nói ra khi TCS còn sống không? Đợi TCS chết, rồi muốn nói sao thì nói? Rõ ràng là muốn ăn theo, muốn nổi tiếng qua bài viết có tính cách nhục mạ một “thần tuợng, thiên tài”!

Thật tình mà nói, cho dù là không có kiến thức tình báo, nhưng những điều trong cuộc sống hàng ngày cũng đủ cho mọi người hiểu một cách sơ đẳng là, giả sử tôi công bố điều này lúc TCS còn sống, thì hậu quả gì sẽ xảy ra cho đương sự và những người có liên quan đã cung cấp những tin tức về TCS cho tôi mà vẫn còn ở lại VN? Quý vị không tin tôi, nhưng Công An CSVN sẽ tin, và cơ quan tình báo nước ngoài tin tôi. Lý do chất vấn thì tiểu tiết nông cạn, rồi cho là toàn bộ dữ kiện tôi đưa ra là không đúng, thì quả là chỉ muốn kiếm cớ mọn để bài bác mà thôi. Và cũng kiểu lý luận sờ voi như thế, thì lịch sử kiểu này chỉ là lịch sử của người sống? Người chết kể như xù?

Lý do mà tôi không thể công bố vấn đề TCS hoạt động 3 mang, khi đương sự còn sống, thì tôi đã nói ở trên, xin được nhắc lại một lần nữa. Thật ra, bất cứ ai là dân tình báo như tôi, đều hiểu ngay là tại sao như thế, mà không cần một lời giải thích nào. Tình báo có luật của tình báo. Nó căn cứ trên lương tâm, đạo đức và trách nhiệm đối với những người khác có liên quan, đã cung cấp thông tin cho CSQG vẫn còn ở lại VN. Ai có thể bảo đảm rằng TCS ko bị bắt nếu như tôi công bố rằng TCS đã từng hoạt động 2 mang cho tôi và tình báo ngoại quốc? mà hậu quả kéo theo những người khác nữa? Không gì có thể đặt trên tính mạng và an nguy của họ được. Câu chuyện mà chánh văn phòng cựu phó TT Mỹ Dick Cheney, Lewis “Scooter” Libby tiết lộ danh tính một điệp viên CIA, bà Valerie Plame, mặc dù đã được cho là” “degrade” đã gây rất nhiều sóng gió, hẳn quý vị còn nhớ?

Tiện đây, Liên Thành tôi có đôi lời “tâm sự lòng thòng” dưới đây, để trả lời cho những kẽ cho là TCS quá nỗi tiếng, quá thiên tài, nên tôi muốn ăn theo...

Tôi rời đất nước ngày 30/4/75, 32 tuổi. Với cái tuổi này, biết bao nhiêu thanh niên trong nước, bao nhiêu quân nhân còn ở lại, lặng lẽ đi vào “chiến khu” với một tương lai đầy nguy hiểm và vô định: không lương tháng, không vũ khí quân trang quân dụng? không lương thực, đói khát! Không còn chính phủ, không còn tổ chức, nhưng họ vẫn liều mạng với một tương lai vô định. Vì sao vậy? Họ mơ uớc điều gì? Hoài vọng điều gì? Họ chiến đấu cho ai? Kết quả là những cái chết âm thầm nơi rừng thiêng nước độc, hay những bản án tử hình, những năm tháng tù đày suốt cả đời người! Vì sao những anh hùng vô danh này làm như vậy? Phải chăng là vì họ không thể nào chấp nhận được một thực tế là Miền Nam đã rơi vào tay CS? Đó là một niềm đau, một niềm uất nghẹn không thể chịu đựng được?

Chúng tôi, mỗi người chọn một con đường, con đường tôi đi là con đường hèn, nhưng niềm đau thì giống như nhau như đúc. Đau không thể chịu đựng được, đau vô bờ!

Tôi sang Mỹ, chôn chặt tất cả trong lòng, khóa kín nó lại, không dám nghĩ tới chuyện 30/4. Vẫn mơ mơ tỉnh tỉnh. Thật hay mộng đây? Những đêm mơ cố quận, đến khi tỉnh giấc, thật hãi hùng! Tôi lao vào mưu sinh, và cố gắng cho xong 4 năm đại học, để vừa như là một liều thuốc lãng quên ,vừa là có cái nghề nuôi bầy trẻ. Vừa làm 2, 3 job, vừa đi học. Nhọc nhằn tất bật để không có thời gian cho quá khứ hành hạ. Chuyện cũ vẫn cố đào cho sâu mà chôn nó đi theo ngày tháng. Nhưng nặng nề quá! khó quá! Qua tuổi lục tuần, về hưu, la cà bè bạn. Ngồi kể chuyện cũ với dăm ba thằng bạn lính, tụi nó há hốc mồm. Không ngờ chuyện tồi tệ đến vậy. Có thằng hỏi tôi, mày dám viết không? Dĩ nhiên là viết, chuyện thật có gì không dám? Chuyện láo mới không dám ! Vả lại, nhân chứng sống vẫn còn đây. Trên 5000 nhân viên Ty CSQG cùng chia bùi xẽ ngọt với tôi, một số còn kẹt lại VN, một số lưu lạc khắp nơi, nhưng ít ra cũng còn khoảng 3000 rải rác đầy thế giới.

Lý do cuốn sách Biến Động Miền Trung ra đời là như thế. Càng viết, tôi càng thấy nhẹ người. Cuốn sách với tôi thật sự là một giải thoát!

Vấn đề Mậu Thân 1968
Tháng 5 năm 1967, HCM chủ tọa phiên họp của Bộ CT trung ương đảng CS Việt Nam để duyệt xét tình hình và kế hoạch cho chiến dịch đông xuân 1967-1968. Kế tiếp, từ ngày 20 đến ngày 24/10/1967, tại phiên họp của bộ chính trị, thay mặt Quân ủy trung ương, Tướng Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo chiến dịch Đông-Xuân-Hè 1967-1968. Bộ CT quyết định mở cuộc tổng CK, tổng nỗi dậy vào đúng Tết Mậu Thân 1968.

Như vậy cuộc TCKT nỗi dậy đã được bọn chúng quyết định vào tháng 10/1967, để đánh lừa và tạo bất ngờ, HCM tráo trở đề nghị hưu chiến 7 ngày trong dip tết Mậu Thân, nhưng chính phủ VNCH chỉ đồng ý 3 ngày mà thôi.

Những hoạt động của VC được cơ quan tình báo CSQG Thừa Thiên Huế ghi nhận trước cuộc Tổng Công Kích, Tổng nổi dậy tai Thừa Thiên Huế:

1- Tình báo Kỹ thuật.
Khoảng từ ngày 10 tháng 12 /1967, gần 20 ngày trước cuộc tấn công, cơ quan tình báo dân sự đồng minh đã có một loạt không ảnh chụp được tại những vùng núi phía tây thành phố Huế: thượng nguồn sông Bồ, Khe Trái, động Chuối, sông Hữu Trạch, phát giác một số lượng đông đảo các lực lượng quân sự của VC đang tập trung tại các vùng trên. Tin tức tình báo kỹ thuật cũng nghi nhận một số điện đài quân sự địch đang hoạt động liên tục tại vùng nầy.

Tôi đã được cơ quan tình báo dân sự đồng minh thông báo đầy đủ. Đồng thời họ cũng đã yêu cẩu tôi xử dụng lực lượng tình báo cơ Hữu CSĐB để phối kiểm và xác nhận thêm các tin tức trên.

2- Mười toán tình báo của 10 quận thuộc tỉnh Thừa Thiên từ phía bắc là quận Phong Điền, xuống tận phía nam là quận Phú Lộc, đều báo cáo về BCH tỉnh những tin tức tương tự giống nhau: Dân chúng trong những vùng C,D,F ( lượng giá tình hình an ninh) đều được cơ sở VC địa phương thông báo: Mọi gia đình trong vùng đều phải mua trữ lương thực, dự trữ thuốc men, chuẩn bị cho một cuộc đánh lớn sắp xãy ra.

3- Một số cán bộ cộng sản từ cấp huyện trở lên cũng đã được lệnh rời khỏi địa bàn hoạt động lên mật khu hội họp.

Tại thành phố Huế có 8 chi bộ đảng cộng sản và 80 cơ sở đảng bí mật có những họat động khác thường, bọn chúng tiếp xúc với nhau thường xuyên hơn. Tại các trạm giao liên nội thành có rất nhiều kẻ lạ xuất hiện.

4- Nhiều cơ sở quan trọng nội thành được điều lên mật khu hội họp do Khu Ủy Trị Thiên tổ chức. Bọn họ rời thành phố lên Mật khu họp vào đầu tháng 12/1967 và trở về lại thành phố Huế vào khoảng 20 tháng 12/1967.

Đương nhiên, trong số những cơ sở lên họp tại mật khu có cơ sở nội tuyến của chúng tôi. Vì vậy, khi họ trở về chúng tôi nhận được báo cáo của họ như sau:

Khóa học tập này có khoảng 300 cán bộ và 130 cơ sở nồng cốt nội thành. Nội dung học tập là phương thức phát động quần chúng nỗi dậy tại nông thôn và đô thị. Nhiệm vụ của họ là sau khi trở về địa bàn họat động là thành lập các đội công tác làm nòng cốt phát động quần chúng tổng nỗi dậy khởi nghĩa.

Cũng cần nói rõ thêm trong số những cơ sở nội thành được điều lên mật khu, có cả Giáo sư Lê văn Hảo, một số sinh viên đại học Huế. Bọn chúng là cơ sở nội thành VC.

Điểm chính rất quan trọng là chúng tôi phát hiện hầu hết các thành phần thân cận tranh đấu của Thích Trí Quang vào năm 1966, đào thoát lên mật khu, nay trong những ngày cận Tết, đã đột nhập trở lại, trú ngụ tại các căn cứ lõm của bọn chúng trong thành phố Huế. Căn cứ vào những sự việc vừa nêu trên, cộng thêm một số dữ kiện khác, chúng tôi, cơ quan tình báo CSQG của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế và cơ quan tình báo dân sự Hoa kỳ sau khi nhận định lượng giá đều đi đến một kết luận chung là Việt Cộng sẽ tấn công Huế trong những ngày Tết Mậu Thân 1968.

Câu hỏi được đặt ra, tại sao tin tức tình báo của các cơ quan tình báo VNCH và đồng minh đầy đủ như vậy, mà thảm họa vẫn xãy ra cho Huế? VC tấn công và chiếm giữ Huế 26 ngày kể từ 2 giờ 33 phút sáng, rạng ngày 2 Tết Mậu Thân 1968, tàn sát 5327 thường dân vô tội và bắt dẫn đi mất tích 1200 người?.

Có những điều sau đây để có thể lý giải một phần nào:
- Bản chất người quốc gia quá thiệt thà lương thiện, bị HCM và đảng Cộng Sản phỉnh gạt, hưu chiến 3 ngày. Chính quyền Miền Nam cũng như đồng bào Miền Nam đã không thể tưởng tượng nỗi rằng, cộng sản lại chọn ngày tết để chém giết đồng bào, vì dù sao chúng cũng là con người. Ai có thể ngờ những giờ phút thiêng liêng đầu năm của toàn dân tộc, dành để cúng giỗ ông bà, nhớ ơn tiền nhân, mà chúng lại nỡ đang tâm làm chuyện sát hại sinh linh vô tội. Chính quyền Miền Nam lúc ấy vẫn còn nghĩ là bọn CS không đến độ man rợ mất hết lương tri như thế. Cho nên, Miền Nam đã bỏ ngỏ tết Mậu Thân. Lợi dụng sự lương thiện của Miền Nam, chúng đã phát động chiến tranh và tàn sát đồng bào cùng màu da tiếng nói. Chúng dùng mọi thủ đoạn, nhất là khủng bố bằng máu để thắng hôm nay, nhưng muôn vạn đời sau, mỗi độ tết về, lịch sử lại nhắc rằng, bọn Cộng Sản Việt Nam đã vô lương tráo trở, cuồng sát đồng bào Mậu Thân 1968.

- Các cấp chỉ huy Quân sự vô trách nhiệm, hoàn toàn không có kế hoạch phòng thủ cho Huế.

- Quân số và lực luợng không đủ để phòng thủ khi bị địch tấn công, vì đã cho quân nhân, cảnh sát xã trại năm mưoi phần trăm nghỉ Tết.

Và quan trọng nhất là tin tức tình báo từ lực lượng CSĐB/BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một phúc trình rất đầy đủ, đích thân tôi đưa lên cho trưởng ty, đã bị ém nhẹm. Lý do: trưởng ty CSQG Đoàn công Lập lại là nội tuyến nằm vùng, hoạt động cho Hoàng Kim Loan. ĐCL lý luận là loan tin đi chỉ sẽ làm kinh động dân chúng, chắc gì có thật. Trong thời gian làm phó ty, cá nhân tôi thấy Đoàn Công Lập có những hành tung và cách xử sự rất đáng ngờ. Sau đó cơ quan Tình Báo Dân Sự Hoa Kỳ có cho tôi hay là họ đang theo dõi Đoàn Công Lập, đương sự có những hoạt động nội tuyến. Từ đó tôi theo dõi hắn rất sát. Và hình như hắn cũng biết là tôi đang nghi ngờ hắn. Chúng tôi và cơ quan tình báo dân sự Hoa Kỳ đang phối hợp theo dõi để lấy thêm bằng cớ phúc trình lên trung ương, thì lại xãy ra biến cố Mậu Thân. Đêm 30 tết chính Đoàn Công Lập đã mưu sát tôi bằng cách ra lệnh cho tôi vào dẫn một đơn vị CSDC đến quận Nam Hòa, vì ĐCL nói rằng có một toán du kích sẽ đến đó. Bụng đã nghi ngờ Đoàn Công Lập, cho nên tôi rất cẩn thận. Khi tôi và 6 anh em nữa đến đó, thì không phải là một tiểu đội mà là một tiểu đoàn địch đang di chuyển. Nếu chúng tôi không nín thở nằm im, thì giờ này tôi và 6 anh em CSQG đã xương tàn cốt rục. Khi tôi trở về báo cho ông ta biết là không phải một toán mà là một tiểu đoàn, ông ta không phản ứng gì, chỉ hỏi “Sao anh khô ng nổ súng?” Tôi trả lời “ Nếu hồi đêm tôi nổ súng thì giờ này đâu gặp ông trưởng ty được nữa”.

Vì tình hình quá sức khẩn cấp nghiêm trọng, theo nguyên tắc không được vượt quyền Đoàn Công Lập, nhưng tôi đã vượt rào gặp Tỉnh Trưởng Thừa Thiên lúc đó là Trung Tá Phan Văn Khoa, để cố thuyết phục ông ta nên có kế hoạch chống đỡ tối thiểu, ít nhất là còn nước còn tát. Nhưng ông ta, không chú ý gì đến bản phúc trình của thằng trung úy quèn, mặt non choẹt, búng ra sửa mới 25 tuổi tôi cả, chỉ ừ hử qua chuyện. Kết quả:

Rạng sáng ngày mùng hai tết Mậu Thân, lúc 2 giờ 33 phút sáng là giờ khởi đầu của 624 giờ địa ngục. Năm giờ 30 sáng, lờ mờ bóng quân đội nhân dân giải phóng trong thành phố. Sáu giờ sáng, quốc kỳ VNCH không còn trên kỳ đài Phú Văn Lâu, thay vào đó là cờ của lực lượng Liên minh Dân Tộc, Dân chủ, Hòa Bình do ông Lê văn Hảo làm chủ tịch, Thích Đôn Hậu làm phó chủ tịch. Cờ gồm 2 mảnh màu xanh nhạt, ở giữa là màu đỏ sao vàng, không phải là cờ của MTGPMN. Bảy giờ sáng, Việt Cộng bắn xối xả vào đoàn dân chúng hốt= hoảng chạy nạn. Thây người ngã gục, máu đào tuôn rơi. Dân chúng chạy trốn vào nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, trường trung học Gia Hội ,trường tiểu học Kiểu Mẫu, trường trung học, Thiên Hựu, chùa Diệu Đế, chùa Áo Vàng, số còn lại trốn tại nhà. Dân quận I thì chạy về Cầu Kho , Mang Cá, nơi có BTL sư đoàn I để tìm sự bảo vệ. Suốt 2 tuần từ mùng hai tết, trời u ám, mây xám đặc phủ cả thành phố. Huế trong cơn mưa lạnh giá buốt và trong nỗi sợ hãi rúng động kinh hoàng. Trong khi lực lượng quân sự cộng sản tấn công những vị trí quan trọng trong thành phố, thì bộ phận an ninh chính trị của quân khu Trị thiên và tỉnh ủy, thị ủy Thừa Thiên Huế bắt đầu cuộc tắm máu tàn sát dân lành.

Mùng 3 tết, Lê Chưởng, chính ủy mặt trận Huế, bắt đầu thi hành nghị quyết ngày 21/1/1968 của trung ương đảng, chỉ thị cho Trung Uơng cục Miền Nam, khu ủy khu 5, khu ủy Trị Thiên, Phạm Hùng, Võ Chí Công, và thiếu tướng Trần văn Quang, tư lệnh mặt trận Trị Thiên. Nghị quyết gồm 3 điểm;

1/ Kêu gọi tổng nội dậy, thành lập chính quyền cách mạng
2/Thành lập mặt trận Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình
3/ Lùng diệt truy quét thành phần ác ôn, tàn binh ngụy, công an cảnh sát ngụy, thành phần làm tay sai cho Mỹ, CIA.

Hầu hết đám nằm vùng theo Thích Trí Quang bao gồm giáo sư, sinh viên thanh niên tranh đấu đã thoát lên mật khu sau biến động 1966, nay trở về, đảm nhiệm là thành phần nòng cốt chỉ điểm và thi hành các vai trò trên, đặc biệt là vai trò truy quét tận diệt các thành phần Mỹ Ngụy ác ôn.

Chính quyền cách mạng được thành lập như sau: Lê văn Hảo: chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố. Lêvăn Hảo là thành phần tranh đấu Phật Giáo năm 1966 bị bắt, được Đoàn Công Lập trả tự do, cán bộ trí vận. Cán bộ điều khiển y là Hoàng Kim Loan. Phó chủ tịch UBNDCM là Đào thị Yến tức Tuần Chi, hiệu trưởng trường Đồng Khánh, tình nhân của Thích Đôn Hậu, cán bộ trí vận, HKL điều khiển thị. Đồng phó chủ tịch là thường vụ thành ủy Hoàng Phương Thảo. Chủ tịch UBNDCM quận I là Nguyễn Hữu Vấn, GS trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ. Chủ tịch UBNDCM quận II là Nguyễn Thiết. Thiết vượt tuyến vào Nam 1957, là cơ sở nằm vùng rất lâu ở Huế, SV luật khoa, thành viên BCH tổng hội SV đại học Huế. Quận III chưa tổ chức kịp nên Bảy Lanh, trưởng ban an ninh thành ủy đảm trách.

Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình: Vẫn Lê văn Hảo làm thêm một chức chủ tịch. Phó chủ tịch là Thích Đôn Hậu, tình nhân của Tuần Chi. Tổng thư ký: Hoàng P N Tường. Nguyễn Đắc Xuân, phụ trách thanh niên SVHS.

Trách nhiệm truy quét ác ôn Mỹ Ngụy được thực hiện như sau:
Nhiệm vụ thi hành bạo lực cách mạng được thực hiện bởi các “đội tự vệ khu phố”, do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy, dưới sự điều khiển chỉ đạo của lực lượng an ninh quân khu và tỉnh ủy. Gồm các cơ sở nằm vùng rất bí mật trong nội thành, các thành phần trong phong trào Phật Giáo đấu tranh thoát ly lên mật khu sau biến động miền trung 1966, lực lượng HSSV giải phóng thành phố Huế. Các đội tử thần này rãi đều khắp 3 quận, là lực lượng sát máu và tàn bạo nhất, hơn hẳn Hồng Vệ Binh của Mao Trạch Đông. Ngoài Nguyễn Đắc Xuân, Chủ tịch quận I Nguyễn Hữu Vấn, quận II Nguyễn Thiết, tổng thư ký HPNT và HPNP, Hoàng văn Giàu, Nguyễn thị Đoan Trinh là những thành phần chủ chốt sát máu nhất của các đội này. Các đội tử thần này rãi đều trên các quận, chúng đi từng nhà, vừa đe dọa, vừa lục soát, vừa bắt những ai có trong sổ đen. Chúng chia làm 3 đợt. Chúng dụ địch. Những ai tự ý trình diện giao nộp vũ khí trong đợt 1 và 2 đều được chúng cấp giấy khoan hồng cho về. Thấy vậy, nhiều người trốn tránh khỏi 2 đợt kia liền ra trình diện. Đến sau đợt 3, chúng tóm gọn cả 3 đợt, yêu cầu mọi người đi họp tập tại các địa điểm mà chúng quy định. Tin tưởng như các lần trước, đi rồi lại về, mọi người kéo nhau đi. Và họ đã đi mãi không trở lại. Tất cả đã chết, tất cả đã bị bọn nằm vùng và cộng sản dùng vật cứng đập đầu rồi chôn sống, lấp xuống hầm sâu hố cạn, vài hố thì ở trong thành phố, còn hầu hết các hố c hôn còn lại là ở các quận vành đai.

Tổng cộng có cả thảy 26 hố chôn tập thể. Hố ít nhất là 3 người, trung bình là 400 người, đông nhất là 800 người. Tôi cố gắng tóm tắt để trả lời quý vị. Muốn hiểu rõ danh sách đầy đủ hơn của bọn nằm vùng, chúng hoạt động chi tiết ra sao, những viên chức chính quyền, những quân nhân bị giết, giết như thế nào v.v xin xem trong cuốn Biến Động Miền Trung tôi ghi khá đủ như phúc trình của cảnh sát.

Kết quả là Huế điêu tàn đổ nát, 5327 đồng bào vô tôi bị giết, 1200 người bị dẫn đi mất tích, khăn tang trắng ngập cả Cố Đô. Ngoài lực lượng chính quy CS Bắc Việt và đảng CSVN, những tay trùm chủ chốt nhất của vụ Mậu Thân gồm có: Lê văn Hảo, Hoàng phủ ngọc Tường, Tôn thất Tiềm, Tôn thất Dương Kỵ Nguyễn Đóa, Nguyễn hữu Vấn. Những đại đồ tể nỗi cộm nằm vùng đã trực tiếp bắn, giết, đập đầu, chôn sống đồng bào gồm có: Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng văn Giàu, Nguyễn Thiết... Riêng nữ sinh Nguyễn thị Đoan trinh, con gái Nguyễn Đóa, y thị vô cùng tàn bạo sát máu. Y thị cỡi Honda, mang AK, chận hỏi mọi người. Bất kỳ ai trả lời là lính, cảnh sát, nhân viên chính quyền là y thị nổ súng bắn chết ngay.

Nhưng trời cao đôi khi không có mắt, y thị hiện nay vẫn sống chễm chệ trên tội ác, trở thành nữ thương gia giàu có tại Sài Gòn…

Tóm lại, chịu trách nhiệm không bảo vệ được đồng bào trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân là chính quyền VNCH các cấp, trong đó có cả tôi.

Còn thủ phạm tàn sát dân chúng là đảng CSVN, tất cả các nhóm tranh đấu nằm vùng. Qua lời khai của Hoàng Kim Loan và một số cơ sở Việt Cộng khác, những tài liệu thu thập được, cũng như qua các phương pháp thu thập và kiểm chứng thông tin với nhiều nguồn khác nhau, ty CSQG Thừa Thiên Huế cũng như ngành tình báo trung uơng của chính phủ VNCH đã có quá nhiều bằng chứng để kết luận như thế. Đảng Cộng Sản và những tay đồ tể này, cần phải bị đưa ra tòa án tội phạm quốc tế. Hãy so sánh vụ tàn sát Mỹ Lai mà Đảng CSVN vẫn sử dụng để quảng cáo cho “chính nghĩa cộng sản” và khỏa lấp tội ác của chúng. Tính tới thời điểm này, đã có quá đầy đủ bằng chứng cho thấy CS đã cố ý dùng thường dân vô tội để khiêu khích tạo ra các vụ tàn sát bởi bàn tay của một vài cá nhân quân nhân Hoa Kỳ như William Calley. Chiến lược gài độ này được dùng để tạo nên sự giận dữ của thế giới và mất đi sự ủng hộ của dân chúng Hoa Kỳ đối với cuộc chiến tại Việt Nam, và là một cái cớ rất tốt để bọn phản chiến kêu gào chữi rủa. Cộng sản Việt Nam đã không chừa mọi thủ đoạn nào để gài độ đối phương, thì trách nhiệm vụ Mỹ Lai có phải chỉ thuộc về phía Hoa Kỳ mà thôi? Và hãy nhớ rằng, súng đạn và vài bàn tay quân nhân Hoa Kỳ gây nên cái chết của vài trăm người Việt Nam, thì có thể so sánh được không, với súng đạn của cộng sản, bằng chính bàn tay của cộng sản Việt Nam, giết 5327 đồng bào Việt Nam, 1200 người mất tích, như vậy có thể nói, con số chết là 6527 người, trong một chiến lược và chủ trương của đảng cầm quyền?

Cộng sản đang đô hộ Việt Nam, đang tự cho mình là minh quân. Nhưng, “Những minh quân của hôm nay đều trở thành hôn quân của trăm năm sau”. Lịch sử sẽ định tội phân minh.

Và trách nhiệm cũng thuộc về nhóm Phật Giáo Ấn Quang như các ông Đôn Hậu, Trí Quang, Thiện Siêu, đã gây dựng cơ sở cho cộng sản, tạo mọi điều kiện cho chúng tràn vào Huế. Tuy các ông không tự tay tàn sát đồng bào như bọn cộng sản và đám Hoàng phủ, Hoàng văn Giàu, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết, nhưng các ông đã ủng hộ và đồng lõa, giúp tạo nên biến cố lịch sử thê thảm này…

Sau Mậu Thân, tỉnh trưởng Phan văn Khoa bị cách chức trả về quân đội. Đoàn Công Lập bị bắt. Trung Úy Trương Công Ân là người thụ lý hồ sơ ĐCL, hiện đang ở Orange County.

Trả lời câu hỏi: Sau 1975 Đoàn Công Lập cựu Trưởng Ty CSQG/Thừa Thiên-Huế trốn tránh VC tại Sàigon cho đến ngày bị bệnh qua đời. Như vậy Ông Đòan Công Lập làm sao là cộng sản nội tuyến?.

Đây là câu hỏi của một vị thầy giáo(?) đã dạy kèm cho con ông Lập tại Huế. Sau 1975 đã được Đoàn Công Lập che chỡ trốn tránh tại Sài gòn, như vậy Đoàn Công Lập khó có thể là CS.

Trong lịch sử tình báo, thật tình có nhiều chuyên không ngờ. Việc xãy ra vậy mà thực chất bên trong không phải vậy.

Xin đưa ra một vài vụ điển hình:
- Trong thời đệ I Cộng hòa, Ông Phạm Ngọc Thảo về hồi chánh đã cung cấp cho CP/VNCH nơi trú đóng của trung đoàn Quyết Thắng VC, Quân lực VNCH liền mở cuộc hành quân tiêu giệt gần trọn Trung đoàn nầy. Sau vụ nầy Ông Thảo đã tạo được lòng tin của chính phủ VNCH ông ta đã duợc nâng đỡ lan đến chức Tỉnh Truởng và cấp bậc cuối cùng là Trung Tá QLVNCH. Sau 1975 sự việc trung đoàn Quyết thắng mới một phần nào lộ ra ánh sáng:

Hầu hết cán binh của trung đoàn này là thương phế binh, bọn VC thí đám tàn binh này, để Phạm Ngọc thảo dùng làm món quà đầu thú, tạo niềm tin với chính phủ VNCH. Một công hai việc, vừa tẩy trừ gánh nặng thương phế binh, vừa cài được điệp viên trong lòng địch. Sau 1975 Phạm Ngọc Thảo được phong là liệt sĩ. Đây có thể được gọi là “khổ nhục kế” mà tình báo từ ngàn xưa đã áp dụng.

- BTL/ CSQG tại Sàigòn cũng đã bị VC đặt chất nổ. Báo chí Sài Gòn hồi đó đã chê bai lực luợng CSQG là bất lực. Nhung họ đâu ngờ rằng để bảo vệ Tình báo viên nội tuyến của mình, BTLCSQG buộc lòng cho nổ theo lệnh của VC.

- Cá nhân tôi sau khi trình bày đầu mối xâm nhập và được phép Đại Tá Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên chấp thuận, tôi đã vẽ sơ đồ xã Thủy An cho Đặc Công VC tấn công.

Với 3 ví dụ trên cho thấy việc Ông Đoàn Công Lập bảo vệ người thầy giáo chạy trốn cộng sản tại Saigòn thấy vậy, mà không phải vậy. Sau 1975, Đoàn Công Lập vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ dụ địch, ĐCL đã giúp thành lập những tổ chức kháng chiến do cục tình báo phản gián dàn dựng. Rất nhiều anh em bị bắt tại Sài Gòn là do ông lập chỉ điểm. Vụ kêu gọi anh em tham gia kháng chiến hẹn gặp tại xa lộ Đài Hàn để lên mật khu là do ông Lập dàn dựng. Tất cả đã bị Công An đợi sẵn ngoài xa lộ và bắt trọn ổ, một số đi ở tù về hiện nay đang ở Cali sẳn sàng đối chất về chuyện này.

Liên hệ với tình hình hiện tại, đó là việc tất cả hình ảnh thu thập được khi Ls Lê Công Định sang Thái Lan tiếp xúc với Nguyễn Sỹ Bình và “đại diện” Đảng Việt Tân để học tập về phương pháp đấu tranh bất bạo động do một chuyên viên từ khối Đông Âu sang giảng dạy. Theo nghề tình báo, chúng tôi phải bắt buộc đặt nghi vấn thủ phạm gài bẩy trước tiên phải là những người có mặt trong các cuộn phim tang chứng, rồi mới đến những nghi can khác. Chuyện chuyên viên Đông Âu, nghe qua, rõ ràng là một “brand name”, dĩ nhiên tạo được niềm tin cho những người đang mong mỏi dân chủ cho đất nước ngay tức thì, vì đó là cái nôi của việc lật đổ Cộng Sản. CS đã sử dụng nó để quyến rũ những trái tim nhiệt huyết nhưng hơi nhẹ dạ như LCĐ. Chuyện “đại diện” Việt Tân thì quá dễ dàng nhanh chóng kiểm chứng được là Việt Tân giả hay thật. Vấn đề Nguyễn Sỹ Bình bằng xương bằng thịt thì không thể gọi là Nguyễn Sỹ Bình giả được. Chuyện soạn thảo Hiến Pháp cũng là do chính y mớm lời và gài cho LCĐ sửa chửa, và còn nhiều rất nhiều chuyện nữa. Khi những thước phim có đủ hình ảnh việc gặp gỡ, trao đổi, được đưa ra, làm sao LCĐ có thể phủ nhận? Việc dàn dựng Việt Tân giả nhằm hai mục đích: dụ dỗ những người nhẹ dạ có tâm huyết trong nước, bởi vì Việt Tân cũng có tên tuổi trong các đảng phái chống cộng hiện nay. Chuyện thứ hai là để triệt hạ uy tín của Việt Tân. Riên g việc chọn lựa Nguyễn Sỹ Bình làm con mồi dụ địch thì nguyên tắc bắt buộc mà Cục Tình Báo Hải Ngoại của CS phải chọn, ứng viên phải là người có thành tích chống cộng ở tù cộng sản v.v.Càng chống cộng có bản án ở tù nhiều chừng nào, tốt chừng ấy. Đó là phương pháp “khổ nhục kế” mà tình báo tự cổ chí kim ai ai cũng đều áp dụng. Chúng tôi và cộng sản đều áp dụng rất nhiều. Chiêu nầy nó rất cũ rích, nhưng vẫn rất hiệu nghiệm trong quá khứ, bây giờ, và mãi mãi. Mong mọi người phải vô cùng cảnh giác. Việc dàn dựng lên các đảng phái chống cộng để bắt người mưu đồ chống cộng là điều đương nhiên cục tình báo CS quốc nội và hải ngoại bắt buộc phải làm. Chúng tôi, những người làm nghề tình báo, rất thuần thục trong vấn đề cài người và sử dụng khổ nhục kế, dễ dàng kiểm chứng và nhận thấy hiện nay có ít nhất 3 đảng chống cộng trong và và ngoài nước là do Công An Cộng Sản cò mồi dựng nên. Cha Lý, Công Nhân và Nguyễn văn Đài đã rớt vào cái rọ. Trong phạm vi bài viết này, tôi không thể phân tích đầy đủ tại sao tôi kết luận như thế. Xin hẹn dịp khác.

- Bửu Chỉ là ai?.

Đó cũng là một chuyện thấy vậy mà không phải vậy. Vì là bà con trong Hoàng Tộc nên tôi có thể nói rất nhiều về Bửu Chỉ, và Bửu Chỉ cũng đã mất vào ngày 14 tháng 12 năm 2002, nên xem như mọi việc làm của Bửu Chỉ phải được bạch hóa để trả lại danh dự, công bằng và những đóng góp của ông đối với quốc gia.

Đầu tiên xin nói về cá nhân Bửu Chỉ: Bửu chỉ thuộc dòng Tuy Lý Vuơng. Phụ thân của Bửu chỉ là Cụ Ưng Thuyên, cháu nội ngài Tuy Lý Vưong, chú ruột là thầy Ưng Quả, một người bạn rất thân với phụ thân của tôi. Cậu ruột là Nguyễn Dương Đôn, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục thời Đệ I Cộng Hòa.

Nói về cá tính và thói quen của Bửu Chỉ, cán bộ điều khiển NPLH hiện đang trú ngụ tại Cali, U.S.A. đã cho tôi biết như sau:

Sau 1975, Bửu Chỉ hút thuốc, uống rượu nặng, ham mê nữ sắc, nhưng lại thích sống cô độc. Mệ vì vậy mà sau 1975 đã ăn ở với vợ của Hoàng Phủ Ngọc Tường là Lâm thị Mỹ Dạ. Bửu Chỉ rất ghét xu nịnh.

Bửu Chỉ học hội họa, không phải học luật. Tranh Bửu Chỉ đẹp, bán rất đắt. Đã từng triễn lãm tại Pháp vào 1989. Vốn thuộc dòng dõi có truyền thống quốc gia yêu nước, Bửu Chỉ ý thức được tai họa của chủ nghĩa cộng sản, chúng tôi lại là họ hàng rất thân nhau, nên chuyện cộng tác vì lý tưởng chung là chuyện tự nguyện. Điều thuận tiện của Bửu Chỉ là bạn thân TCS, Đinh Cường và rất nhiều thành phần tranh đấu và đám SV cộng sản nằm vùng, lại tài giỏi, nên Bửu Chỉ đã dễ dàng thành công trong nhiệm vụ của một điệp viên quốc gia cài đặt trong mạng lưới nằm vùng. TCS và Đinh Cường cũng như những thành phần hoạt động nằm vùng cho đến nay đều nghĩ 100% Bửu Chỉ là đồng bọn của họ. Thân với TCS và đám nằm vùng tranh đấu chỉ là để thực hiện nhiệm vụ.

Bửu Chỉ là người quốc gia chân chính, đã đóng góp rất nhiều cho ty CSQG Thừa Thiên Huế trong việc phát hiện và theo dấu rất nhiều cơ sở nằm vùng, trong đó có những hoạt động CS của TCS. Chính Bửu Chỉ là một trong nhiều nhân chứng quan trọng đã khai và xác nhận là Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ngôì ghế ông tòa, chủ trì cái gọi là “tòa án nhân dân” tại trường Gia Hội. Ông Tòa Tường đã ban lệnh xử tử 204 đồng bào vô tôi bằng cách đập đầu bằng vật cứng sau đó chôn sống tại một hầm tập thể cũng ngay tại trường Gia Hội. Sáng ngày 26/2/1968 chúng tôi phát hiện ra hố chôn tập thể này. Tất cả iều mà Bửu Chỉ khai đều phù hợp với rất nhiều nhân chứng, trong đó có nhiều người là thân nhân là vợ con của ngụy quân ngụy quyền, ngụy cảnh sát bị hắn tuyên bố có nợ máu với nhân dân, đã có mặt tại phiên tòa hôm đó, và cũng hoàn toàn phù hợp với báo cáo của thiếu úy Trọng, trưởng toán tình báo khu vực quận 2, và lời khai của trung tá tình báo CS Hoàng Kim Loan mà chúng tôi bắt sau đó vào mùa hè 1972.

Không như TCS, không như đám bạn bè Việt Cộng nằm vùng, trái tim của Bửu Chỉ hoàn toàn dâng hiến cho quốc gia và lý tưởng tự do chân chính. Bửu Chỉ chết đi, không thẹn với tổ phụ, với non sông.

Tại sao không bắt đám nằm vùng và Trịnh công Sơn?
Điều mà tôi bị chất vấn, hay đúng hơn là bị kết án nhiều nhất là: tại sao TCS và nguyên một danh sách dài đám trí thức nằm vùng không bị bắt! Tôi có thể khẳng định một cách đơn giản như thế này: “Nếu ông thân sinh tôi làm CS thì tôi cũng bắt!”.

Và cũng để trả lời câu hỏi trên, tôi xin được hỏi ngược lại một câu: Chúng ta cần trốc cho tận gốc, hay chỉ cắt đi lớp cỏ bên ngoài? Để cho đám nằm vùng sinh sôi nẫy nỡ đến cỡ nào? lúc nào, và khi nào thì cần tóm gọn. Nên tóm những tên nào? Tên nào thì phải để lại cho nó thu hút những con ong chúa mới? Đó mới là việc mà giới tình báo chúng tôi phải suy tư tính toán.

Bài viết “TCS và những hoạt động nằm vùng” chỉ một bài viết ngắn, nói đến những hoạt động nằm vùng của đương sự và đồng bọn mà thôi. Cho nên chúng tôi không tiện trình bày diễn tiến sự việc, kết cục ra sao, như trong cuốn sách BĐMT. Ngắn gọn là, qua theo dõi nhóm nằm vùng này, chúng tôi đã tóm gọn trên 1500 cơ sở nội thành quan trọng và gần 60 cơ sở kinh tài, trong đó có những cơ sở rất quy mô, đưa đi Côn Đảo ngay, không thể cho ở lại Huế mà hòng mong ngụy tạo một vụ kiểu Chín Hầm thứ 2, trong biến động 1966. Điều tối quan trọng là, nếu Huế thất thủ, thành phần này sẽ tắm máu Huế lần nữa, chúng trả thù còn hơn cả Mậu Thân. Chiến dịch thần tốc này có tên là “Chiến dịch Bình Minh”. Chiến dịch thật sự bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng ngày 6 tháng 5 1972, nhưng trước đó 2 tiếng, để bảo đảm thành công trọn vẹn, chúng tôi đã quyết định bắt tên điệp viên chủ chốt nguy hiểm nhất, kiến trúc sư trưởng của toàn mạng lưới nằm vùng tại Huế và Miền Trung: Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan. Loan rất thông minh, hành tung xuất quỷ nhập thần. Chúng tôi tuyệt đối không thể để mất tên này. Hắn là cán bộ trực tiếp điều khiển Đôn Hậu, Trí Quang, thiết kế thành công nên một mạng lưới nằm vùng tinh vi và chặt chẽ, dưới vỏ bọc rất tôn giáo: Phật tử tiểu thương chợ Đông ba, Học sinh sinh viên Phật tử, chiến đo àn Phật tử, cảnh sát Phật tử, quân nhân Phật tử v.v . Rất nhiều lần Hoàng Kim Loan đã bí mật đến chùa Linh Mụ, Từ Đàm, gặp gỡ Đôn Hậu, Trí Quang. Chúng tôi theo dõi hắn và một số đồng bọn từ lâu. Và dĩ nhiên, chúng tôi muốn bắt hắn lúc nào mà chả được! Nhưng nếu làm như thế thì chỉ một vốn một lời. Chúng tôi muốn một vốn mười lời. Chúng tôi cần bắt trọn ổ, chứ không phải là vài ba tên tép riêu, đụng đâu bắt đó. Muốn đạt được điều này, chúng tôi theo dõi cặn kẽ, dài ngày và một kế hoạch cài người tinh vi mà phải tốn rất nhiều thời gian để có thể tạo được sự tin tưởng của bọn CS. Điều này đòi hỏi kiên nhẫn, công sức, nguy hiểm, và sự hy sinh rất lớn lao, ngay cả tính mạng, nhưng rất âm thầm đơn độc của biết bao nhiêu nhân viên CSĐB cài vào những cơ sỡ nằm vùng Huế.

Tại sao chúng tôi chọn thời điểm ngày 6/5/1972? Sở dĩ như vậy là vì tình hình Huế lúc đó đang hết sức nguy ngập. Chúng tôi đánh giá là kể từ ngày 6/5/72 trở đi, Việt Cộng có thể khởi động một cuộc tổng nổi dậy như tết Mậu Thân một lần nữa, bất cứ lúc nào, để tạo sức ép lên Hiệp Định Paris. Nên điều tối cần thiết là phải ra tay tóm ngay những thành phần nguy hiểm này, trước khi chúng dấy loạn. Để khỏi bị lộ, chiến dịch Bình Minh đã được tính toán chi li, cố không bỏ sót tên nào. Tôi đã ký sẵn trên 2000 lệnh bắt. Chiến dịch được thực hiện khẩn cấp và ráo riết trong vòng 12 ngày, trên toàn lãnh thổ Thừa Thiên, Huế. Nhóm không quan trọng như đám Trịnh Công Sơn, chúng tôi tiếp tục để chúng sinh sôi nẫy nỡ chờ các “vụ mùa” tiếp. Xin kể một vài cái tên “lớn” rất nỗi cộm tại Miền Nam mà chúng tôi, rất đau lòng khi khám phá ra trong chiến dịch Bình minh:

Đó là Trung tướng Trần văn Trung, Thiếu tướng Lê văn Nghiêm, dược sĩ Nguyễn Cao Thăng.

Hai vị tướng kia quý vị đã biết tiểu sử và chức vụ, xin nói về chủ nhân Pharmacy Tràng Tiền : thuộc cơ sở cục tình báo chiến lược, với 2 nhân vật bí mật là dược sĩ Nguyễn Cao Thăng và Nguyễn Thúc Tuân. Năm 1951, Nguyễn Cao Thăng được cơ quan quân báo CS bố trí từ chiến khu về đầu thú với chính quyền quốc gia. Sau đó y lập gia đình với bà Nguyễn thị Ngọc Diệp, con gái ông Nguyễn văn Nghi, tức Hội Nghi. Ông Hội Nghi là bác ruột ông Nguyễn văn Ấm, chồng bà Ngô đình thị Hiệp, em gái TT Ngô đình Diệm. Con trai đầu ông Hội Nghi là ông Nguyễn văn Lễ, lấy bà Ngô đình thị Hoàng. Nhờ thế lực bên vợ, Nguyễn Cao Thăng đắc cử dân biểu nhiệm kỳ 1 đơn vị Quảng Trị. Sau khi có thế lực, Nguyễn Cao Thăng ly dị vợ.

Nguyễn Cao Thăng trở thành tỷ phú năm 1963, tổng giám đốc công ty dược phẩm OVP. Hắn ta leo đến chức phụ tá Tổng Thống thời đệ nhị Cộng Hòa.

Trở lại Trường hợp TCS, chúng tôi đã thảo ra một phương án theo dõi tinh vi bí mật mà bọn này đến chết cũng không thể ngờ. TCS đến giờ này, ở suối vàng, cũng không thể ngờ nhân viên tình báo chịu trách nhiệm theo sát y lại là X, một trong những người bạn thân ra vào gần gủi với y. Cũng như vậy, đó là trường hợp Lê Khắc Cầm, cán bộ điều khiển TCS. Chúng tôi giả lơ như không bao giờ để ý LKC, không bao giờ biết y là CS, và y đã tự do tung hoành. Cầm cứ tưởng những thông tin mà y chuyển qua những chuyến bay quân sự là an toàn số một. Ai dám đụng tới máy bay các ông tướng, ông tá? Thật ra các thư từ tin tức đó đều bị chúng tôi đọc và phối kiểm trước khi đến tay người nhận. Cho nên, tôi, Liên Thành, khẳng định lời của Lê Khắc Cầm nói rằng, tác giả của “Thư gởi Ngô Kha” là TCS, là sự thật 100%. Người nhận cuối cùng của lá thư này là Lê Khắc Cầm. Khi cái “thư gởi Ngô Kha” của TCS được đưa ra công luận của CS gần đây, thì liền bị tranh cãi kịch liệt. Gậy ông đập lưng ông. CS nói dối quá nhiều, cho nên kỳ này nói thật thì thiên hạ lại nghĩ ngược lại. Khi đọc qua bút tích này, những người hâm mộ nhạc TCS đều không tin nỗi. Lẽ nào một người siêu thực như TCS mà lại ham muốn quyền lực như vậy? Điều này là thực hay hư? Chính quyền CS muốn nỗi tiếng, nên ăn có theo TCS? Con người đầy tính “triết và thiền” của TCS không thể là chủ nhân của lá thư đầy ham muốn quyền lực trần tr i như thế! Dĩ nhiên, nhiều tranh cãi đã xãy ra giữa nhóm bạn văn nghệ mới cũ , trên chính báo chí của CS, đến nỗi,“nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân” phải cất công đi “nghiên cứu” với Lê Khắc Cầm, để xác nhận xem TCS có thật là chủ của nó không. Cái bề ngoài đeo kính rất trí thức, đượm chút bất cần đời, lời nhạc thi khó hiểu như triết học, đã giúp TCS rất nhiều trong việc dư luận dễ dàng phủ nhận lá thư này là của đương sự. Hoàng Tá Thích, chồng Trịnh Vĩnh Tâm, em rễ TCS, em ruột của đại tá cộng sản Hoàng Xuân Tùy , cũng nhảy vào ăn có. Ông em rễ Hoàng Tá Thích cam đoan là TCS không màng danh vọng chính trị gì sất!

Tội nghiệp Lê Khắc Cầm. Ai không tin anh ta, nhưng tôi thì có thể làm nhân chứng cho anh ta, vì đó là sự thật. TCS là tác giả chính hiệu con nai vàng của cái ”Thư gởi Ngô Kha”, mà cơ quan CSĐB chúng tôi đã đọc qua.

Cơ quan CSĐB của chúng tôi đã giảo nghiệm nét chữ, và sau đó có nhờ cơ quan tình báo bạn phối kiểm. Kết quả đều khẳng định là của chính hắn. Trong bức thư này, TCS đã nguyền rủa đời sống tại Miền Nam thậm tệ, và ao ước có ngày được nối vòng tử sinh với Hà Nội. Anh ta cũng khẳng định mình là một nhân vật của “đám đông” được đám đông thần tượng, nên anh ta phải có bổn phận với đám đông này. Đám đông đó là ai? Một đám thanh niên bạc nhược, chống chiến tranh trốn lính? Một đám thanh niên học sinh của thời thượng? chuyên nghe nhạc Trịnh, đọc sách Phạm công Thiện? Bổn phận của TCS đối với đám đông của đương sự là gì? Nối vòng tay lớn của chế độ cực kỳ tàn bạo và man rợ, điển hình qua các vụ Cãi Cách Ruộng Đất, vụ Quỳnh Lưu, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, cho cái gọi là “đám đông” của hắn tại Miền Nam? Lá thư này đuợc viết vào mùa thu 1974. Xin quý vị tìm đọc là thư này ở www.damau.org để hiểu rõ thêm về TCS. Xin cho tôi miễn lời bình về nhân cách của TCS qua những lời mà y đã thóa mạ Miền Nam.

Một giai thoại giữa tôi với TT Nguyễn văn Thiệu, xin kể ra, để quý vị có thể tự trả lời câu hỏi tại sao chúng tôi không bắt TCS và nhóm nằm vùng Huế. Chúng tôi nhận được tin bọn CS sẽ đặt chất nỗ ở quán cơm Âm Phủ, khi Tổng Thống và các yếu nhân đến ăn ở đó. Tôi trình Đại Tá Tỉnh Trưởng, Ông không quyết định được mà nuốn tôi cùng đi với ông vào trình tổng thống chuyện này, vì khi đó Tổng Thống đang nghỉ đêm tại Tòa Đại Biểu, lòng vô cùng băn khoăn lo lắng. Sau khi nghe tôi thuyết trình xong, ông cười tỉnh bơ và nói chỉ đúng hai chữ: “Cho nỗ!”. Tôi tròn mắt ngó ông. Cái mà tôi chờ đợi không phải là 2 chữ đó, tôi chờ đợi 2 chữ khác, đó là “cho bắt”. Hiểu vẻ mặt sững sốt và hai con mắt đang trố ra của tên trưởng ty trẻ người non dạ, ngó thẳng vào tôi, ông điềm nhiên nói “Không biết mới sợ, biết thì còn sợ gì? Cho nỗ!” “ tổng thống cho lệnh em đó!” Và chúng tôi đã cho nỗ tại quán cơm Âm Phủ. Tiếng nỗ long trời lỡ đất kèm theo sự mừng rỡ của nhóm MTGPMN, bọn nằm vùng, và CS Bắc Việt, dĩ nhiên. Nhưng có điều, phía chính phủ VNCH không có ai bị giết như ý chúng mong muốn. Một thời gian sau, nhóm hoạt động khủng bố này đã bị chúng tôi tóm gọn.

Riêng nhóm họat động chung với TCS, gần 5 năm sau, thời điểm tháng 6 năm 1972, chúng tôi đã bắt khi chúng đang chuẩn bị tiếp một cuộc tắm máu thứ 2 như tết Mậu Thân. Chúng vẫn chọn lại cái tên quen thuộc sặc mùi tuyên truyền bịp bợm và đầy máu là “cuộc tổng nỗi dậy”. Vào ngày 6/5/1972 và 11 ngày tiếp theo sau đó, chúng tôi bắt gọn 1500 sơ sở quan trọng của VC đưa đi côn đảo. Trong số đó có cả các viên chức VNCH, sĩ quan, quân nhân VNCH như thiếu ta Lê Cảnh Thâm, trưởng ty CSQG tỉnh Quảng Trị, năm 1966., chi khu phó chi khu Hương Trà tỉnh Thừa Thiên màu hè đỏ lửa 1972, có anh ruột là thiếu ta quân báo CS móc nối từ khi y còn là trung sĩ, CS đã dùng tiền bạc chạy chọt cho học khóa sĩ quan đặc biệt rồi tiếp tục dùng tiền để lọt vào các chức vụ quan trọng. Y đang chờ lệnh thuyên chuyển tới trung tâm hành quân của BTL tiền phương quân đoàn I, để lấy tin tức hành quân của Trung Tuớng Ngô quang Trưởng, đang cố đánh bại 10 ngàn quân CS, tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Việc sắp thành thì bị SCQG Thừa Thiên Huế phát hiện trong chiến dịch Bình Minh. Y bị bắt. Bác sĩ Lê Khắc Quyến, khoa trưởng ĐH y khoa Huế, thành viên phong trào Hòa Bình. Nhà của Lê Khắc Quyến là căn cứ lõm, từng chứa chấp Phạm văn Nhân, em của thủ tướng CS Phạm văn Đồng. Nguyễn khoa Phẩm, chủ tịch hội đồng tỉnh Thừa Thiên, hoạt động trong tổ tôn giáo vận, em y là Nguyễn khoa Diệu Hồng, con nuôi Hồ Chí Minh, chủ tịch hội phụ nữ Việt Nam. Phẩm và Hồng là bà con với Nguyễn khoa Điềm, Ủy viên Trung uơng Đảng, đặc trách văn hóa giáo dục. Nghị viên hội đồng tỉnh Lê Quang Nguyên,…

Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tôi không thể trình bày chi tiết như trong cuốn BĐMT. Xin thông cảm. Riêng TCS , chúng tôi chưa bắt vội, hơn nữa, khả năng y đang làm việc cho cơ quan tình báo ngoại quốc rất cao, chuyện bắt rất rắc rối, chưa chắc đã là hay. Tốt nhất là cứ để tình trạng như vậy mà khai thác cả hai phía. Thêm vào câu hỏi này là ý kiến cho là nhạc TCS gây nguy hại cho đất nước, lại hoạt động nằm vùng, tại sao chính quyền không bắt? tôi xin nhắc lại câu chuyện của tên nhà báo nằm vùng CS Vũ Hạnh. Sau khi chính quyền bắt tên CS Vũ Hạnh, liền bị một số rất đông các nhà văn nhà báo tên tuổi trong hàng ngũ quốc gia làm yêu sách chống đối kịch liệt. Họ đã gây không ít sóng gió cho chính quyền đương thời, kết án chính quyền bịt miệng báo chí, đàn áp đối lập. Cuối cùng, chính phủ đành nhượng bộ, thả Vũ Hạnh. Sau 1975, Vũ Hạnh hiện nguyên hình là tên cộng sản, hắn thản nhiên giáng tội cũng như tham gia tố cáo tội ác Mỹ Ngụy phản động cho chính những “nhà” báo nhà văn, mà đã nằng nặc đòi chính phủ VNCH phải thả hắn ra. Có lẽ, đó chính là lúc các nhà văn bút tên tuổi này mới thấm sâu hai chữ cay đắng. Và tôi cũng tự hỏi, nếu như giới hữu trách lúc ấy cho lệnh bắt TCS, liệu nhóm nhà văn nhà báo “quốc gia thứ thiệt” này sẽ không làm chuyện đất bằng dậy sóng?

Tóm lại, âu đó cũng là điều đáng cho chúng ta suy gẫm về hai chữ “tự do”, nhất là những ai đã ký tên yêu sách thả các tên VC. Tục ngữ mình có câu “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” Họ không biết gì hết, nhưng không muốn dựa cột. Họ bù trớt như vịt nghe sấm, nhưng miệng họ to. Họ to miệng đến nỗi tự cho mình thành lập nhóm cái bang, có tên rất nỗi một thời là Ký Giả Ăn Mày. Họ có công bằng không, với những nhân viên công lực không tên không tuổi, hy sinh cả mạng sống mình, ngày đêm cố gắng truy tìm từng tên CS một, để bảo vệ nền Cộng Hòa? để rồi các nhà văn, báo, bút này đòi thả ra? Các nhà văn nhà báo kiểu đó, có bao giờ họ tự nhận phần nào trách nhiệm với lịch sử ?

Sự vụ lệnh của Trịnh công Sơn
Có trách cứ rằng tại sao tôi cấp Sự Vụ Lệnh cho TCS trốn lính trong khi đó lại chẳng nhận được gì đáng kể từ đương sự, cho nên, tôi cũng đáng chết theo TCS lắm lắm! Tôi hiểu sự bực tức này. Nghề của tôi là tình báo, nói trắng ra, tôi là một gã buôn tin tức. Những gì tôi cho TCS là một, thì tôi phải lấy lại ít nhất cũng là sáu bảy. Việc chúng tôi nói TCS chỉ cung cấp cho chúng tôi 1/10 tin tức mà đương sự biết, có nghĩa là chúng tôi đã biết tỏng 10/10 rồi. Không biết hết thì làm sao chúng tôi xác định là 1/10 được? Nói ra đây, chỉ là để công luận đánh giá tấm lòng của TCS có biết quay lại với lương tri con người hay không mà thôi. Nhất là sau khi chính đương sự đã biết rõ cảnh đồng bào Huế của hắn bị trói lại từng xâu dài, bằng dây kẽm, dây điện thoại, dây thừng, từng xâu người, lần lượt bị đập đầu, kẻ sống người chết, đều bị chôn vùi trong những hầm tập thể. Đau cho Miền Nam, là hắn vẫn chọn phía tội ác! Dù hắn chỉ cung cấp cho chúng tôi 1/10 những gì hắn biết, thì 1/10 đó cũng đủ cho chúng tôi phát hiện rất nhiều các tay CS nằm vùng liên hệ quanh hắn, chúng tôi cũng “lời bộn” rồi! Có người lại cho rằng Sự Vụ Lệnh mà tôi cấp cho TCS chỉ có giá trị tại Huế mà thôi, trong khi đó, đa phần là TCS lại ở Sài Gòn, thế thì tại sao TCS không bị bắt lính tại Sài Gòn? và như thế, có nghĩa là toàn bộ chuyện mà tôi nói ra chỉ là “ láo”. Thưa, hãy bình tĩnh, chuyện gì mà phải nóng nãy kết luận hồ đồ như thế? Muốn vạch lá tìm sâu nhưng mà lại không có một tí kiến thức gì về luật pháp cũng như giá trị của cái SVL rất ngon lành này, nên sâu làm sao mà bắt cho có? Nếu Cảnh Sát hoặc Quân Cảnh Sài Gòn hay của bất cứ tỉnh nào bắt TCS chẳng hạn, thì chỉ cần TCS xuất trình cái SVL này ra, cơ quan bạn phải gọi ngay cho Ty Cảnh Sát Thừa Thiên Huế. Chỉ cần chúng tôi xác nhận đó là người của chúng tôi, thì cơ quan bạn phải lập tức thả TCS ra vô điều kiện, mà không có quyền tra vấn gì thêm cả. Đó là luật của VNCH và cũng là luật của nhiều nước khác. Ở Mỹ cũng thế thôi! Như vậy, nó mới làm cho gã trốn lính TCS này thèm muốn mà phải cộng tác với chúng tôi chứ!?

Riêng vấn đề TCS có hoạt động cho tình báo ngoại quốc hay không, và là ngoại quốc nào, tôi biết rõ 100%. Nhưng điều này tôi không thể viết rõ. Khi chúng tôi đã mở hồ sơ theo dõi, thì con ruồi bay qua chúng tôi cũng biết. Cũng như rất nhiều chuyện đời thường của đương sự mà nói ra thì quả thật khó tưởng tượng nỗi. Nếu tôi viết rõ TCS hoạt động cho tình báo ngoại quốc nào, điều chắc chắn là sẽ ảnh hưởng đến an nguy của những người còn ở lại, và ngay cả chính cá nhân tôi. Và như tôi cũng đã nói, việc công bố những hoạt động tình báo 3 mang của TCS khi đương sự còn sống thì chẳng khác nào đưa một bản án tử hình cho đương sự và cho những người khác, đã âm thầm theo dõi những hoat động nằm vùng của TCS trước kia, mà nay còn bị kẹt lại ở quê nhà. Ai có thể đoan chắc là công an CS không tìm ra manh mối được? Tôi lập lại, tình báo có luật của tình báo, đó là lương tâm, là đạo đức dành cho các cộng sự viên của mình. Tôi chỉ có thể viết đến thế là cùng. Điều này nó cũng gián tiếp trả lời cho câu hỏi ‘Tại sao tôi lại đưa tên nằm vùng TCS đi Mỹ?!” Tất nhiên, chuyện này đã gây nhiều phẫn nộ, và nó có vẽ rất mâu thuẫn, thậm chí gây ngờ vực đối với tôi. Tại sao một kẻ “diệt cộng” như tôi lại rủ một tên nằm vùng đi Mỹ?

Thưa đâu có gì mà khó hiểu? Trước đây, tôi là “cán bộ” điều khiển TCS. Tôi cũng là chỉ huy trưởng trung tâm Phụng Hoàng Huế. “Ai đó”, họ biết chứ! Và vì vậy, họ đã yêu cầu tôi làm việc này. Tôi chỉ là một kẻ trung gian cho “ai đó”( xin quý vị tự hiểu),“ mời” TCS đi Mỹ mà thôi, cũng như ông Đỗ Ngọc Yến vậy,ông ta cũng đã phải “rủ” TCS đi Mỹ ! Chuyện đơn giản có thế !

Tôi cũng xin minh định một điều, tôi, lúc TT Ngô Đình Diệm bị thảm sát, chỉ mới 20 tuổi, còn là sinh viên, chưa hề giữ một chức vụ gì trong chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa. Tôi sinh vào tháng cuối cùng của năm 1942. Từ đó đến nay, tôi chưa hề tham gia bất kỳ một đảng phái chính trị nào.Tôi quý trọng nhân cách và tài năng của TT Ngô Đình Diệm, nhưng tôi cũng ủng hộ tinh thần chống cộng và đánh giá cao khả năng của TT Nguyễn văn Thiệu, trong số những người có tiềm năng lãnh đạo còn lại của Miền Nam. Điều này nghe ra, sẽ có một số người cho là nghịch lý, là ba phải. Vì “pro”TT Diệm mà sao lại còn ủng hộ cả Nguyễn văn Thiệu? kẽ đã bị kết án là một trong những thành viên tham gia đảo chánh, nhận 100 ngàn của Conine, có chứng từ chũ ký hẳn hoi!

Thưa, quan điểm của tôi rất rõ: tôi không bao giờ mù quáng yêu thương hay đập đổ một chính quyền nào cả. Tôi chỉ hết lòng bảo vệ Thể Chế Việt Nam Cộng Hòa, mà qua thể chế đó, quyền làm người được luật pháp minh định và thực thi, thông qua một chính quyền do dân bầu hợp pháp. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của tôi. Tôi không thể đang tâm đập phá một thể chế, một chính phủ đang điều hành đất nước, khi mà chưa có một chính phủ khác tốt hơn để thay thế. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã có tham gia đảo chánh phá đổ nền đệ nhất cộng hòa, nhưng sau đó, nếu chúng ta không chọn ông thì chúng ta chọn ai? Dương văn Minh? Trần Thiện Khiêm? Vũ văn Mẫu, Nguyễn cao Kỳ?

… Dù sao đi nữa, thì ông cũng là “cái tốt nhất” còn lại mà chúng ta có được. Nhất là ông đã được dân bầu, và nhất là khi quốc gia với nền dân chủ còn non trẻ, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh ghê khiếp nhất trong lịch sử loài người, đó là cuộc chiến tranh chống lại Chế Độ Cộng Sản. Kết quả thì người Việt Nam từ Nam chí Bắc đều thấy rồi đó! Cái mà lịch sử đã thế vào, sau khi một thiểu số ngông cuồng say sưa đập đổ chính phủ VNCH, là cái thể chế Cộng Sản!

Tôi sẽ không bao giờ là người đập đổ bất cứ chính phủ VNCH nào do dân bầu lên, cho dù vị Tổng Thống đó tôi có ghét cay ghét đắng, nhất là lúc quốc gia đang trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Tôi chỉ muốn góp phần gìn giữ và làm cho nó tốt đẹp hơn, qua lá phiếu, theo sự suy nghĩ, theo cách của tôi. Vì nếu không làm như thế, thì tôi đã mặc nhiên giúp sức cho CS thanh toán chính quyền non trẻ VNCH, mà lại còn hợm hĩnh ngu xuẫn cho mình là có công với quốc gia dân tộc!

Tôi không có ý định viết sử. Tôi chỉ muốn cung cấp cho lịch sử những vấn đề mà tôi biết, chuyện gì tôi đã làm, đã thấy. Để lịch sử phải đúng là lịch sử: Đó là, lịch sử phải là sự thật.

Điều gì biết rất rõ thì tôi mới viết. Những gì còn mù mờ thì không bao giờ tôi đề cập đến. Đó là bản chất của tôi, để ngày nào gặp lại tổ tiên tôi, ông tôi, cha tôi, tôi không thẹn với các ngài là tôi đã không dám nói lên sự thật.

Nhân tiện đây, với tư cách là thành viên trong Hoàng Tộc Nguyễn Phúc, tôi có lời chia xẽ với bất cứ ai mang dòng máu Nguyễn Phúc là, dòng họ, tổ tiên chúng ta đã có công lớn trong việc mỡ mang, khai hoang lập ấp, giữ gìn phát triễn bờ cõi quốc gia. Ngày hôm nay, quê hương chúng ta không còn như khi các ngài còn tại thế. Lãnh thổ và lãnh hải đã mất, Cao Nguyên Trung phần Việt Nam cũng đang mất. Đến khi nào thì quốc gia mà đức Cao thế tổ Hoàng Đế Gia Long đã đặt tên là Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay Bắc Kinh? Ai làm chuyện bán nước này? Nếu không phải là Cộng Sản Hà Nội? Và ai trong hoàng tộc đã và đang tiếp tay, cộng tác, phò tá cho bọn bán nước cộng sản tàn bạo này? Xin thưa, quý vị đã bán lương tâm, bán linh hồn, bán đi danh dự, làm đau lòng các bậc tiên đế dòng họ Nguyễn phúc! Phủ phục bọn bán nước CSVN, quý vị đã làm nhục các ngài!

Tôn Nữ Thị Ninh là một trong những điển hình cho việc làm nhục anh linh tiên đế. Đề nghị Hoàng Tộc khai trừ tất cả các thành viên đã ít nhiều bắt tay giúp sức cho bọn CS bán nước.

Thần quyền và thế quyền
Bài viết này, tôi riêng tặng tất cả những chiến sĩ quốc gia của lực lượng CSQG Thừa Thiên Huế, đặc biệt là những anh linh tử sĩ đã nằm xuống, đã bỏ mình âm thầm lặng lẽ trong mặt trận tình báo cực kỳ nguy hiểm trong lòng địch, để diệt trừ họa cộng sản. Tôi cũng dành tặng cho những ai yêu chuộng sự thật, và muốn thẳng thắn nhìn vào sự thật. Tôi không viết cho những kẻ muốn vạch lá tìm sâu, những kẻ chạy tội, những kẻ mù quáng phạm thượng đánh đồng tôn giáo với những người “lãnh đạo tôn giáo”, những kẽ cố tình đánh đồng những bậc chân tu với những tên cộng sản mặc áo tu hành.

Tôi xin chia xẽ vài suy nghĩ về vấn nạn thần quyền lũng đoạn thế quyền mà trong đó cá nhân tôi đã là một nạn nhân.

Cuối tháng 12/1969, chúng tôi nhận được tin tức từ cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ CID tại Phú Bài cho biết có điện đài đang phát sóng tại địa điểm X, mà sau đó, chúng tôi xác định được là chùa Trà Am. Hai tháng sau, 4 tấm không ảnh chụp về đêm được nhận diện rất rõ có 3 tên VC vũ trang xuất hiện tại hậu trai của chùa. Tôi và đại úy Trương Công Ân trưởng phòng CSĐB liền thiết lập một trạm bí mật theo dõi. Chưa đầy 6 tuần lễ sau, chúng tôi phát giác một số đối tượng CS mà chúng tôi vẫn đang theo dõi lên chùa hội họp vào những ngày thứ bảy chủ nhật, khi mà có đông thiện nam tín nữ đến lễ chùa. Vào trung tuần tháng 5/1970 sẽ có phiên họp của cơ sở nội thành diễn ra tại đây. Lúc 6giờ 30 sáng ngày 19/5 chúng tôi đổ 2 trung đội CSDC và 20 CSĐB đến vây chùa, bắt được một phụ nữ dưới 30 tuổi tên là Lê Thị Út, cán bộ an ninh thành ủy Huế, năm thanh niên khác, cùng thầy Thích Như ý. Tang vật gồm có một số tài liệu của CS gồm một nghị quyết mới nhất của trung ương đảng CS. Sau đó, qua khai thác 7 người này, chúng tôi biết được buổi họp tối hôm đó là để bố trí công tác cho 5 cơ sở nội thành, thực hiện một số mục tiêu phá hoại khủng bố, đặt chất nổ tại các cơ quan quan trọng của chính quyền và hai rạp Ciné Tân Tân và Châu Tinh.

Khi chúng tôi rời chùa Trà Am 9 giờ sáng ngày 19/5/1970 thì 3 giờ chiều cùng ngày, Phật Giáo bắt đầu biểu tình. Đoàn biểu tình rầm rộ kéo xuống tòa Hành Chánh Tỉnh phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, yêu cầu thả người! Nghĩ mà cay đắng. Tất nhiên, chúng tôi không thể thả CS mà trong đó bao gồm ông Thích Như Ý. Ngày 20/5 lực lượng phật Giáo tiếp tục biểu tình rầm rộ hơn, phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, yêu cầu thả người. Tình hình càng lúc càng trầm trọng. Cùng ngày, chúng tôi nhận được 2 công điện khẩn, một từ văn phòng tư lệnh CSQG thiếu tướng Trần Thanh Phong và một của đại tá trưởng khối CSĐB yêu cầu giải thích nội vụ chuyện bắt Thích Như Ý. Tất nhiên tôi lập tức phúc trình nội vụ. Chung quy cũng vì cái chữ “Thích” của ông ta mà ra, nếu ông ta không mang họ “Thích” như mấy tên VC kia thì chính quyền địa phương, trung ương, và anh em chúng tôi đâu phải khốn đốn đến vậy. Và chuyện dĩ nhiên không dừng tại đó. Chúng tôi tiên liệu chuyện sẽ nổ lớn, vì Thích Như Ý có liên hệ gia đình với Tượng Tọa Thích Trí Thủ, Tổng Thư Ký viện Hóa Đạo Sài Gòn. Khả năng một biến động về phật Giáo lại xãy ra chỉ là chuyện thời gian. Ban tham mưu chúng tôi không còn giải pháp nào hơn là nhanh chóng lập hồ sơ đưa ra hội đồng an ninh tỉnh hoặc giải tòa, cùng lúc thương lượng với phía Phật Giáo. Tối 21/5, tôi đích thân đến chùa Linh Quang, gặp thượng tọa Mật Nguyên. Là một người cao tăng đức độ, phật tử hay bất cứ ai gặp ông đều nể trọng, ông giữ chức chánh đại diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh sau khi Đôn Hậu thoát ly ra bắc. Mặc dù phải đương đầu với những áp lực nặng nề từ những tín đồ quá khích và đám cơ sở VC đội lốt tăng ni, ông luôn luôn chủ trương tìm cách hòa giải với chính quyền bằng tấm lòng ngay thẳng từ bi. Ông tiếp tôi tại nhà hậu trai. Sau khi tình cho ông những bằng chứng, bốn tấm không ảnh, lời khai của Thích Như Ý và đồng bọn. Tôi cho Thượng Tọa biết là chúng tôi sẽ đưa ra hội đồng an ninh tỉnh, hoặc ra tòa, có thể mở họp báo để công luận suy xét.

Và tôi cũng đã hỏi ông: “ Bạch thầy, cứ mỗi lần lực lượng CSQG phá vỡ và bắt giữ một số cơ sở nội thành, thì giáo hội tại Huế lại tổ chức biểu tình, cho là chính quyền đàn áp Phật Giáo, bắt bớ tăng ni phật tử. Vậy những người biểu tình đó là ai? Họ ở bắc hay nam vĩ tuyến 17?” Trầm ngâm một lúc, cuối cùng, ông nói với tôi:

“Con biết trong giáo hội Huế, người của bên kia cũng nhiều, khó mà kiểm soát được họ. Nhưng thôi, thầy không muốn đề cập đến chuyện này. Các cuộc biểu tình vừa rồi không phải là giáo hội hành động, mà là do một nhóm Phật giáo đồ. Khi nghe tin chùa Trà Am bị lục soát và thầy Như Ý bị bắt, họ hấp tấp biểu tình phản đối. Họ chẳng cần xin lệnh của giáo hội, chẳng có lệnh của Thầy. Mọi chuyện có thể trầm trọng hơn, thôi thì mỗi bên nhường nhịn nhau một tí. Thầy sẽ cho họ biết rõ nội vụ, yêu cầu họ chấm dứt biểu tình. Phần con cũng nên tha cho thầy Như Ý và mấy người đó đi, mọi chuyện hóa giải tất cả”. Tôi không đồng ý.

“Bạch thầy, thật khó cho con. Thầy Thích Như Ý và mấy người kia là cơ sở và cán bộ an ninh nội thành Việt Cộng. Họ đang mưu toan và đã có kế hoạch đặt chất nổ phá hoại, giết hại dân lành. Họ phải bị truy tố ra tòa” Thượng tọa ngắt ngang lời tôi:

“Thôi được, mấy người kia là chuyện ngoài đời, thế tục, thầy không muốn nhúng tay vào. Riêng thầy Như Ý, con tha cho ông ta. Con có muốn thầy đứng ra bảo lãnh cho thầy Như Ý không?” tôi trả lời ông:

“Dạ, không dám. Con chỉ có thể hứa với thầy là con sẽ đưa ra Ủy Ban An Ninh tỉnh, với đề nghị thật nhẹ. Nhưng với 6 người kia thì con vẫn lập thủ tục giải tòa. Và lời hứa thứ 2 là sẽ không họp báo công bố nội vụ, nhưng với điều kiện sẽ không có cuộc biểu tình nào nữa vào ngày mai”.

“ Con yên tâm đi. Thôi con về. Xe để ở đâu? Con ra cửa sau, cẩn thận đừng để ai thấy, kẻo thiên hạ lại tung tin thầy có quan hệ với ông Liên Thành, với Mỹ. Ngoại trừ có chuyện khẩn cấp, bình thường con cứ nói thằng Bích lên đây gặp thầy là được rồi”.

Ngày 22/5 hồ sơ Thích Như Ý và đồng bọn được chuyển qua hội đồng an ninh tỉnh truy tố với đề nghị: Thích Như Ý: 3 tháng. Sáu đồng bọn: 2 năm tái xét. Và cuộc biểu tình chấm dứt lúc 10 giờ sáng ngày 22/5/1970.

Mọi chuyển tưởng đã ổn, nhưng không. Ba ngày sau, 26/5, viên cố vấn CSĐBN gặp tôi:

“Đại Úy Thành, ông gặp rắc rối rồi”. Ông ta cho biết, nội trong ngày, khoảng 2 hay 3 giờ chiều, thiếu tướng Nguyễn Thanh Phong, tư lệnh CSQG và một phái đoàn cao cấp của chính phủ gồm đại tá Nguyễn Khắc Bình, giám đốc phủ Đặc Ủy Trung Uơng tình báo, một đại tá thuộc cục an ninh quân đội, nếu tôi nhớ không lầm là đại tá Nhuận và 4 sĩ quan cao cấp thuộc khối CSĐB/BTL sẽ gặp tôi điều tra việc bắt Thích Như Ý và lục soát chùa Trà Am. Như thế, “chuyện đã lớn” tôi lẩm bẩm...

Từ phi trường Phú Bài, đích thân tướng Phong gọi cho tôi ,yêu cầu tôi trình diện ông ta tại phòng khách danh dự của phi trường. Biết là chuyện không lành, một mất một còn, tôi cố gắng thu gom tất cả tài liệu, tang chứng, kể cả khối chất nỗ gồm 6kg chất nỗ TNT và 8 ngòi nỗ chậm, mà Lê thị Út đã chuyển từ mật khu về chùa Trà Am, sau đó đem cất giấu ở vùng nghĩa trang gần núi Ngự Bình, tôi để ở ngoài xe, cùng hình chụp tang vật.

Sau gần 30 phút thuyết trình diễn tiến và kết cục của sự việc, tôi kết thúc bằng câu nói “Trình Thiếu Tướng và quý vị trong phái đoàn, khối 6kg chất nỗ TNT và 8 ngòi nỗ chậm hiện đang để ngoài xe, quý vị muốn xem tôi mang vào?”.

“Không cần đâu Liên Thành. Thiếu Tướng muốn hỏi em một câu nữa, Tại sao Phật Giáo ngưng biểu tình?”

Tôi thuật lại cuộc gặp gỡ và những thỏa thuận giữa Thượng Tọa Mật Nguyên và tôi cho ông nghe.

Tôi hiểu phần trình bày của tôi đến đây là quá đủ. Tôi xin phép ra ngoài, để cho phái đoàn thảo luận và quyết định số phận của mình. Vả lại, tôi cũng đã quá mệt, quá chán.

Rời phòng khách danh dự, tôi đứng ở cửa dành cho hành khách ra phi cơ, ngước nhìn trời xanh mây trắng, lòng thanh thản vì đã chấm dứt được sự căng thẳng hơn tuần nay. Lúc đầu, đối đầu với chùa Trà Am, nay thì phải đối đầu với BTL/Cảnh Sát, Phủ Đặc Ủy tình Báo trung Uơng, Cục An Ninh quân đội. Tôi phó mặc cho định mạng, ra sao thì ra, tới đâu thì tới! Tự hỏi,= không ngờ vụ này đụng chạm một hệ thống các thầy bên trên quá lớn? Quyền lực của hệ thống này trên cả phép nước? Như vậy, liệu có chống nỗi Cộng Sản không?

Một lúc sau, một thiếu tá đến mời tôi vào gặp lại Thiêú tướng Nguyễn Thanh Phong. Không khí phòng khách lúc này có vẽ bớt căng. Ông nói:

“Liên Thành, thiếu tướng và phái đoàn phải trở lại Sài Gòn bây giờ. Vụ trà Am, Thiếu tướng và phái đoàn đã rõ”.

Tôi đưa Thiếu tướng và phái đoàn ra phi cơ. Trước khi bước lên phi cơ, ông nói với tôi;

“Huế khó lắm. Em chu toàn công việc như vậy là tốt rồi. Gắng lên! Về ông Như Ý, cũng nên nhẹ tay cho ông ta phần nào.”

Mọi người lần lượt bắt tay tôi rồi bước lên máy bay. Đại Tá Nguyễn Khắc Bình siết chặt tay tôi. Tôi hiểu ông muốn biểu lộ sự thấu hiểu và chia xẽ nào đó. Tôi nói nhỏ, vừa đủ ông nghe: “Cảm ơn Đại Tá”.

Phi cơ cất cánh, để lại làn khói trắng phía sau giữa bầu trời trong xanh, và cũng để lại lòng tôi một nỗi cay đắng, mãi cho đến bây giờ.

Sau đó, một cố vấn, hay đúng hơn là một người bạn bên cơ quan tình báo Hoa Kỳ cho tôi biết là trước đó, trung uơng đã có lệnh bắt tôi làm con dê tế thần, để xuống nước với phía Phật Giáo. Nhưng bên cơ quan tình báo bạn, kẻ đã báo và giúp cho tôi tìm ra ổ hoạt động phá hoại khủng bố, đã can thiệp. Tôi chỉ im lặng, tôi chỉ muốn là kẻ điếc và câm. Tôi tìm hiểu đúng sai chi cho thêm đau lòng. Cứ cho là đế quốc Mỹ đã cứu tôi vậy. Rồi tôi lại nghĩ, nếu chúng tôi không bắt ông Như Ý và đồng bọn, bao nhiêu máu dân lành sẽ đổ ra dưới sức phá hoại của 6 kg chất nỗ TNT? trong 2 rạp hát Châu Tinh và Tân Tân? Trong các cơ quan công quyền? Có lẽ, chỉ có ông Như Ý và những ai bao che, hoặc vì sợ mà bao che cho ông tu sĩ Việt Cộng này, mới trả lời được cho lịch sử.

Tiếp đó, vào tháng 7/1970, chúng tôi phá vỡ tổ chức an ninh nội thành, bắt giữ tên huyện ủy viên Hồ Ty, tự Sơn Lâm. Tháng 8 sau đó, chúng tôi phá vỡ tổ chức biệt động thành, bắt giữ Lê viết Kiểu, huyện ủy viên, tổ trưởng đặc công và thêm hai tổ viên của y tại thôn Vỹ Dạ, quận Phú Vang. Cuối tháng 8/1970, chúng tôi bắt giữ thêm Nguyễn Thăng, cán bộ kinh tài tại thôn Vân Dương, quận Hương thủy, trong một căn hầm bí mật. Qua thẩm vấn điều tra dõi 3 tên này, ty CSQG TT/Huế phát hiện rất nhiều cơ sở kinh tài Việt Cộng trong nội thành, đem lại lợi tức hàng năm khoảng 30 triệu đồng cho Việt Cộng tại Huế. Trong đó, có ba cơ sở kinh tài lớn nhất là Lê hữu Trí, chủ tiệm sản xuất đồ gỗ, Nguyễn Hải, chủ nhân khách sạn Hương Bình, Nguyễn Xin, em Nguyễn Hải. Cơ sở của Nguyễn Xin quan trọng nhất, đem lại lợi tức khoảng 1/3 tổng thu nhập của CS tại Huế. Nguyễn Xin là chủ hảng khai thác gỗ tại vùng rừng núi Thừa Thiên bao gồm Ashau, A Lưới, Tà Bạt, Khe Lụ, Khe Đá Mài, Khe Trai, Động Chuối, thượng nguồn sông Bồ, sông Hữu Trạch.

Đây là những nơi mà lực lượng chính quy CS và cơ quan Tỉnh Ủy, Thành ủy thường xuyên trú đóng dưỡng quân. Năm Mậu Thân, CS đã dùng các nơi này để tập trung quân, thiết lập sa bàn thực tập để tấn công Huế. Ngoài nhiệm vụ kinh tài, Nguyễn Xin còn giữ nhiệm vụ rất quan trọng nữa, đó là cán bộ đường dây liên lạc: chuyên chở vú khí đạn dược, cán bộ bí mật từ các vùng trên về nội thành Huế và ngược lại. Cả ba tên này đều có vỏ bọc rất tốt, đó là cả 3 đều là khuôn hội trưởng phật Giáo, đề= u mặc chiếc áo tu hành màu xám tro đạo mạo tu tại gia. Sau khi tôi ký lệnh câu lưu 3 tên này, thì liền lập tức 4 giờ tiếp đó, chúng tôi bị phản ứng dữ dội từ trung tâm quyền lực Từ Đàm. Lệnh miệng của đaị tá tỉnh trưởng Lê văn Thân, yêu cầu chúng tôi lập tức thả 3 tên kinh tài này ra. Đại tá Thân là một chính trị gia cơ hội. Ông hết sức lấy lòng các thầy khối Ấn Quang. Huế có trên 100 ngôi chùa lớn nhỏ, nhưng ông trung úy chánh văn phòng của ông tỉnh trưởng rất tận tâm chu đáo. Ông có một danh sách dài các ngày viên tịch của các thầy trụ trì chùa, để hàng năm, “đến hẹn laị lên”, đem đồ cúng giỗ. Vì vậy, Đại úy Trương Công Ân, trưởng khối CSĐB, cũng là một trợ lực tài ba của tôi, đã thầm kín tặng cho ông Lê văn Thân cái tên khá mỹ miều, khá chính xác, là Nhạc Bất Quần. Chỉ cần các thầy khẽ ho là ông đã sợ xanh mặt. Ông sợ các thầy biểu tình còn hơn là sợ Việt Cộng Tấn công Huế. Chỉ cần quý thầy hăm biểu tình là ông thỏa mãn mọi yêu sách của quý thầy.

Nghe tin buộc phải thả 3 tên kinh tài nguy hiểm này, anh em CSQG Thừa Thiên hết sức tức giận. Chúng tôi phải bỏ bao nhiêu công sức và nhiệt tâm để phá vỡ mạng lưới kinh tài tiếp máu cho CS, mà nay ông tỉnh trưởng nhu nhược này buộc chúng tôi phải phóng thích mà không đưa ra được bằng cớ nào là bọn chúng vô tội. Hoàn toàn không thể chấp nhận được, tôi quyết định trực tiếp gặp ông ta phản đối. Sau hơn mấy tiếng đông hồ trưng bày bằng cớ, ta thán rằng anh em CSQG bỏ rất nhiều công sức, vui mừng chưa hết, huy chương chưa có, bây giờ lại thả chúng ra, sẽ gây thất nhân tâm trong giới Cảnh Sát, trong dân chúng, rồi những tác hại khó lường nếu thả hổ về rừng v.v..tôi dùng hết khả năng hùng biện và tâm huyết ra để thuyết phục ông Nhạc Bất Quần rút lại quyết định vô trách nhiệm này. Ông ta đã để tôi nói cho hả cơn, khi tôi ngưng, giọng ông nhẹ nhàng nhưng cương quyết:

“Chú Thành, ông đại úy trưởng ty CS, đại úy trình bày tôi đã hiểu, nhưng tôi không muốn vì chuyện này mà xảy ra một vụ biến động chính trị nào trong thời gian tới tại Thừa Thiên Huế. Sẽ có ảnh hưởng đến trung ương. Sang năm là mùa bầu cử Tổng Thống, chắc chú biết. Tôi không muốn mất lòng giáo hội Phật giáo lúc này”.

Sau đó tôi yêu cầu thay vì lệnh miệng, cho tôi bằng văn bản giấy trắng mực đen. Ông ta nhìn tôi như chực ăn tươi nuốt sống. Về lại văn phòng, chúng tôi đánh giá là sẽ chẳng bao giờ có cái văn bản đó từ ông họ Nhạc này đâu. Chúng tôi quyết định kết thúc hồ sơ nhanh chuyển lên hội đồng an ninh tỉnh, đề nghị 2 năm tái xét. Hai ngày sau, BCH/CSQG chúng tôi nhận được công điện khẩn từ trung tá Tiếp, chỉ huy trưởng CSQG vùng I, nội dung như sau:

“Yêu cầu trả tự do cho Lê Hữu Trí, Nguyễn Xin, Nguyễn Hải trong thời hạn sớm nhất. Báo nhận và thi hành”.

Ông là một người miền nam, tính tình khá bộc trực, nóng tánh, ngang tàng, từng có quá trình dài tham gia chỉnh lý và đảo chánh, ông cũng có thế lực, Phật giáo Huế khó lòng mà áp lực ông, nhưng vì sao nên nỗi này? Ông ta là niềm hy vọng của tôi để chống lại lịnh miệng của tỉnh trưởng Nhạc Bất Quần kia mà? Chẳng lẽ bọn kinh tài thừa tiền lắm bạc đã dùng Đức thánh Trần mua ông? Tôi lẩn thẩn đọc đi đọc lại công điện thả VC không biết bao nhiêu lần, rồi quyết định gọi điện thoại cho ông. Tôi hết lời, nhưng ông vẫn giữ nguyên ý định. Bây giờ, ông đã mất, ước gì tôi có thể có hỏi ông tại sao như thế? Đến bây giờ, tôi vẫn chưa có câu giải đáp. Sáng ngày 11/8/1970, tôi họp toàn Ban Tham Mưu ty CSQG, trình bày toàn bộ sự việc. Đại úy Trương Công Ân và trung úy Hồ Lang, trưởng trung tâm thẩm vấn là 2 sĩ quan chống đối kịch liệt nhất. Bàn cãi, chửi bới, chửi thề toán loạn, đến 8 giờ tốí cùng ngày, chúng tôi đi đến quyết định trình toàn bộ sự việc cho trung tá trưởng khối SCĐB/BTL/CSQG tại Sài Gòn bằng một công điện, sau khi đau đớn ngậm ngùi ký lịnh thả 3 tay VC ra.

Câu chuyện tuởng đến đó là xong, ngày 13/8 tôi nhận tin từ phòng CSĐB là sáng ngày 14/8 sẽ có biểu tình bởi một đoàn thể chính trị, phản đối việc thả Việt Cộng của đại tá tình trưởng. Người lãnh đạo cuộc biểu tình này là Giáo sư đại học khoa sử Lê Đình Cai. Lê Đình Cai là khoa bảng trí thức, một khuôn mặt chính trị trẻ, ngoài học vị giáo sư đại học, ông còn là nghị viên hội đồng thị xã Huế, và là Thị bộ trưởng của một đảng phái chính trị lớn tại Huế. Hiện nay ông định cư tại Hoa Kỳ. Mặc dù trong bụng rất hả hê và đồng tình với việc làm của giáo sư Cai, nhưng lại là một nhân viên và cũng là một quân nhân thi hành luật pháp quốc gia, tôi không thể ủng hộ hay tiếp tay cho bất cứ chuyện biểu tình nào cả. Vả lại, cánh của ông tỉnh trưởng Lê văn Thân và của trung tá Tiếp chỉ huy trưởng CSQG vùng một sẽ nghĩ tôi giựt dây hoặc chủ mưu vụ này. Và nếu như thế, tôi kẹt cứng giữa hai làn đạn. Tôi đành chọn giải pháp thương thuyết với giáo sư Cai tại nhà riêng của đại úy Trương Công Ân. Tôi và GS Cai là chổ quen biết, nhưng ông thẳng thắn chối từ thương lượng với đại tá Lê văn Thân. Ông nói, việc anh anh làm, việc tôi tôi làm. Tôi phúc trình đầy đủ việc thương lượng thất bại này lên cho cả 3 tòa quan lớn trên đầu tôi, để tránh văng miểng, nhưng sau đó miểng cũng có văng, nhưng đỡ được. Riêng ông tỉnh trưởng Thân, ông vẫn bổn củ soạn lại, đó là, khi nào có biến là ông đi thanh tra các quận. Sáng ngày 14 /8 ông đi thanh tra: “Tôi đi thanh tra các quận miền bắc, chiều tôi về, mọi diễn biến chú gọi máy trình tôi. Có phải chú đứng sau lưng cuộc biểu tình này không?”

Tôi thật sự phẫn nộ vì câu nói này của ông Thân, tôi trả lời rằng, mặc dầu tôi rất bất mãn với quyết định thả 3 tay kinh tài CV dựa thế chùa của ông, nhưng tôi hiểu luật pháp và không làm chuyện đó, yêu cầu ông cứ điều tra.

Giáo sư Cai tổ chức biểu tình trong ôn hòa khoảng 45 phút với nhiều biểu ngữ đã đảo ông tỉnh truởng thả kinh tài VC. Sau đó, báo chí Sài Gòn đăng tin này. Sự việc lại tiếp tục. Ngày 16/8, một phái đoàn của BTL/CSQG tại Sài Gòn do đại tá Nguyễn Mâu cầm đầu, ra điều tra xem 3 tên Lê Hữu Trí, Nguyễn Hải, Nguyễn Xin có phải là kinh tài VC hay không, tại sao tỉnh trưởng cho lệnh thả, Liên Thành trưởng ty CSQG có đứng đằng sau vụ biểu tình hay không.

Tôi một lần nữa phải đương đầu. Sau khi mọi việc phân minh, trung tá Nguyễn Mâu nói với tôi “ Trung tá đã giải thích với ông tỉnh trưởng rồi. Huế là một khối lửa đang cháy ngầm, chỉ cần có một cơn gió nhẹ là bùng cháy lớn. Tình hình nội chính ở đây thật là khó. Cố gắng lên!” Tôi lại nhớ câu nói của thiếu tướng Trần Thanh Phong trước đây, khi tôi lục soát chùa Trà Am, bắt Thích Như Ý. Cũng nói“Cố lên!”.

Tôi cảm thấy hụt hơi rồi!.

Mọi chuyện cũng vì cái vỏ bọc tôn giáo mà ra. Sau biến động miền trung, chùa Từ Đàm vẫn liên tục làm mưa làm gió. Vụ thả 3 tên kinh tài khuôn hội trưởng Phật Giáo từ từ đi vào lãng quên trong lòng người dân Huế. Nhưng lực luợng CSQG Thừa Thiên Huế thì không, chúng tôi vẫn theo bám sát bọn chúng. Hai năm sau, trong chiến dịch Bình Minh, chúng đã bị bắt đưa đi Côn Đảo ngay, Lần này xếp lớn tôi là Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình đã đỡ đần mọi chuyện, không ai can thiệp cho chúng được. Danh sách chúng ở hàng đầu.

Thêm một chuyện nữa xãy ra cho tôi sau chiến dịch Bình Minh mà trên 1500 cơ sở nội thành, luôn cả những cơ sở kinh tài trọng yếu đã bị cơ quan chúng tôi bắt giữ. Đó là tôi bị “Phái đoàn Quốc hội VNCH” hỏi thăm sức khỏe, vì cái chiến dịch này.

Nói là phái đoàn, nhưng thật ra chỉ có 4 dân biểu đối lập thuộc khối Ấn Quang, trong đó có Bà Kiều Mộng Thu. Hai trong bốn người đó là gà nhà của Thích Thiện Siêu, chùa Từ Đàm. Họ đắc cử là do quý thầy lo cho. Chuyện là họ là thường trú nhân tại Sài Gòn nhưng lại ứng cử và đắc cử đơn vị thừa Thiên Huế, thế mới là hay! Họ đến Huế trên danh nghĩa là thăm chiến trường Trị Thiên, nhưng lại không ra chiến trường hoặc vào bệnh viện thăm viếng thương bệnh binh, mà lại đòi vào tù thăm VC nằm vùng mà chúng tôi vừa mới bắt, theo lệnh của “thầy” Thiện Siêu. Mục đích nhằm tạo niềm tin cho các cơ sở VC rằng, đừng lo, đừng lo khai báo gì, sẽ có ô dù bảo lãnh ra thôi. Sau khi gặp đại tá tỉnh trưởng Tôn Thất Khiên, họ được đại tá chuyển lệnh cho tôi, đề nghị hướng dẫn phái đoàn viếng thăm tù nhân. Theo lẽ thông thường, tôi thuyết trình tình hình địch, tình hình bạn cho khách v.v..Nhưng vì đã biết rõ mục đích của họ, tôi không muốn phí thời giờ với họ. Sau khi an vị, bà dân biểu vào đề ngay:

“Chúng tôi đã gặp đại tá tỉnh trưởng sáng nay, và được đại tá chấp thuận. Mong rằng thiếu tá trưởng ty cho chúng tôi được thăm viếng một số đồng bào đã bị thiếu tá bắt giữ trong mấy ngày vừa qua. Đây là danh sách những người mà chúng tôi muốn gặp và muốn trực tiếp nói chuyện với họ” Vừa nói vừa đưa cho tôi một danh sách dài những tên nằm vùng.

Tôi nhìn vào một danh sách có khoảng 20 người, gồm: Bửu Chỉ, Nguyễn Hữu Đính kỹ sư canh nông, Hoàng thị Thọ học sinh, Nguyễn khoa Phẩm chủ tịch hội đồng thừa Thiên, Lê phước Á, giáo sư, Lê quang Nguyên, nghị viên hội đồng tỉnh v.v. Tôi cười, liếc mắt chỗ tên Bửu Chỉ, tôi nói thầm, “ráng chịu một thời gian nghe!”, rồi thì tôi trả lại bản danh sách cho bà dân biểu.

“Thưa bà và quý vị dân biểu, tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của quý vị được. Bởi lẽ, những người này là cơ sở nội thành của trung tá CS Hoàng Kim Loan. Hơn nữa, họ đang trong thời gian thẩm vấn, không thể gặp gỡ thăm viếng được. Sau khi thẩm vấn quý vị sẽ được quyền gặp”.

Bốn dân biểu này đổi sắc mặt, giận dữ. Một ông người Huế nói, xin tạm dấu tên:

“Ông trưởng ty nói chi? Chúng tôi là dân biểu, những người đại diện cho dân, chúng tôi có quyền thăm viếng những người dân lành vô tội bị ông bắt bớ bừa bãi”. Tôi yêu cầu ông ta đưa bằng chứng chúng tôi bắt bớ dân lành vô tội, nếu không ông ta vu khống nhân viên công lực. Ông ta yêu cầu cho xem hồ sơ. Chúng tôi từ chối vì ông ta tuy có nhiều quyền, nhất là quyền bất khả xâm phạm. Nhưng ông ta không có quyền xem hồ sơ đó. Ông ta đe dọa đưa ra quốc hội chuyện tôi bắt trên một ngàn “dân lành vô tội” và sẽ cắt ngân sách của bộ TL Cảnh Sát. Ông còn chửi tôi là một tên trưởng ty cảnh sát du đảng, không xem luật pháp ra gì. Tình hình mỗi lúc một gây cấn, bà Kiều Mộng Thu xuống nước, chỉ xin thăm “dân lành” một tí thôi là xong ngay. Nhưng tôi vẫn giữ nguyên quyết định ban đầu. Ra lệnh cho tôi không xong, các ông bà con trời này đòi xông thẳng vào trung tâm thẩm vấn. Tôi nói với giọng rất từ tốn, nhưng chắc nịch:

“Tôi nhắc lại với ông dân biểu, Huế đang trong tình trạng chiến tranh, kẻ nào có mưu toan hoặc hành động xâm phạm cơ quan công quyền, nhất là trung tâm thẩm vấn, nơi đang giam giữ tù nhân Việt Cộng, tôi sẽ cho lệnh lính gác bắn hạ ngay, ông dân biểu nghe rõ chưa?”.

Hai ngày sau, ông dân biểu họp báo tại Sài Gòn, báo chí thân ông đăng tải những loạt bài bêu riếu, bôi nhọ tôi tàn tệ, nói rằng tôi vi phạm luật pháp, bắt bớ dân lành bừa bãi, đề nghị cách chức trưởng ty Liên Thành, truy tố ra tòa, đòi cắt ngân khoản của CSQG. Chỉ có một điều duy nhất mà ông không tố tôi được, đó là tham nhũng. Tôi biết, ông đã cố hết sức để moi móc bới lông tìm vết, nhưng ông đành bó tay. Tôi chờ đợi bàn giao cho vị tân trưởng ty, lòng buồn nhưng không hề hối tiếc. Nhưng xui cho ông dân biểu, lần này Đại Tá Nguyễn khắc Bình đã nắm rõ vấn đề, nên tôi bình yên vô sự. Ông dân biểu nay cũng đã già, và cũng là người tỵ nạn CS đang ở Cali, tôi không nỡ nhắc tên ông. Nhưng không biết có bao giờ ông nghĩ rằng, một trong những nguyên nhân làm ông phải mang thân xứ người, là hậu quả của những hành động như ông đã từng làm?

Qua vài mẩu chuyện mà chính tôi đã là nạn nhân, tôi muốn gióng lên một tiếng chuông, kêu gọi chúng ta hãy suy nghĩ về tương lai lâu dài của dân tộc. Giai đoạn từ 1963 đến 1966 là giai đoạn mà thần quyền đã lũng đoạn thế quyền trầm trọng. Di hại của nó không chấm dứt hẳn mà vẫn kéo dài sau đó. Cá nhân tôi cũng đã từng là một nạn nhân sống của vấn nạn này.

Cái gọi là “Pháp nạn” đã làm sụp đổ một thể chế và kéo theo những hệ lụy khủng khiếp của nó. Bắt buộc chúng ta phải tránh vết xe đổ này. Lúc nào, thời đại nào cũng có những kẻ bất lương đội áo mũ tu hành để mưu đồ quyền lực tiền bạc. Cần có luật pháp nghiêm minh, mà trong đó mọi người đều bình đẳng như nhau trước pháp luật và công luận, không kể là đại tu sĩ hay phó thường dân. Cần có một sự suy nghĩ sáng suốt. Trong mọi tình huống, mỗi công dân đều phải có bổn phận đặt quyền lợi quốc gia lên trên tôn giáo, để tránh những di hại cho dân tộc và đất nước. Một số lớn các nước trong hệ thống Hồi Giáo vùng trung đông là một ví dụ rõ ràng nhất trong việc thần quyền điều khiển thế quyền. Các giáo sĩ đã lợi dụng quyền lực và lòng tín ngưỡng mù quáng của tín đồ để điều khiển chính quyền, nhào nặn ra các chính trị gia, rồi giật dây họ để phục vụ cho các mưu đồ riêng của mình, gây rối loạn xã hội và chính trị, bất chấp tương lai và sự phát triển lâu dài của đất nước, mà trong đó, dân chủ là một điều kiện tối cần để một xứ sở, một dân tộc có thể đi lên.

Tại các nước phương tây, thần quyền không còn và không thể lũng đoạn thế quyền được nữa. Nhưng tại rất nhiều quốc gia khác, thần quyền đen vẫn là một uy lực khủng khiếp. Khi thần quyền lũng đoạn thế quyền, chuyện tất yếu là quốc gia sẽ trở thành miếng mồi ngon cho độc tài hoành hành, nhất là độc tài cộng sản. Và quốc gia sẽ phá sản.
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, câu nói rất quen cửa miệng, nhưng bao giờ thì mỗi người chúng ta thực hiện được?

Liên Thành

Biến động tại Tân Cương và tham vọng của Bắc Kinh


LTS: Cuộc nổi dậy của sắc dân Uighur tại Tân Cương trong xứ Trung Quốc đã bị công an đàn áp tàn nhẫn khiến ít nhất 156 người bị tử nạn. Tình hình Tân Cương sẽ diễn biến ra sao và liệu có là mồi lửa gây nên đám cháy lớn có thể đẩy Trung Quốc vào bạo động hay không? Người Việt hỏi ý kiến bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa qua bài phỏng vấn sau đây do Ðinh Quang Anh Thái thực hiện.

- ÐQA Thái: Là người theo dõi thời sự quốc tế và đặc biệt chú trọng đến tình hình Trung Quốc từ nhiều năm nay, ông có ngạc nhiên về vụ nổi dậy vừa qua tại Tân Cương hay không?

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Ngạc nhiên thì không vì quy luật “tức nước vỡ bờ,” nhưng có thấy bất ngờ vì lãnh đạo Bắc Kinh đã để xảy ra vụ này vào thời điểm hiện nay.

Về thời điểm, Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào đang có mặt tại Roma để tham dự thượng đỉnh của nhóm G-8, dù là trong tư thế quan sát viên thì cũng là một cách khẳng định uy thế Trung Quốc. Cùng lúc ấy, Bắc Kinh phải theo dõi rất sát thượng đỉnh Nga-Mỹ tại Moscow và nội tình Uighur lại vỡ lở vào đúng ngày hôm đó.

- ÐQA Thái: Ông hay có lối nhìn bất ngờ nhưng vì sao ông lại chú trọng tới quan hệ Nga-Mỹ khi xảy ra vụ nổi dậy ở Tân Cương?

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Với dân số gấp mười và sản lượng kinh tế gấp bốn nước Nga - gần như ngang bằng với Nhật Bản và đứng hàng thứ nhì thế giới - Trung Quốc có thể tự nghĩ rằng mình là đại cường của thế kỷ 21, còn Liên Bang Nga chỉ là đại cường của thế kỷ 20 và tham gia diễn đàn G-8 của tám đại gia thế giới nhờ vang bóng của thời xưa. Lãnh đạo Bắc Kinh càng quan tâm theo dõi chuyện Nga-Mỹ vì những thỏa thuận giữa lãnh đạo hai nước này, trong đó có chuyện Nga cho Hoa Kỳ mượn đường tiếp vận vào chiến trường A Phú Hãn, là điều chưa chắc đã khiến Bắc Kinh yên tâm. Ðúng lúc ấy, vụ nội loạn Tân Cương cho thấy nhược điểm nội tại của Trung Quốc, mà lại bùng nổ tại khu vực Hồi Giáo tiếp cận với các nước Cộng Hòa Hồi Giáo trong vùng ảnh hưởng của Nga.

- ÐQA Thái: Vụ Tân Cương nổi dậy có nguồn gốc sâu xa hay chỉ là một đột biến mà thôi?

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Tân Cương hay “Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ” là một khu vực phiên trấn của Trung Quốc, là vùng trái độn quân sự để bảo vệ lãnh thổ xứ này theo nhãn quan khiếp sợ và tự kỷ ám thị của lãnh đạo Bắc Kinh. Với diện tích gấp năm Việt Nam cho một dân số chưa đầy 19 triệu mà gần phân nửa là người Duy Ngô Nhĩ, ngày xưa cứ bị coi là “rợ Ðột Quyết,” khu vực này đã tiếp nhận ồ ạt người Hán trong nỗ lực đồng hóa và kiểm soát, cho nên mâu thuẫn và xung đột rất dễ xảy ra khi tộc Hán có tư thế ưu đãi hơn và dân bản địa chỉ là công dân hạng nhì bị khinh miệt là man rợ, là thổ phỉ.

Gần đây Tân Cương không chỉ là vùng trái độn mà đã được phát triển mạnh nhờ tài nguyên khoáng sản và là đường trung chuyển dầu khí với các nước Trung Á từ đó qua tới Cận Ðông, nên đã trở thành khu vực chiến lược về năng lượng. Kế hoạch phát triển vì vậy càng gây mâu thuẫn với dân bản địa, gồm có tám triệu người Duy Ngô Nhĩ theo Hồi Giáo, vốn có quan hệ sắc tộc và tôn giáo khắng khít với các sắc dân bên kia biên giới.

Vụ khủng bố 9-11 năm 2001 tại Mỹ đã gây chấn động toàn cầu và việc người Hồi Giáo tại Tân Cương đòi quyền tự trị đích thực trở thành vấn nạn lớn. Một số người tại đây còn đòi ly khai và sẵn sàng đấu tranh võ trang nên bị kết án là khủng bố và bị đàn áp rất mạnh.

- ÐQA Thái: Thưa ông, nhìn như vậy thì vấn đề Hồi Giáo có là điểm nóng cho nội tình Trung Quốc không?

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Ðây là một điểm nóng tại một khu vực địa dư chiến lược nhưng không là điểm nóng duy nhất của Trung Quốc.

Xứ này có hiện tượng tôi xin gọi là “nhất quốc tam kinh,” một quốc gia mà có ba nền kinh tế phát triển không đồng trên ba khu vực, nên gặp mâu thuẫn nặng và có thể bị khủng hoảng. Ngoài khu vực phiên trấn gồm có cao nguyên Thanh Tạng, Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và Mãn Châu, hai khu vực “duyên hải” và “nội địa” còn lại cũng có mâu thuẫn và tranh chấp quyền lợi giữa đảng bộ các tỉnh mà trung ương không giải quyết nổi. Thứ ba, nạn suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay càng đào sâu mâu thuẫn này, với hậu quả là thất nghiệp cao và tăng trưởng thấp. Mà hậu quả lại nặng nhẹ khác nhau trong từng khu vực và giữa các thành phố với nông thôn.

- ÐQA Thái: Liệu cuộc nổi dậy của Tân Cương có khơi mào cho nhiều biến động của các nơi khác hay không?

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Ðây là kịch bản đáng sợ nhất cho lãnh đạo Bắc Kinh nên họ phải dẹp cho tan để khỏi tạo ra tiền lệ, mà cũng vì vậy, sẽ đi vào chu kỳ đáng ngại là càng gây sức ép lại càng bị sức bật mạnh hơn. Càng đàn áp càng dễ đưa tới nổi dậy và nổi dậy khác với sinh viên tại Thiên An Môn hai chục năm về trước: nổi dậy vì sinh tồn.

Nhìn rộng ra ngoài, Bắc Kinh thấy ra hai ba hướng đáng sợ. Dân Tây Tạng thì đòi quyền tự trị một cách ôn hòa theo chủ trương của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, nhưng nếu cứ bị cự tuyệt và đàn áp mãi, một số người Tây Tạng có thể ngả theo hướng bạo động của dân Hồi Giáo tại Tân Cương và đấy là kịch bản vết dầu loang. Trong khi ấy, ta không quên là bên kia biên giới Nội Mông, Cộng Hòa Mông Cổ cũng đã tự chuyển hóa thành một quốc gia dân chủ hơn nên cũng là một cám dỗ cho sắc tộc Mông Cổ bên trong Trung Quốc.

Ðã vậy, nhìn từ Bắc Kinh thì ngần ấy khu vực phiên trấn lại tiếp cận với các quốc gia láng giềng mà họ rất sợ và đã từng có xung đột, như với Ấn Ðộ, các nước Trung Á, với Mông Cổ và Nga. Mắc bệnh tự kỷ ám thị, Bắc Kinh e là các nước bên ngoài - kể cả Hoa Kỳ - sẽ nhúng tay vào các khu vực ấy để xé Trung Quốc ra nhiều mảnh. Không có dân chủ theo thể chế liên bang như các nước lớn khác, Trung Quốc không thể thoát khỏi vấn đề và sẽ còn bị động loạn, dù có ra sức đàn áp.

- ÐQA Thái: Xưa nay Bắc Kinh vẫn muốn Hán hóa các dân tộc chung quanh, điển hình là Tây Tạng mà ông vừa nhắc tới. Những năm gần đây, Bắc Kinh càng ngang ngược đối với Việt Nam qua việc lấn chiếm các quần đảo ngoài biển Ðông. Theo nhận định của ông thì đấy có nằm trong mưu đồ Hán hóa của họ không?

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Trải mấy ngàn năm, Hán tộc của Trung Quốc có phản ứng tự nhiên đã thành bản chất theo ba cấp. Thứ nhất là củng cố được trung tâm sinh hoạt của họ tại Trung Nguyên, là các tỉnh duyên hải, có lưu vực của ba con sông lớn là Hoàng Hà, Dương Tử và Châu Giang tại Quảng Ðông. Cấp thứ hai là khống chế được các tỉnh bị khóa trong nội địa, là khu vực lạc hậu, khó canh tác và giao thông, nhưng cũng có một vựa người rất lớn thường vào lật đổ triều đình trung ương, lần cuối là cuộc Vạn Lý Trường Chinh của Mao Trạch Ðông với đoàn quân chân đất từ khu vực này. Ở cấp thứ ba, Hán tộc phải kiểm soát được khu vực phiên trấn, bằng quân sự, để phòng ngừa bị tấn công từ bên ngoài như đã từng bị nhiều lần trong lịch sử.

Ðây là phản ứng ngàn năm của lãnh đạo Trung Quốc, trong chế độ kinh tế tự cung tự cấp của Hán tộc, với niềm kiêu hãnh là cuối cùng thì họ sẽ đồng hóa được tất cả. Ðến cuối thế kỷ 20 thì tình hình đã đổi khác vì xứ này cần giao tiếp với bên ngoài để phát triển - chủ yếu là cần nguyên nhiên vật liệu và thị trường xuất cảng của thế giới. Mà có giao tiếp là bị ảnh hưởng về văn hóa, về tư duy và cách sinh hoạt. Nhiều người Hán nay đang mơ là công dân của thế giới trong hoàn cảnh kinh doanh toàn cầu hóa! Ðấy là một vấn đề và gây mâu thuẫn nội bộ về bản sắc của Hán tộc, về quyền lực của trung ương với sức ly tâm của các tỉnh duyên hải do sự cám dỗ từ bên ngoài.

Cũng nhờ đã có tăng trưởng cao, qua thế kỷ 21, Trung Quốc đang mơ ước trở thành đại cường hải dương thay vì chỉ là đại cực lục địa như trong lịch sử. Theo chiều hướng đó, Hán tộc của họ coi Ðông hải của Việt Nam là vùng phiên trấn ngoài biển, như Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông là phiên trấn trên đất liền. Họ làm như vậy được vì đã nắm lãnh đạo Hà Nội ở trong túi.

Nếu nhìn lại địa dư hình thể Trung Quốc thì tại ngần ấy khu vực biên cương, Trung Quốc chỉ có thể bành trướng là qua lãnh thổ của Việt Nam - lần cuối là vào năm 1979 - chứ các nơi khác đều gặp thiên nhiên hiểm trở nên không vượt qua được. Bây giờ thì nhờ Hà Nội, Bắc Kinh đã có thể thi hành việc đó sau khi sửa lại biên cương trên đất liền, khống chế xứ Lào trước đây nằm trong vùng ảnh hưởng của Hà Nội, và kiểm soát luôn Ðông hải của Việt Nam.

- ÐQA Thái: Câu hỏi cuối, thưa ông, Việt Nam có thể làm gì để chặn đứng tham vọng bành trướng của Trung Quốc?

- Nguyễn Xuân Nghĩa: Câu trả lời của tôi là “Việt Nam nào?” Là lãnh đạo tại Hà Nội hiện nay hay là cộng đồng dân tộc Việt Nam? Sở dĩ như vậy vì “vấn đề Trung Quốc của Việt Nam” nằm tại Hà Nội. Ngày nào chế độ hiện hành còn cai trị Việt Nam thì ngày đó ta rất khó giải quyết vấn đề Trung Quốc.

Nhìn ra khỏi sự đớn hèn của lãnh đạo Cộng Sản thì người Việt Nam có thể thấy ra và xoay trở cách khác. Sự bành trướng của Trung Quốc có gây vấn đề cho các quốc gia khác, từ Nhật Bản, Ðài Loan, tới các nước Ðông Nam Á đang sử dụng eo biển Malacca, tới Úc Ðại Lợi, Ấn Ðộ và cả Liên Bang Nga lẫn Hoa Kỳ. Nếu Việt Nam quan tâm đến “vấn đề Trung Quốc của thế giới” thì sẽ có hướng vận động thế giới cùng hợp tác để giải quyết.

Sau cùng, Việt Nam cũng nên tự chuẩn bị cho kịch bản Trung Quốc có loạn. Trong hoàn cảnh đó, chế độ hiện hành tại Hà Nội sẽ sụp đổ thì người Việt, trong và ngoài đảng, xoay trở ra sao và có sẵn giải pháp gì để thay thế? Và làm sao để tránh cho Việt Nam khỏi bị vạ lây? Ðây cũng là lý do khiến ta nên theo dõi và học hỏi kinh nghiệm của dân Uighur hay Tây Tạng... Sẽ có ngày dân ta gặp chuyện đó với lực lượng công an võ trang của Hà Nội - do Bắc Kinh điều động! Và ta nên để ý tới điều ấy khi lãnh đạo Bắc Kinh gỡ bí bằng cách khích động tinh thần Hán tộc ngụy trạng là lòng yêu nước, một phương pháp rất giống Ðức Quốc Xã ngày xưa...

- ÐQAThái: Cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của Người Việt.

Sách mới về chiến tranh VN khiến truyền thông Mỹ không vui


SACRAMENTO - Ngày 15 Tháng Tám sắp tới, Viện Bảo Tàng Quân Sự thuộc tiểu bang California sẽ có một buổi giới thiệu cuốn sách mới về chiến tranh Việt Nam nhan đề “Ride the Thunder” (tạm dịch Cưỡi Sấm Sét). Trong ngày hôm ấy tác giả Richard Botkin sẽ diễn giải về nội dung cuốn sách và ký tên lưu niệm.

Theo tin báo điện tử của World Net Daily, hiện nay trên mạng ở trang nhà của Amazon.com, cuốn này đang dẫn đầu số bán về thể loại chiến tranh Việt Nam và cũng dẫn đầu số mua trong giới cựu chiến binh. Ðồng thời Ride the Thunder cũng đứng hạng hai vế lượng sách bán trong đề mục Asian History.

Theo viện bảo tàng này, tác giả Botkin đã khai mào một trào lưu mới khi “kể lại câu chuyện anh hùng của một số Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và Nam Việt Nam. Họ đã chiến đấu tuyệt vời và làm khơi dậy ngọn sóng triều của cuộc chiến trong khi các nhà làm chính sách đã buông tay đầu hàng.”

Botkin kể lại chuyện Ðại Úy John Ripley với hành động táo bạo khi phá sập cây cầu Ðông Hà; chuyện Thiếu Tá Lê Bá Bình cùng bảy trăm chiến binh TQLC đã ngăn chận được làn sóng tấn công của hai mươi ngàn quân Bắc Việt như thế nào. Trong đó cũng không quên nhắc đến kỳ công của Trung Tá Gerry Turley trong trận “Mùa Hè Ðỏ Lửa” từ một khách mời ghé lại vùng Hỏa Tuyến để thăm một số sĩ quan cố vấn, vì kẹt bởi cuộc tấn công bất ngờ năm 72, đã bất đắc dĩ trở thành vai trò lãnh đạo bên cạnh Tướng Giai can đảm ngăn trở được Quân Khu I khỏi bị tràn ngập bởi làn sóng “đỏ.”

Trong cuộc phỏng vấn đặc biệt dành riêng cho World Net Daily, tác giả Botkin giải thích người Mỹ hiểu sai về chiến tranh Việt Nam như thế nào - bởi vì họ ở xa đến 8,000 dặm, và chỉ nghe thuật lại một chiều. Botkin nói, “Về phía người Mỹ, theo tôi tất cả đều bị nghe những thông tin về cuộc chiến đã bị bóp méo và không trung thực. Ða số người Mỹ kể cả những người đã phục vụ ở Việt Nam đều không nhận thức được sự hy sinh của người dân Nam Việt Nam. Họ chính là những người yêu chuộng tự do.”

Botkin sưu tập những thông tin cho thấy quân Cộng Sản thường xuyên tấn công người dân vô tội trong có đàn bà, người già và trẻ em bằng hành động pháo kích bừa bãi. Năm 1968, quân Bắc Việt tàn sát từ ba đến sáu ngàn người và đem chôn trong những hố chôn tập thể. Biết bao gia đình phải chịu tang tóc, đau khổ và tủi nhục mà người Mỹ chưa bao giờ hiểu đến, trong khi họ dễ dàng tin theo những tài liệu tuyên truyền của đối phương do giới truyền thông Tây phương chưng ra để phê bình cuộc chiến. Giới truyền thông này đã làm hoen ố đi nỗ lực của Hoa Kỳ và Nam Việt Nam, góp phần vào sự xoay chiều của lập trường ủng hộ cuộc chiến.

Theo Botkin năm 68 là năm nổ bùng trận chiến thu phục nhân tâm người dân Hoa Kỳ qua màn ảnh truyền hình, và đối phương đã biết tận dụng lối tường thuật một chiều của báo chí Tây phương gây ảnh hưởng tốt cho mình thêm.

Botkin lưu ý rằng báo chí và phim ảnh Hoa Kỳ vẫn luôn miêu tả người Việt như là những kẻ tham nhũng thối nát, hèn yếu, khiếp nhược và phản bội hơn là những con người muốn chiến đấu cho tự do. Ông ta nói rằng “Ride the Thunder” trưng ra cho mọi người những câu chuyện truyền cảm mà truyền thông trước đây tránh né không muốn nhắc đến. Ðó là những câu chuyện về tình thân hữu, sự can trường, lòng yêu nước và lòng can đảm.

Ngày 23 Tháng Giêng năm 1973, Tổng Thống Mỹ Nixon công bố “Hòa Bình trong Danh Dự” trong một bài diễn văn phổ biến toàn thế giới trên hệ thống truyền hình.

Botkin kết luận, “Chúng ta nói vậy để rút chân ra khỏi Việt Nam cho có danh chính ngôn thuận. Lịch sử đầy dẫy những bài học cho thấy Cộng Sản ngồi xuống đặt bút ký biết bao hiệp định mà họ thấy có lợi, rồi sau đó lại phủi tay rũ bỏ. Ðúng là rút quân trong danh dự, hay ‘Hòa Bình trong Danh Dự’ - mà thật ra chẳng có chi là danh dự mà cũng chẳng có hòa bình gì ráo.”
(T.P.)

Châu Á khó thống trị toàn cầu


Học giả cao cấp của viện nghiên cứu có tiếng của Hoa Kỳ vừa có bài nói rằng sự trỗi dậy của Châu Á không lớn tới mức ''tương lai sẽ thuộc về Châu Á''.

Học giả Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei) từ Qũy vì Hòa bình Quốc tế Carnegie trong bài viết mới nhất trên tạp chí Chính sách Ngoại giao (Foreign Policy) đã đưa ra một loạt các lý do tại sao Châu Á sẽ khó có thể thay thế được vai trò của Hoa Kỳ trên thế giới.

Ông Hân nói Châu Á sản xuất ra gần 30% sản lượng kinh tế toàn cầu nhưng do dân số quá đông nên thu nhập bình quân đầu người hiện chỉ ở mức 5.800 đô la Mỹ so với 48.000 đô la Mỹ của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên ông Hân không đưa ra mức thu nhập bình quân dựa trên sức mua của đồng tiền trong bài viết 'Think Again: Asia's Rise'.

Tác giả cũng nói mặc dù Châu Á đang gấp rút nâng cấp quân đội nhưng chi tiêu trong lĩnh vực này của toàn Châu Á trong năm 2008 cũng chỉ bằng một phần ba của Hoa Kỳ.

Gọi ai

Nhà nghiên cứu của Quỹ Carnegie nói giữa các nước Châu Á có sự kình địch rõ rệt và điều này sẽ cản trở sự trỗi dậy chung của cả Châu Á.

Ông nhắc tới sự xích lại gần nhau của Nhật Bản và Ấn Độ trước một nước Trung Quốc đang lớn mạnh và Bắc Kinh không thu phục được nhân tâm bất chấp chiến dịch vận động của họ.

''Vì những lý do phức tạp, sự trỗi dậy của Trung Quốc đã tạo ra sự bất an chứ không phải sự hào hứng đối với người Châu Á. Chỉ 10% người Nhật, 21% người Hàn Quốc và 27% người Indonesia tham gia khảo sát của Hội đồng Vấn đề Toàn Cầu Chicago nói họ cảm thấy thỏai mái với chuyện Trung Quốc sẽ là nhà lãnh đạo tương lai của Châu Á,'' ông Hân viết.

Trong khi đó trong cùng một khảo sát, 69% người Trung Quốc, 75% người Indonesia, 76% người Hàn Quốc và 79% người Nhật nói rằng ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở Châu Á tăng trong thập niên vừa qua.

Ông Bùi Mẫn Hân nói ''các lãnh đạo Châu Á từ New Delhi tới Tokyo đều tiếp tục dựa vào Chú Sam để có người để mắt tới Bắc Kinh''.

Ông Hân cũng nhắc lại câu hỏi có tiếng của Ngoại trưởng Hoa Kỳ thời cuộc chiến Việt Nam Henry Kissinger ''Tôi phải gọi ai nếu tôi muốn gọi Châu Âu'' và nói người ta có thể hỏi câu hỏi tương tự về Châu Á, nơi có sự cạnh tranh quyền lực rõ rệt.

Ảo giác

Nhà nghiên cứu Bùi Mẫn Hân cũng nói sự độc tài và độc đoán đã không làm cho các nước mà ông nói chủ yếu ở Đông Á giàu có hơn.

Điều này cũng đã được một nhà nghiên cứu khác của Qũy Carnegie nêu ra cách đây ít lâu khi nói rằng chính sự mở cửa ở Trung Quốc hồi những năm 80 đã khiến nông dân của họ khá giả lên và chính quyền Bắc Kinh đã vượt qua được khủng hoảng Thiên An Môn.

Ông Hân viết: ''Ngay cả khi chúng ta nhìn vào những chính quyền độc đoán được cho là đã mang lại thành công kinh tế chúng ta thấy có hai điều lý thú.

''Trước hết, thành công kinh tế của họ được cải thiện khi họ bớt tàn bạo và cho phép tự do kinh tế và tự do cá nhân lớn hơn.

''Thứ hai, chìa khóa cho các thành công là chính sách kinh tế hợp lý như chỉ đạo kinh tế vĩ mô thận trọng, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, khuyến khích tiết kiệm và thúc đẩy xuất khẩu.

Ông Hân nói ''chế độ độc tài không có công thức huyền diệu cho phát triển kinh tế'' và cái gọi là ''lợi thế chuyên chế'' ở Châu Á chỉ là ảo giác.

'Lãnh đạo tư tưởng'

Trong bài viết dài trên Foreign Policy, tác giả Hân cũng nói những giới hạn về tài nguyên cũng như ảnh hưởng môi trường có thể ảnh hưởng khốc liệt tới kinh tế Châu Á.

Ông nói chỉ riêng tại Trung Quốc mỗi năm có tới 400.000 người chết vì ô nhiễm không khí.

Ngoài ra cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay cũng làm cho mô hình phát triển dựa vào xuất khẩu của Châu Á bị ảnh hưởng nặng nề.

Trong khi đó ông Hân nói Hoa kỳ sẽ có thể phục hồi từ những khó khăn hiện nay nhờ vào cơ chế tự sửa chữa trong hệ thống chính trị và kinh tế.

Tác giả cũng nói sự hùng mạnh của Hoa Kỳ không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự và kinh tế mà còn bởi hàng loạt các ý tưởng nhìn xa trông rộng như thương mại tự do, chủ nghĩa tự do và các thể chế đa phương.

Ông viết: ''Cho dù Châu Á hôm nay có những nền kinh tế năng động nhất thế giới, họ không có vẻ đóng vai trò tương tự như một nhà lãnh đạo tư tưởng.

''Ý tưởng lớn đang hấp dẫn Châu Á ngày hôm nay là trao quyền; Người Châu Á có quyền cảm thấy tự hào rằng họ đang làm một cuộc cách mạng công nghiệp mới.

''Nhưng sự tự tin không phải là ý thức hệ và mô hình phát triển được quảng bá nhiều của Châu Á không có vẻ là sản phẩm xuất khẩu được.''

http://www.bbc.com

7 thg 7, 2009

Đảng Cộng-sản Việt-Nam, Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc Ngày 10-11-2001




Bản điều trần của Giáo-sư TRẦN ĐẠI-SỸ (IFA)


Lời giới thiệu của IFA,

Tháng bẩy năm 1977, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ được cử làm trưởng đoàn Pháp, của Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (Comité médical Franco-Chinois=CMFC) dẫn phái đoàn Pháp sang Trung-quốc làm việc trong hai tháng ở Bắc-kinh.

Đang lúc ông ở Bắc-kinh, thì Tổng-bí thư đảng Cộng-sản VN. Đỗ Mười và Thủ-tướng CS. Võ Văn-Kiệt cũng sang đây, hội với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch-Dân. Nhờ quen thân với một vài ký giả ban Việt-Ngữ của đài tiếng nói Bắc-kinh, ông biết khá nhiều về cuộc mật nghị này. Trở về, ông viết thư cho một người bạn là ký giả Hồ Anh, chủ nhiệm bán nguyệt san Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, Hoa-kỳ. Tuy là thư riêng, nhưng đây là một tài liệu lịch sử bang giao Hoa-Việt, nó có thể giúp độc giả một cái nhìn rõ ràng hơn về bang giao giữa hai đảng Cộng-sản Trung-quốc, Việt-Nam, nên chúng tôi xin đăng nguyên văn, để một biến cố lịch sử này không bị chôn vùi. Cứ như nội dung bài này, thì năm 1997, đảng Cộng-sản VN còn kênh với đảng CS Trung-quốc, thế mà sau đó sang thời kỳ Lê Khả Phiêu, thì Trung-quốc dùng phép tắc nào mà biến VN thành một thuộc địa? Điều này xin để các vị cao minh giải đoán.

Paris ngày 20 tháng 9 năm 1997.

Kính thăm anh, và cháu Thủy-Tiên của chú.

Tôi vừa đi Trung-quốc về anh ạ. Sau hai tháng ăn cơm Tầu, tôi lên ba ký. Cái bụng trông giống bụng Đổng Trác quá. Nhờ vậy sức khỏe tương đối dồi dào, ngày nào cũng nộp thuế cho cô bạn gái, vì vậy cổ cũng xí xái cho cái tội, bỏ cổ một thân một mình ở giữa cái xứ Paris ồn ào này, ngày ngày ngồi vọng phu. Đi xa về kể chuyện cho anh và cháu đọc, gọi là chút quà của xứ sở của Khổng-tử, và xứ sở của Khuất-Nguyên, của Văn Thiên-Tường.

Bắt đầu từ tháng sáu, chúng tôi đã chuẩn bị. Sau cả tháng hội họp, phân chia nhiệm vụ, chúng tôi lên đường Hoa du. Đoàn của tôi gồm 9 đứa, thuộc Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (CFMC). Lần này chúng tôi làm nhiệm vụ trao, tức đem chuông đi đánh xứ người, mà chủ đề là giải phẫu chỉnh hình.

Tất cả 9 đứa đều là giáo sư y khoa. Lớn nhất 64 tuổi, nhỏ nhất 45 tuổi, chia ra sáu đực, ba cái. Tám đứa đều là con cháu tộc Gaullois, còn tôi là con Rồng cháu Tiên. Kể về khả năng y khoa thì tôi đứng hạng bét. Nhưng sở dĩ tôi được làm trưởng đoàn, vì sống lâu lên lão làng. Cả 8 đứa đều mới được nghị định bổ nhiệm đâu năm, sáu năm. Riêng tôi, tôi đã ở trong CMFC đúng 20 năm. Vả lại, tôi được các bằng hữu Trung-quốc tín nhiệm, lại là thổ công trên đất Hoa-hạ, nên tôi nghiễm nhiên làm trưởng đoàn. Oai hơn tổng Cóc! Cả tám đứa đều có vợ hay chồng tháp tùng, bởi mấy khi được Hoa du. Có đứa còn mang cả con đi. Thành ra trên danh nghĩa có 9 đứa, mà phái đoàn lên tới 21 người. Được cái túi tiền của CMFC khá lớn, do các viện bào chế UPSA, UP John, Rhône Poulenc, Roche, MSD, Roussel... đài thọ, nên tôi chi cho phái đoàn thoải mái.

Chúng tôi tới Bắc-kinh ngày 2 tháng 7 năm 1997 bằng phi cơ Air France. Khi phi cơ vừa chạm đất, tôi ra oai:

- Tất cả tụi bay ngồi tại chỗ, nhường cho hành khách xuống trước.

Chúng tôi thuộc loại VIP, được đón rước, tặng hoa, chào mừng nên không phải xếp hàng, mọi thủ tục quan thuế, đóng dấu trên thông hành đã có người lo.

Sắp xếp, ấn định chương trình xong, nhiệm vụ của tôi coi như không còn gì đáng quan tâm. Anh biết không? Ở xứ Pháp mà một người đàn ông có chút máu văn nghệ như tôi đi ra ngoài cu ky một mình thì bị coi là ích kỷ, là bệnh hoạn, nên tôi đã hẹn danh ca Diệu-Nghi của đoàn văn công Hàng-châu gặp nhau ở Bắc-kinh. Nàng tới Bắc-kinh trước, khi tôi tới phi trường, thì nàng mặc bộ xiêm y khi đóng vai Dương Quý-phi, đón tôi, làm cả đoàn CMFC lé mắt phục tôi. Sau khi mọi việc chạy tốt, tôi xé lẻ, tiếu ngạo Bắc-kinh với Dương Quý-phi!

Anh biết không, sang Bắc-kinh, ngoài nhân viên phái đoàn, tôi không có ai là bạn cả để bàn chuyện văn chương, ngoài Diệu-Nghi. Diệu-Nghi tuy đẹp, nhưng văn chương thì nàng ẹ quá (Không lẽ suốt ngày lên giường?). Buồn nẫu ruột ra được. May ơi là may, tôi gặp một anh bạn cũ, hiện làm việc trong ban Việt-Ngữ đài Bắc-kinh. Thế là hữu bằng tự viễn phương lai, (1) tôi có bạn mà bạn có thể nói tiếng Hoa, tiếng Việt. Hơn nữa chúng tôi có nhiều hiểu biết về vấn đề VN. Anh bạn cũng có vợ là danh ca người Tô-châu. Thế là 4 chúng tôi cùng tiếu ngạo khắp kinh đô cổ kính này. Anh ta giới thiệu cho tôi mấy người bạn mới. Mấy anh ấy đều là Tầu lai, trước đây sống ở Chợ-lớn, Hà-nội cả. Nghĩa là Tầu thì bảo họ là Ố-nàm nhần. (2) Còn Việt thì bảo họ là Chêệt. (3)

Tôi sang được bẩy ngày, thì anh bạn ký giả báo cho biết rằng:

“Quốc-vương Đỗ Mười và Tể-tướng Võ Văn-Kiệt sắp sang chầu Thiên-tử Giang Trạch Dân“.

Anh ta nói:

« Nghe đâu phái đoàn không đông lắm, và cũng không đi tham quan chỗ này chỗ kia. Cuộc chầu thánh Thiên-tử này coi ra có vẻ căng căng, không khéo lại có bài học nữa,(4) thì thanh niên Việt-Hoa tha hồ mà chết”.

Thế rồi, anh bạn mất tích. Bốn ngày sau, anh gặp tôi, luôn mồm xin lỗi, vì phải theo dõi cuộc hội đàm. Anh than:

« Tổ bà nó, bọn mình là người có học, có tư cách, thành ra không làm bí thư tỉnh, bí thư khu được. Diễn biến các cuộc họp mình biết hết. Thế mà lại phải trình bầy lại cho những thằng dốt hơn con bò. Nó nghe chán rồi nó phán: Điều này nên tiết lộ, điều này không. Sự thực thế này, nhưng phải viết quẹo như thế kia. Nghe chúng phán, tức muốn ứa gan. Cáu quá, tối về tao banh cái miệng Mao Chủ-tịch của vợ (5) rồi hét lên: Tôi là thằng hèn, không xứng đáng là con cháu ông Đổng, ông Giản.(6) Bây giờ tao tìm mày để thổ lộ cho bõ tức ».


Chú giải đoạn 1 của Văn-nghệ Tiền-phong:

(1) Câu này lấy trong sách Luận-ngữ, ý nói : Có người bạn từ xa đến, chẳng đáng vui sao.
(2) Ố nàm nhần. Tiếng Quảng-Đông, nghĩa là An-Nam nhân.
(3) Chêệt. Chỉ người Hoa.
(4) Bài học. Hồi 1978, Đặng Tiểu-Bình đem quân đánh VN, rồi nói rằng dạy cho một bài học.
(5) Miệng Mao Chủ-tịch. Tiếng lóng, mà dân chúng Trung-quốc dùng để chỉ cái ngàn vàng của phụ nữ.
(6) Đổng là Đổng Hồ, người nước Tấn. Giản là người nước Tề. Hai ông làm quan Thái-sử. Dù bị kề gươm vào cổ, bắt phải chép sai sự kiện lịch sử, vẫn chép đúng.


Anh kể: Giang Trạch-Dân là người có học, thâm trầm, mưu cơ, tính toán rất cẩn thận. Mỗi lời, mỗi ý đều nói rất văn hoa, lại ưa xen vào những câu trong kinh điển cổ, hoặc những câu thơ, câu từ. Thế nhưng trong buổi họp ông ta gặp gã Đỗ Mười dốt đặc cán mai. Y lại hay lẫn.(1) Một sự kiện đã nói rồi, bàn rồi, lát sau y quay trở lại. Đã thế, thông dịch viên của y thì nói giỏi, nhưng dốt văn chương cổ, không đủ kiến thức diễn giải hết ý của Giang. Tỷ như Giang nói móc Đỗ Mười trong bữa ăn rằng Mười xuất thân là tên hoạn lợn bằng câu:

« Lợn Trung-quốc không to béo như lợn Việt-Nam, vì chúng ham nhảy cái quá. Còn lợn VN hầu hết là lợn thái giám, nên to lớn ».

Thế nhưng anh thông dịch, dịch là:

« Lợn Trung-quốc không to béo như lợn VN, vì bọn nuôi lợn ham tán gái, thiếu chăm sóc. Còn lợn VN thì do cán bộ chăm nuôi cẩn thận ».(2)

Tôi hỏi:

- Thế khi bắt tay nhau, thì Giang nói trước hay Đỗ nói trước?

- Không ai nói trước cả. Sau khi bắt tay, thì Giang ứng khẩu đọc hai câu thơ như sau:


Độ tận kiếp ba huynh đệ tại,
Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu.

Thông dịch, dịch như sau: Sau khi trải qua cơn sóng gió, tình anh em vẫn còn. Hôm nay, gặp lại nhau, cười một cái, mới hiểu rõ ai là bạn, ai là thù.

Theo mày, ý Giang muốn nói gì?

Tôi phát biểu ý kiến:

- Tao thử giải nghĩa theo kiểu Tây xem có đúng không nghe. Độ là bến đò. Tận là hết. Kiếp là tiếng nhà Phật để chỉ tai vạ. Ba là sóng gió. Câu này hiểu theo nghĩa đen thì: Từ trước đến nay, Trung-quốc như răng, VN như môi. Hồi 1979, Đặng Tiểu-Bình xua quân đánh VN, rồi nói rằng dạy Hà-nội bài học; thì không còn cái tình môi hở răng lạnh nữa, mà là răng cắn môi máu chảy ròng ròng. Anh em ta, những người Cộng-sản mí nhau trải qua một tai kiếp như đò vượt qua sông đầy sóng gió. Bây giờ các đồng chí sang đây, thì chúng ta lại cũng vẫn là anh em... Cộng-sản. Chúng ta phải xiết chặt tình huynh đệ, bằng không thằng cảnh sát quốc tế nó dùng đô la, nó nhét vào mồm chúng ta, rồi chúng ta lại đánh nhau thì chết.

Không ngờ tôi giảng nghĩa kiểu cà chớn như vậy, mà mấy anh bạn lại cười khúc khích:

- Cũng gần đúng ý Giang. Giang cũng muốn nói như vậy.

- Còn câu thứ nhì, thì ý nghĩa giản dị thôi. Tương phùng là gặp nhau. Nhất tiếu là cười một tiếng. Mẫn là hiểu rõ. Ân là ơn. Cừu là thù. Toàn câu này ý nghĩa như sau: Hôm nay anh em gặp nhau đây, cười một tiếng, hiểu rõ đâu là ân, đâu là cừu.

- Không hẳn như vậy, theo tao thì Giang muốn nói: Chúng ta gặp nhau đây hãy quên đi những gì là cừu thù, mà chỉ nên nhớ đến cái ân khi xưa Trung-quốc đã viện trợ cho VN suốt ba chục năm liền.

Thế nhưng ba hôm sau, một trong ba anh bạn đó nói riêng với tôi rằng:

« Cái câu thứ nhất, nó có ý nghĩa rất sâu sa, đại ý đe dọa Mười, Kiệt rằng: Bọn bay hãy coi gương thằng Lê Đức Anh . Nó bị méo miệng, một mắt nhắm không được. Bán thân bất toại».

Tôi kinh hãi hỏi:

- Ẩu ! Trong hai câu thơ trên chữ nào chỉ vào việc ấy ?
- Mày ăn phó mát Camember riết rồi quên mẹ nó cả chữ nghĩa. Tao hỏi mày, thế chữ Huynh tiếng Việt nghĩa là gì ?

- Là... Anh ! Ừ nhỉ. Chết cha thằng Lê Đức-Anh. Câu trên hiểu theo nghĩa khác là : Sau khi chúng mày với tao đấm đá nhau, thì thằng Lê Đức-Anh còn nằm chình ình ra kia. Bây giờ gặp nhau đây, tao cười một tiếng, để chúng mày biết cái tội lấy oán trả ân.


Tôi tò mò:

- Thế bọn Giang đánh thuốc độc Lê Đức-Anh từ bao giờ? Đánh bằng cách nào?

- Cách đây mấy năm, bộ ba Mười, Anh, Kiệt sang Quảng-Đông triều kiến. Trong dịp đó Anh được tặng một cái áo. Chính cái áo tẩm nước hoa có thuốc đó đã làm cho Anh bị xuất huyết não, thành bán thân bất toại.

- Xạo ! Tao đếch tin.

- Uổng cho mày là giáo sư y khoa, bị mấy con Đầm hớp hồn rồi thành lú lẫn.

- Tao chưa hề xài Đầm! Từ hồi 18 tuổi đến giờ tao toàn ăn cơm Việt hoặc cơm Xẩm. Mày thấy không? Sang đây tao đi với Diệu-Nghi, chứ có đầm đìa nào đâu?

- Im cái mồm đi! Cãi chầy. Tao hỏi mày hôm rồi ông thủ trưởng của tao than rằng, thỉnh thoảng trong đêm ông ấy bị lên cơn đau tim, mày cho ông í một hộp cao dán. Mày dặn rằng: Khi lên cơn thì dán vào ngực, rồi hôm sau đi tìm bác sĩ. Có đúng không?

- Đúng.

- Thuốc đó là thuốc gì?

- Cordipatch.


Tôi chợt hiểu: Thì ra Lê Đức Anh bị Trung-quốc dùng một thứ thuốc thấm qua da, rồi thình lình bị huyết áp cao, sinh tai biến mạch máu não mà thành bán thân bất toại. Biết thế, nhưng tôi giả bộ ngây người ra không hiểu, để anh bạn tôi phải nói ra. Quả nhiên anh mắc bẫy. Anh hỏi tôi:

- Tao hỏi mày câu này: Mày có nhớ năm 1789, khi sai Thành Lâm sang phong vương cho vua Quang-Trung, vua Càn-Long gửi tặng cho vua Quang-Trung chiếc áo có thêu kim tuyến bẩy chữ :

Xa tâm chiết trục đa điền thử


Tất cả các quan Tây-sơn, Đại-thanh đều không ai hiểu ý nghĩa bẩy chữ này. Hiểu theo nghĩa đen là: Giữa cái xe, trục bị gẫy, đa số là do con chuột đồng. Ngô nghê thậm ! Nhưng năm 1792, vua Quang-Trung bị não xuất huyết, nằm bán thân bất toại mấy tháng rồi băng. Năm đó là Nhâm Tý, người ta mới hiểu rõ: Chữ Xa với chữ Tâm là chữ Huệ, tên vua Quang-Trung. Xa tâm là Huệ, chiết trục là gẫy trục, tức chết... Thử là con chuột, chỉ năm Tý, vua Quang-Trung sẽ băng. Trong áo đó tẩm thứ thuốc ngấm dần vào da. Mày hiểu chưa?

- Hiểu.

Tôi trở lại vấn đề:

- Thế Mười, Kiệt có hiểu ý nghĩa hai câu thơ đó không ?

- Ngay tại đương trường thì chúng không hiểu. Nhưng tối về, bọn trí thức đi theo cố vấn cho chúng. Chúng hiểu. Vả cái vụ vua Quang-Trung, Lê Đức-Anh, Đào Duy-Tùng, Lê Mai bị đầu độc, Mười, Kiệt đều biết cả. Nên ngu gì thì ngu, chúng cũng hiểu.



Chú giải đoạn 2 của Văn-nghệ Tiền-phong:

1. Tin này khá chính xác. Vũ Thư-Hiên trong Đêm giữa ban ngày cũng thuật : Trước đây Đỗ Mười bị bệnh tâm thần, phải vào nhà thương điên hai lần. Theo tin trong nước thì gần đây Mười bị chứng lẫn, đú.

2. Hồi chưa theo Cộng-sản, Đỗ Mười làm nghề hoạn lợn (Thiến lợn). Thấy cái nghề này quá bẩn, Hồ Chí-Minh mới sai chép trong tiểu sử của Mười rằng y làm nghề thợ sơn.


- Thế giữa Đỗ với Giang có bàn về việc chủ quyền hai quần đảo Hoàng-sa, Trường-sa không ? (1)

- Có ! Đỗ than rằng trong khi các bên bàn luận chưa ngã ngũ ra sao, thì hải quân Trung-quốc cứ nhằm hải quân Việt-Nam mà tấn công. Như vậy thì sao có thể mẫn ân cừu được?

- Giang trả lời sao?

Giang cười xòa, rồi nói rằng:

- Quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) do Trung-quốc chiếm từ chính quyền miền Nam VN, không liên quan gì tới đảng Cộng-sản Việt-Nam cả. Còn những cuộc đụng độ mới đây tại quần đảo Nam-sa (Trường-sa) thì đó là những biến cố nhỏ. Chúng ta gặp nhau đây, hãy bàn đại cuộc thì hơn.

Đỗ Mười không chịu, y cãi:

- Đụng chạm nhỏ gì mà tới 9 lần. Thiệt hại nhân mạng lên tới mấy trăm. Nhất là cuộc tấn công của hải quân Trung-quốc ngày 14-3-1988, khiến ba chiến hạm Việt bị chìm (2), mấy trăm nhân mạng bị chết.

Giang bèn xuất ra một văn kiện, do Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng ký trước đây. Giang nói:

- Ngày 4-9-1958, khi Trung-quốc ra bản tuyên cáo lãnh thổ 12 hải lý, với bản đồ đính kèm, thì ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn Đồng của VN, ký văn thư gửi cho Thủ-tướng Chu Ân Lai của Trung-quốc, công nhận bản tuyên bố lãnh hải. Từ ngày ấy cho đến nay, phía VN chưa bao giờ chống đối văn kiện này. Như vậy rõ ràng VN công nhận toàn bộ vùng biển Đông, trong đó có hai quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa) thuộc Trung-quốc. Quần đảo Tây-sa, Trung-quốc đã đánh chiếm từ chính quyền Sài-gòn ngày 19-1-1974. Còn quần đảo Nam-sa (Trường-sa), sau ngày 30-4-1975, VN đem quân tới chiếm đóng. Như vậy là VN xâm lăng, lấn chiếm lãnh thổ Trung-quốc, nên hải quân Trung-quốc phải nổ súng đuổi quân xâm lược là lẽ thường tình. Mười cãi: Tại Trường-sa còn có quân đội của Phi-luật-tân, Đài-loan, Mã-lai. Tại sao thủy quân Trung-quốc không tấn công vào quân hai nước đó, mà chỉ tấn công vào thủy quân Việt-Nam? Giang cười rằng: Quần đảo này hiện đang trong vòng tranh chấp giữa Trung-quốc với Phi-luật-tân, Mã-lai, nên Trung-quốc không thể tấn công họ, như vậy là bá quyền. Còn quân của Đài-loan ư? Quân Đài-loan cũng là quân Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc, nên hải quân Trung-quốc không thể nổ súng, vì như vậy là huynh đệ tương tàn. Mươì cãi rằng: Nhưng tại Trường-sa từ trước đến giờ không hề có quân Trung-quốc đóng. Nay Trung-quốc dùng sức mạnh, chiếm mất mấy đảo của VN, như thế là phi lý. Giang bèn trả lời rằng : Đảng Cộng-sản VN hiện nêu cao việc dùng tư tưởng của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, thì đồng chí hãy tuân thủ tư tưởng của Hồ Chủ-tịch, vì chính Hồ chủ-tịch ra lệnh cho đồng chí Phạm Văn Đồng ký văn thư công nhận các quần đảo Nam-hải là của Trung-quốc.




Tôi hỏi:

- Cuộc mà cả cuối cùng ra sao ?

- Cả hai bên đều cù nhầy. Giang thì nhất định không chịu nhượng bộ, vì căn cứ vào văn thư do Phạm Văn Đồng ký năm 1958. Không còn gì để bàn nữa.

Tôi hỏi:

- Thế họ có cãi nhau gì liên quan đến vấn đề Cao-man không ?

- Hỏi thế mà cũng hỏi. Quốc-vương Đỗ triều kiến Thiên-tử Giang mục đích về vấn đề này mà thôi.

- Họ bàn gì ?

- Có bàn cái đếch gì đâu ? Giang chửi Đỗ sai con nuôi là thằng Hun-Sen bóp cổ thằng con lai ngoại hôn Ranariddh của Giang. Như vậy là không tôn trọng những gì cam kết trước đây. (3)

- Tại sao Ranariddh lại là con lai ngoại hôn?

- À xin lỗi, đây là câu nói lóng của bọn tao. Vì khi xưa bọn Lê Duẫn đem quân sang đánh thằng Pol Pot, thì anh chàng Ranariddh đang sống tại Pháp. Anh ta được Pháp giúp đỡ, lập mặt trận, la làng rằng bọn VC nó cướp nước tôi. Vậy có phải mẫu quốc Pháp đẻ ra anh ta không ? Sau khi về nước chấp chính, anh ta đếch có thực lực, anh ta phải ngước đầu nhìn về Thiên-quốc, xin ông bố Đặng Tiểu-Bình giúp đỡ. Thế thì anh ta là đứa con lai, nửa chêệt nửa Tây. Khi Trung-quốc thấy cái thằng Pol Pot bị thế giới kinh tởm quá, thì cho nó bệnh, (4) rồi đem tất cả lực lượng trao cho Ranariddh, để hợp pháp hóa đám thợ giết người này, hầu giữ chân ở Cao-man. Tưởng như vậy là không ai nói gì được. Nào ngờ thằng cảnh sát quốc tế nó sai Quốc-vương Đỗ Mười đá thằng Ranariddh. Đỗ bèn sai thằng Hun-Sen làm. Đúng ra việc làm của Hun-Sen phải kết tội, mà các cơ quan truyền thông của Mỹ gọi nó là anh hùng. Mẹ kiếp, anh hùng cái mả mẹ nó í. Vì vậy Giang thiên tử mới triệu hồi Quốc-vương, Tể-tướng Ố-nàm sang để tính tội.(5)


Tôi cố khai thác:

- Thế Thiên-tử Giang tính tội Đỗ quốc vương ra sao ?

- Người nổi giận, chỉ vào mặt Đỗ quốc vương mắng rằng: « Đế quốc Mỹ kéo thằng Cao-man, Miến-điện vào ASEAN với mục đích gì ? Các người nhập ASEAN có phải phải các người định dùng quần lang chiến hổ phải không ? Có phải các người dựa vào thằng đế quốc để chống Trung-quốc không ? ».


- Thế bọn Đỗ Mười trả lời sao ?

- Tên Võ Văn-Kiệt trả lời rằng: Khi nhà bị cháy, thì dù nước sông, nước biển, nước cống, nước rãnh gì cũng phải múc mà dập tắt lửa.

- Cuối cùng hai bên thỏa thuận ra sao ?

- Thỏa thuận cái con khỉ tườu. Bọn mặt dầy Mười, Kiệt khi đã bám đít được cái tên cảnh sát quốc tế rồi, thì nó có coi bọn Giang ra cái đếch gì. Mày ở Pháp, thì mày phải biết chứ ? Thằng Mỹ đã huấn luyện mấy trăm sĩ quan của Hà-nội về phối hợp liên quân Đồng-minh (6). Đồng-minh đây là ai ? Nếu không phải bọn ASEAN, bọn Nam-hàn, bọn Nhật-bản, bọn Đài-loan, Thái-lan, Phi-luật-tân ? Phối hợp để đánh ai ? Chống ai ? Nếu không phải là bọn bá quyền Giang ? Hơn hai mươi năm trước, bọn mày bị bọn Mỹ bỏ rơi, bọn Hà-nội được Nga-sô, Trung-quốc giúp, đánh cho thua bét tỹ ra, phải chạy đi khắp nơi. Bây giờ bọn mày là Liên-Âu, là Mỹ rồi, bọn Mười, Kiệt phải quỳ gối trước Liên-Âu, trước Mỹ hát bản nhạc có hai nốt (7). Nay mai, mày về VN, làm cố vấn Mỹø, tha hồ mà hét tụi nó.

- Tao ở Tây, tao có đánh nhau với ai đâu mà thua với được. Tây đếch cố vấn cho ai hết. Vả Tây có cố vấn cho Mười Anh Nông Dân, cũng không bao giờ dùng đến tao (8). Lý do tao là nhà văn, là có nhiều bạn làm ký giả... hơi tý là đem lên báo.


Trong dịp này mấy anh bạn cho tôi xem cuốn vidéo quay quang cảnh buổi họp. Khi tới chỗ Mười bắt tay Giang, thì anh ta bấm nút cho máy dừng lại rồi chỉ vào đôi câu đối treo trên tường :

- Đôi câu đối này chính Giang đưa ra ý kiến, rồi bọn Hoa-kiều bị Lê Duẫn đuổi khỏi VN làm. Mày thử đọc xem, có gì lạ không ?

Tôi đọc:

Nam-thiên đại thiện, nhân nhân thức.
Bắc-quốc điền thăng xứ xứ tri.



- Mày hiểu không ?

- Có đếch gì mà không hiểu. Nam-thiên để chỉ VN, đại là lớn. Thiện là vua nhường ngôi cho người hiền. Nhân nhân thức là ai ai cũng biết. Toàn câu này, Giang có ý diễu Đỗ Mười có cai trị dân như bọn phong kiến. Nhưng nay Mười sắp sửa nhường ngôi cho người khác, chứ không có cái vụ bầu bán gì cả.

- Giỏi. Còn câu sau ?

- Bắc-quốc là Trung-quốc. Điền là ruộng. Thăng là lên. Xứ xứ tri, là khắp thế giới ai cũng biết. Toàn câu ngụ ý : Mấy năm nay, ruộng nương Trung-quốc tăng sản lượng cao, phải nhập cảng gạo VN rất ít. Nhưng cũng ngụ ý nói : Nước sông đưa lên ruộng, làm cho dân no đủ, đó là nhờ Giang Trạch Dân. Bởi giang là sông. Trạch là ruộng. Tóm lại hai câu này ngụ ý: Anh là tên phong kiến, đang chuẩn bị nhường chức tổng bí thư cho đàn em. Cả nước VN ai cũng biết. Còn bên Trung-quốc này, ta là Giang Trạch Dân, ta có kế hoạch làm cho nông sản dư thừa, cả thế giới đều biết.


Anh bạn tôi gật đầu:

- Tao cũng nghĩ như thế. Câu đối đó gói ghém nhiều ý thực. Nhưng ở Bắc-kinh này thiếu gì người hay chữ, mà phải nhờ tụi Hoa-kiều ? Bọn tao nghĩ nát óc ra mà không giải thích được. Vậy mày về Pháp, mày thử mò xem, có còn ý khác không ? Nếu mày giải được, thì thư cho bọn tao.


Chú giải đoạn 3 của Văn-nghệ Tiền-phong:

(1) Hai quần đảo mà Trung-quốc, Việt-Nam đang tranh chấp là Hoàng-sa và Trường-sa. Đảo Hoàng-sa người Hoa gọi là Tây-sa. Còn đảo Trường-sa họ gọi là Nam-sa.

(2) Mẩu tin này tiết lộ: Hải-quân Trung-cộng đã tấn công hải quân Việt-cộng trước sau 9 lần, làm hư hại 6 chiến hạm, và 3 chiến hạm chìm, chết mấy trăm người.

(3) Qua tiết lộ này, ta biết trong cuộc họp hồi Mười, Anh, Kiệt sang Trung-cộng mấy năm trước có cam kết rằng VC phải để cho Ranariddh, thân Trung-cộng làm đệ nhất thủ tướng Cao-miên.

(4) Qua tiết lộ này, ta mới biết Trung-cộng đã đầu độc Pol Pot.

(5) Mẩu tin này tiết lộ : Trung-cộng kết tội VC bây giờ làm con hờ của Mỹ. Muốn đá tung cái vòi con bạch tuộc Trung-cộng khỏi Đông-Nam-Á, Mỹ sai VC làm. VC bèn sai đứa con ngoan ngoãn Hun-Sen ra tay. Hèn gì, Mỹ cũng như các nước tự do chỉ phản đối Hun-Sen lấy lệ.

(6) Độc giả ở Hoa-kỳ nào biết rõ ràng về tin này, xin cho chúng tôi biết chi tiết.

(7) Bản nhạc hai nốt: Tiếng lóng của giới bình dân Trung-quốc để chỉ tiền Hoa-kỳ dollar. Hai nốt là đô và la.

(8) Mười Anh Nông Dân để chỉ Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh. Dân để chỉ Võ Văn Kiệt, vì Kiệt có bí danh là Sáu Dân.



Anh Hoàng ơi!

Từ hôm về Pháp đến giờ, tôi cứ suy nghĩ mãi về ý nghĩa hai câu trên. Nào chiết tự ? Nào chia chữ. Nào hợp chữ, mà cũng không tìm ra ý nghĩa. Sau, tôi thấy cái vế dưới để nói về Giang, thì tôi nghĩ cái vế trên phải có cái gì nói về Đỗ. Hai câu này do Hoa-kiều làm thì phải có ý nghĩa tiếng Việt ở trong. Mà tiếng Việt thì hay nói lái. Cuối cùng tôi đã tìm ra:

Nam-thiên đại thiện nhân nhân thức,
Bắc-quốc điền thăng xứ xứ tri.



Đại là lớn. Đại thiện là lớn thiện, nói lái của tiếng thiến lợn.

Còn vế dưới điền thăngthằng điên.

Tóm lại đôi câu đối trên, Giang móc Đỗ Mười là thằng hoạn lợn, là thằng điên.

Vậy hai câu trên bao hàm ba nghĩa khác nhau:


Nghĩa thông thường:

Tại Việt-Nam, Đỗ Mười sẽ nhường ngôi cho đàn em. Ai cũng biết.
Bên Trung-quốc, ruộng nương xanh tốt, gạo dư thừa. Cả thế giới đều hay.



Nghĩa thâm trầm:

Tại Việt-Nam, Đỗ Mười là tên phong kiến, độc tài, đi chệch hướng của chủ nghĩa Cộng-sản, giữ ngôi bí thư như của riêng.
Bên Trung-quốc, Giang là người làm cho dân chúng có đủ lúa, gạo.



Nghĩa bí hiểm:

Tại Việt-Nam Đỗ Mười chỉ là thằng hoạn lợn. Ai cũng biết.
Bên Trung-quốc, người nào cũng biết y là một thằng điên.



Thôi đi xa về kể chuyện cho anh đọc như vậy đủ rồi. Nghe nói hồi này anh hay sang Pháp chơi. Dính Đầm rồi hả ? Báo cho anh biết, cái hũ phó mát Camembert của mấy cô Đầm mà tí toáy vào rồi, thì không bao giờ có thể dứt ra được đâu.

Viết đến đây, tôi cảm thấy ơn ớn lạnh. Chơi với anh gần ba mươi năm gì mà tôi không biết anh. Đe giết anh, anh không sợ. Nhưng không cho anh làm báo thì anh hóa điên. Khi làm báo, thì anh coi độc giả của anh như vua. Cho nên viết thư cho anh, tôi sợ anh đăng tên tôi lên, thì tôi sẽ mất job. Vậy tôi xin hăm trước : Anh mà đăng lên, thì đúng ngày mùng một tết tôi sẽ sang Arlington bẹo tai anh. Tôi nói được thì tôi làm được.

Kính chúc anh khỏe. Cho tôi hôn cháu Thủy-Tiên của chú. Nhớ nó gớm.

Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ.


Ghi chú của IFA:

Quả nhiên ký giả Hồ Anh cho đăng bức thư này vào Văn-Nghệ Tiền-Phong số xuân Mậu Dần, sau khi đã sửa chữa đi đôi chút, dưới hình thức một người bạn ở Costa Mesa, California, viết thư cho ông. Nhưng đảng Cộng-sản VN cũng đoán ra người viết là ai, nên Yên-tử cư-sĩ mới bị liệt vào một trong 80 tên phản động nhất.

Một số minh chứng cho lời kết tội nhà Minh trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi


Hồ Bạch Thảo

Một đôi lúc người yêu Việt sử cảm thấy buồn bởi đọc những bài luận sử, lấy sự lập dị làm đắc sách, tìm cách bôi nhọ cổ nhân, nhắm lôi kéo sự đồng tình của kẻ hiếu kỳ. Mặt khác những bậc danh nhân làm lịch sử, các cây bút lớn, văn chương cô đọng một câu muôn ý, lại có biết bao việc đại sự để làm, không rảnh để nêu lên những chi tiết vụn vặt. Lợi dụng tình trạng này, những ngòi bút điên đảo kia có thể tìm cách xuyên tạc sự thực, rồi một ngày nào đó họ có thể tung ra những bài viết đại loại như sau: “Tội ác giặc ghi trong Bình Ngô đại cáo nhắm gây căm thù, chưa hẳn có thực”.

Nếu trường hợp này xảy ra, bài khảo luận dưới đây nhằm nêu lên những bằng chứng từ chính sử Trung Hoa và Việt Nam, để làm sáng tỏ sự thực.

Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi chép về tội giặc như sau:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.
Dối trời lừa người, kế quỷ quyệt đủ muôn ngàn khoé,
Gây binh kết oán, tội chồng chất ngót hai mươi năm.
Tan nghĩa nát nhân, trời đất tưởng chừng muốn sập,
Sưu cao thuế nặng, núi chằm hết thảy sạch không.
Kẻ tìm vàng phá núi đãi bùn, lặn lội nơi lam chướng,
Người mò ngọc dòng dây quăng biển, làm mồi lũ giao long.
Nhiễu dân đặt cạm bẫy hươu đen,
Hại vật, chăng lưới bắt chim trả.
Đến cỏ cây sâu bọ cũng chẳng được trọn đời,
Người góa bụa khốn cùng không một ai yên ổn.
Hút máu mủ sinh dân, quân gian ác miệng răng nhờn béo,
Dựng công trình thổ mộc, nhà công tư dinh thự nguy nga.
Chốn châu huyện bao tầng sưu dịch,
Nơi xóm làng lặng lẽ cửi canh.
Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa tanh nhơ,
Chặt hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác.
Thần nhân đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha. (1)

Bắt chước lối làm sử xưa, xin lần lượt lấy những câu trong Bình Ngô đại cáo làm “cương”, rồi nêu lên những bằng chứng chi tiết làm “mục”. Có thể các bạn trẻ chê rằng “cương mục” quá cổ; nhưng nếu bạn đang ngồi trên ghế nhà trường, viết một đoạn văn tiếng Anh mà thiếu “topic sentence” (câu chủ đề) sẽ bị ông thầy giáo sổ toẹt ngay; “cương” cũng giống như “topic sentence” vậy.

Bây giờ xin phép vào vấn đề.

A.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.

Tất cả những người tham gia khởi nghĩa chống quân Minh đều là dân, ngoài những nghĩa sĩ chết trên chiến trường không kể, Minh thực lục chép hai vụ giết tập thể tù nhân, một vụ giết lăng trì, róc thịt lãnh tụ khởi nghĩa Nguyễn Cảnh Dị. Các văn bản dưới đây là bằng chứng hùng hồn về việc “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn…”

Thủ phạm vụ giết tù nhân thứ nhất là Anh quốc công Trương Phụ, địa điểm gây tội ác tại xã Nghi Dương, huyện An Lão, châu Đông Triều [Kiến An, Hải Phòng] (2). Để đàn áp cuộc nổi dậy của Nguyễn Sư Cối, Trương Phụ sai chém hơn 2.000 tù nhân, lập thành bãi tha ma nguỵ để dân chúng xem:

Ngày 9 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 8 [12/2/1410]

Ngày hôm nay, quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ đánh bại dư đảng giặc Nguyễn Sư Cối tại châu Đông Triều. Trước đây Sư Cối nguỵ xưng vương, cùng với bọn nguỵ Kim Ngô Thượng Tướng quân Đỗ Nguyên Thố đóng binh hơn 2 vạn tại xã Nghi Dương, huyện An Lão, châu Đông Triều; thường đến sông Hoàng Giang, Ma Lao, cùng cửa biển Đại Toàn cướp phá, để hưởng ứng theo Giản Định [Giản Định Đế]. Đến ngày hôm nay, Trương Phụ cho vây xã Nghi Dương, bọn giặc chống cự, quan quân phấn khởi bắn tên đá như mưa, khiến giặc thua to. Chém hơn 4.500 thủ cấp, chết trôi nhiều; bắt sống nguỵ Giám Môn Tướng quân Phạm Chi, nguỵ Vũ Lâm Vệ Tướng quân Trần Nguyên Khanh, nguỵ Trấn Phủ sứ Nguyễn Nhân Trụ hơn 2.000 tên, bèn chém liệm xác chôn thành bãi tha ma để thị chúng (sinh cầm nguỵ Giám Môn Vệ Tướng quân Phạm Chi, nguỵ Vũ Lâm Vệ Tướng quân Trần Nguyên Khanh, nguỵ Trấn Phủ sứ Nguyễn Nhân Trụ đẳng nhị thiên dư nhân, giai trảm chi liễm kỳ thi vi kinh quan yên) [生 擒 僞 監 門衛 將 軍 范支, 僞 羽 林 衛 將 軍 陳 原 卿, 僞 鎮 撫 使 阮 人 柱 等 二 千 餘 人, 皆 斬 之 斂 其 屍 爲 京 觀 焉]. (3)

Chín năm sau, lại có một cuộc khởi nghĩa khác cũng tại huyện An Lão, do nhà sư Phạm Ngọc tu tại chùa Đồ Sơn cầm đầu. Viên Tổng binh Giao Chỉ bấy giờ là Phong Thành hầu Lý Bân đàn áp, bắt tù nhân trước sau hơn 1.000 người, bèn cho xử chém để làm răn:

Ngày 15 tháng Chạp năm Vĩnh Lạc thứ 17 [31/12/1419]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân bắt được tù trưởng giặc Phạm Thiện tại châu Đông Triều. Trước đây tên yêu tăng Phạm Ngọc tại chùa Đồ Sơn, huyện An Lão phao rằng trời giáng ấn kiếm, lệnh làm chúa; bèn tiếm xưng La Bình vương, kỷ nguyên Vĩnh Ninh, tụ tập đám đông làm loạn. Bọn Thiện và Đào Thừa đến theo. Ngọc cho Thiện làm Nhập nội Kiểm hiệu Tả Tướng quốc Bình chương quân quốc trọng sự, Ngô Trung làm Nhập nội Hành khiển Hữu Thượng thư Tri quân quốc trọng sự, Đào Thừa làm Xa kỵ Đại Tướng quân, Lê Hành làm Tư không, tụ tập đám đông chiếm cứ đường thủy và bộ. Lúc đại quân đến đánh, Thiện dàn quân hai bên bờ, lại bày thuyền giữa sông, thủy bộ cùng chống cự. Bân xua quân đánh gấp, chém 1.200 thủ cấp, bắt sống Thiện cùng bọn Trung gồm 780 người, tịch thu hơn 200 chiếc thuyền lớn nhỏ; Ngọc tẩu thoát, lại bắt quân giặc hơn 260 tên, tất cả đều bị xử chém để răn. Thiện, Trung, cùng bọn Vũ Lộ đều bị giải về kinh sư (Bân đốc tướng sĩ cức chiến, trảm thủ thiên nhị bách cấp, sinh cầm Thiện cập Trung đẳng thất bách bát thập nhân, đắc thuyền đại tiểu nhị bách dư sưu. Ngọc thoát tẩu, hựu đắc tặc tốt nhị bách lục thập dư nhân giai trảm chi giới. Thiện, Trung, cập Vũ Lộ đẳng câu tống kinh) [彬 督 將士 亟 戰, 斬 首 千 二 百 級, 生 擒 善 及 忠 等 七 百 八 十 人, 得 船 大 小 二 百 餘 艘. 玊 脫 走, 又 得賊 卒 二 百 六 十 餘 人, 皆 斬 之 械. 善 忠 及 武 路 等 俱 送 京]. (4)

Qua hai văn kiện nêu trên, Minh thực lục chỉ ghi việc làm của hai viên tổng chỉ huy quân đội nhà Minh tại nước ta, còn thuộc hạ thì cho là chuyện nhỏ không đề cập tới. Nhưng một khi chủ tướng giết một, thì kẻ dưới giết mười; hãy tưởng tượng nỗi đau khổ của dân ta lúc bấy giờ!

Trang 2174, quyển 219, Minh thực lục, chép việc Lý Bân đàn áp cuộc khởi nghĩa của nhà sư Phạm Ngọc, tàn sát hơn 1.000 tù nhân nghĩa quân.

Lại thêm tội ác lớn của bọn Trương Phụ gây ra trong cuộc đánh phá tàn quân của vua Trùng Quang [Trần Quý Khoách] tại huyện Chính Hoà, phủ Tân Bình [Quảng Bình ngày nay]. Trong cuộc giao tranh, Nguyễn Cảnh Dị bị thương (Minh thực lục chép lầm là Đặng Cảnh Dị), quân Minh bắt được bèn đem róc thịt cho đến chết.(5) Riêng anh em Đặng Dung bị bắt đem về Trung Quốc.

Nhắc đến Đặng Dung, người yêu thơ cổ không quên được nét hào tráng, bi hùng trong thiên tuyệt tác nói lên hoài bão của tác giả.

Thuật hoài

Thế sự du du nại lão hà!
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Sự khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

Tạm dịch:

Cuộc đời còn mờ mịt, nhưng già rồi biết làm sao đây!
Trong khoảng trời đất vô cùng, chuếnh choáng men say ca hát.
Khi gặp thời những kẻ xuất thân tầm thường như ngư phủ, đồ tể
cũng thành công dễ dàng,
Một khi vận đã qua, đấng anh hùng đành nuốt hận.
Ôm hoài bão giúp vua, phù trì đất nước,
Nhưng không kéo nổi sông trời để rửa sạch giáp binh.
Mối thù nước chưa trả xong, thì đầu đã bạc,
Mấy lần còn ngồi dưới ánh trăng, mài sắc thanh kiếm Long Tuyền.

Sau đây là văn bản trình bày việc đánh bắt và giết Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung:

Ngày 17 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 12 [7/2/1414]

Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ mang quân đến trang Tra Hoàng, huyện Chính Hoà [Quảng Bình], châu Chính Bình; tướng giặc là Hồ Đồng hàng. Nghe tin bọn Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung, Long Hổ Tướng quân nguỵ Lê Thiềm cùng hơn 700 tên chạy đến sách Côn Bồ, Tiêm Man; bọn Phụ tiến binh ngay đến sông La Mông. Phải theo đường núi vin cành lá mà leo lên, nên đành bỏ ngựa, tướng sĩ tiếp tục đi theo. Đến sách Côn Bồ, bọn Cảnh Dị đã bỏ trốn; lại truy kích đến sách Tra Bồ Nại, bọn giặc và dân địa phương đều trốn, không biết ở chốn nào, nên làm cuộc lục soát lớn. Vào canh tư, đi trên 20 dặm, nghe tiếng trống điểm canh, Phụ sai Đô chỉ huy Phương Chính mang quân lẳng lặng đi, đến lúc trời sáng đến phía bắc sông, tại sách Tra Bồ Cán. Giặc lập trại tại bờ phía nam, quan quân vượt sông vây đánh. Giặc chống không nổi, tên bắn liên tiếp trúng, Cảnh Dị bị thương tại sườn, bắt được. Đặng Dung trốn, Phương Chính mang quân truy lùng bắt cùng với em là Đặng Nhuệ; lại bắt hết bọn giặc Lê Thiềm, tịch thu ấn nguỵ của Cảnh Dị. Cảnh Dị bị thương nặng, róc thịt, gói thủ cấp áp giải cùng anh em Đặng Dung đến kinh đô; tất cả đều bị xử chém để làm răn. (Cảnh Dị thương thậm, quả chi, hàm thủ cập Dung huynh đệ tống kinh sư, tất trảm tuẫn) [景 異 傷 甚,剮 之, 函 首 及 鎔 兄 弟 送 京 師, 悉 斬 狥]. (6)

Những bằng chứng lịch sử nêu trên có thể làm sáng tỏ lời cảnh cáo sau đây của thầy Mạnh Tử đối với bọn cai trị độc tài: “Một khi dân không sợ chết, đừng lấy cái chết doạ dân”. Trương Phụ đàn áp tại huyện An Lão, giết hàng ngàn tù nhân, đắp mả nguỵ để cảnh cáo, nhưng vô ích, lửa giận của dân được nhen nhúm, để rồi 9 năm sau lại nổi lên cuộc khởi nghĩa khác của nhà sư chùa Đồ Sơn cũng chính tại huyện An Lão này. Việc Trương Phụ chỉ huy những trận càn quét tàn quân của vua Trùng Quang tại sông Ái Tử, Ái Mẫu thuộc châu Thuận [Quảng Trị], cùng hành động dã man róc thịt Nguyễn Cảnh Dị tại phủ Tân Bình vào năm Quý Tỵ (1413), thì 4 năm sau đó cũng chính tại châu Thuận và phủ Tân Bình nổi lên cuộc khởi nghĩa lớn do những người đã từng hợp tác với nhà Minh khởi xướng, để mưu lật đổ bạo quyền:

Ngày 13 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 15 [26/7/1417]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân tâu: “Tại Giao Chỉ, người châu Thuận [Quảng Trị] có bọn Lê Hạch, Phan Cường, cùng bọn thổ quan Đồng tri Trần Khả Luận, Phán quan Nguyễn Chiêu, Chủ bạ Phạm Mã Hoãn, Thiên hộ Trần Não, Bách hộ Trần Ngô Sài; tại châu Nam Linh [phía bắc Quảng Bình] có Phán quan Nguyễn Nghĩ, Tri huyện Tả Bình Phạm Bá Cao, Huyện thừa Vũ Vạn, Bách hộ Trần Ba Luật làm loạn. Chúng đốt thành quách nhà cửa hai châu, giết quan lại, tiếm xưng danh hiệu, tụ tập đồng đảng hơn 1.000 tên. Bèn ra lệnh ngay cho Đô đốc Chu Quảng mang quân đánh dẹp, cùng Chỉ huy Giao Châu Trung vệ Hoàng Chấn, Chỉ huy Đồng tri Giao Châu Hữu vệ Đàm Công Chính, Chỉ huy Thiêm sự vệ Thuận Hóa Ngô Quỳ, Chỉ huy Thiêm sự vệ Tân Bình Phan Cần cầm quân hội tiễu; giết Lê Hạch cùng đồ đảng hơn 500 người tại trận; bắt sống Phan Cường, Trần Khả Luận, Nguyễn Chiêu, Phạm Mã Hoãn, Phạm Bá Cao, Vũ Vạn; chiếu theo luật tất cả đều bị tru lục. Bọn Nguyễn Nghĩ, Trần Ba Luật cùng đồng bọn còn sót lại bỏ trốn; đốc suất các tướng tiếp tục truy bổ…” (7)

B.

Dối trời lừa người, kế quỷ quyệt đủ muôn ngàn khoé,
Gây binh kết oán, tội chồng chất ngót hai mươi năm.
Tan nghĩa nát nhân, trời đất tưởng chừng muốn sập,
Sưu cao thuế nặng, núi chằm hết thảy sạch không.

Người Trung Quốc có câu nói “Quân bất hý ngôn” nghĩa là vua không nói đùa, ý nói lời vua hứa chắc như đinh đóng cột. Xét việc làm của vua Minh Thành Tổ, rõ ràng phản lại câu nói nêu trên. Trong đạo dụ nêu 20 điều kết tội cha con vua nhà Hồ, (8) Minh Thành Tổ long trọng hứa sẽ lập con cháu nhà Trần lên làm vua. Nhưng vốn bản chất “dối trời lừa người” nhà Minh tìm mọi cách phỉnh gạt rằng con cháu nhà Trần đã chết hết, để chia nước ta thành phủ huyện cai trị. Giản Định Đế, Trần Quý Khoách là con cháu nhà Trần, được dân chúng tôn lên làm vua, thể theo lời vua nhà Minh thường rêu rao “phục hưng nước bị diệt, nối dòng bị đứt” bèn cho sứ giả đến xin cầu phong, thì bị quân Minh khủng bố bắt giết. Lịch sử ghi nhận Trương Phụ hai lần giết sứ giả nhà Hậu Trần: Năm Vĩnh Lạc thứ 7 [1409] giết sứ giả Đoàn Tự Thủy tại Thanh Hóa; năm Vĩnh Lạc thứ 11 [1413] giết sứ giả Nguyễn Biểu tại Nghệ An. Về vụ giết sứ giả Đoàn Tự Thủy, Minh thực lục chép như sau:

Ngày 3 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [9/11/1409]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ trú binh tại Thanh Hóa. Lúc này tên cầm đầu giặc Trần Quý Khoách xưng càn là cháu Tiền Vương, sai nguỵ quan Đoàn Tự Thủy mang thư đến quan Tổng binh xin phong tước. Phụ nói rằng con cháu nhà Trần trước đây đã bị giặc họ Lê giết hết rồi, đã cho tìm hỏi khắp nhưng không còn ai. Nay chỉ phụng mệnh dẹp giặc, không biết điều gì khác; bèn đem Đoàn Tự Thủy giết, rồi xua binh tiến thẳng…(9)

Nhà Minh cố tình đàn áp, gây việc binh đao. Không kể việc Trương Phụ lần thứ nhất mang đại quân sang đánh nhà Hồ; sau khi guồng máy cai trị được thiết lập, Trương Phụ lại mang quân sang nước ta thêm hai lần nữa. Một lần chủ yếu đánh dẹp quân của Giản Định Đế, lần sau đánh tan lực lượng vua Trùng Quang tại Thuận Hóa [Quảng Trị, Thừa Thiên]. Viên đại tướng lỳ lợm hiếu sát này, từng tuyên bố: “Tôi sống được cũng là vì Hóa Châu [Trị-Thiên], có làm ma cũng là vì Hóa Châu. Hóa Châu mà chưa dẹp được, tôi còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng nữa!” (10)

Một mặt đàn áp, một mặt thì bóc lột, hai chính sách song song. Thuế má nặng nề, đủ mọi loại; như thuế cá phải nạp tiền, khi cần gạo thì bắt đổi tiền nạp gạo. Lại cho lập sở Thương bạc tại Vân Đồn để đánh thuế buôn bán với tàu thuyền nước ngoài. Hai văn bản dưới đây nói về việc thu thuế cá và lập sở Thương bạc:

Ngày 24 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 7 [8/2/1409]

Bộ Hộ tâu rằng Giao Chỉ mới nội phụ, khó có thể tận thu tô thuế, mà sự cung ứng cho quân và ngựa thì cần rất nhiều, nên tạm thời thu thuế cá, cứ 1 quan tiền thì bắt nạp 2 đấu gạo để chi dụng…(11)

Ngày 19 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 6 [15/2/1408]

Thiết lập tại Giao Chỉ, Vân Đồn Thương bạc Đề cử ty. Đặt Đề cử, Phó Đề cử mỗi chức một viên. (12)

Trong bộ máy quân sự đồ sộ đặt tại nước ta, quân lính được chia làm 2 loại: một loại chiến đấu, một loại làm đồn điền. Nhà Minh cướp không núi, chằm, ruộng tốt làm hầm mỏ, đồn điền. Tận dụng trai tráng Việt làm lính đồn điền, chính quyền nhà Minh nhắm vào những điều lợi sau đây:

Thu được số lúa nạp hàng năm, tại vùng châu thổ sông Hồng, Thanh Hóa hàng năm nạp 35 thạch; tại vùng Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên nạp 18 thạch mỗi đầu người.

Gom thanh niên vào lính để khỏi theo phe nổi dậy.

Lính Việt nặng lòng với nước Việt nên còn lưỡng lự hai lòng, không dùng để chiến đấu được, nên dùng làm lính sản xuất.

Sau đây là văn bản về việc lập đồn điền:

Ngày 29 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [28/6/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân tâu rằng đất nội phụ Giao Chỉ xa xôi, không dễ dàng vận chuyển lương thực; xin cho các ty, vệ, sở chia lính lập đồn điền để cung cấp. Hoạch định một phần căn cứ vào đất đai hiểm hay dễ, tình thế gấp hay hoãn để dùng quân đồn điền hoặc chinh điều nhiều hay ít. Quân lính người bản xứ tuy được liệt vào sổ binh, nhưng lúc đánh nhau còn lưỡng lự hai lòng, thường không liều chết; nay bàn định tỷ số đồn điền phần nhiều là lính bản xứ, quan quân ít.

Trong 7 vệ gồm Giao Châu tả, hữu, trung, tiền, cùng Trấn Di, Xương Giang, Thanh Hóa; hoạch định quan quân 1 phần đồn điền, 9 phần chinh thủ [quân lo việc phòng thủ và tấn công]; quân lính người bản xứ 7 phần đồn điền, 3 phần chinh thủ. Hậu vệ Giao Châu, vệ Tam Giang, Thiên Hộ sở Thị Cầu; quan quân 2 phần đồn điền, 8 phần chinh thủ; lính bản xứ 8 phần đồn điền, 2 phần chinh thủ. Mỗi người làm đồn điền hàng năm trưng thu 35 thạch lúa.

Ba vệ Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa quan quân đồn điền 3 phần, 7 phần chinh thủ; lính bản xứ 6 phần đồn điền, 4 phần bị chinh điều [quân điều động đi đánh dẹp]. Ba Thiên Hộ sở tại Diễn Châu, Nam Tĩnh, Thanh An; tất cả quan quân không phụ trách đồn điền, quân bản xứ 3 phần đồn điền, 7 phần chinh tiễu [quân lo việc tiễu trừ]. Quân đồn điền hàng năm trưng thu 18 thạch lúa mỗi người. Lời tâu được chấp nhận. (13)

C.

Kẻ tìm vàng phá núi đãi bùn, lặn lội nơi lam chướng,
Người mò ngọc dòng dây quăng biển, làm mồi lũ giao long.
Nhiễu dân đặt cạm bẫy hươu đen,
Hại vật, chăng lưới bắt chim trả.

Nhà Minh rất chú trọng đến việc khai mỏ vàng và ngọc trai. Minh thực lục ghi việc lập cục khai mỏ vàng trong 7 trấn, cục khai mỏ ngọc trai tại tỉnh Quảng Yên:

Ngày 19 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 6 [15/2/1408]

Lập cục khai mỏ vàng tại 7 trấn: Thái Nguyên, Gia Hưng [thuộc Vĩnh Phú], Quảng Oai [thuộc Hà Tây], Thiên Quan [thuộc Ninh Bình], Vọng Giang [thuộc Nghệ An], Lâm An [thuộc Quảng Bình], Tân Ninh [không rõ]. Đặt Đại sứ 2 viên, Phó sứ 4 viên; lại tuyển Tri châu, Tri huyện 21 viên; mỗi trấn 3 viên Đề đốc, Áp biện; lại dùng 2 viên Tổng đốc tại phủ. Sai bộ Lễ đúc ấn ban cấp. (14)

Ngày 3 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [23/8/1419]

Lập cục khai mỏ ngọc trai tại châu Tĩnh An [thuộc Quảng Ninh], đặt một viên Đại sứ. (15)

Lịch sử thường ghi nhận chỗ nào có bóc lột đàn áp; chỗ đó dân chúng vùng lên. Tại Trung Quốc nhóm khởi đầu nổi lên chống lại chế độ nhà Tần là những dân phu xây dựng Vạn Lý Trường Thành. Tại nước ta, dưới thời nhà Minh đô hộ, dân đãi vàng đã làm hai cuộc khởi nghĩa, cầm đầu bởi Vũ Cống, Hoàng Nhữ Điển tại tỉnh Nghệ An; viên Xã chính coi việc đãi vàng là Trịnh Công Chứng tại tỉnh Hải Dương:

Ngày 1 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [17/11/1419]

Ty Đô Chỉ huy Giao Chỉ tâu rằng tại huyện Kệ Giang [thuộc huyện Thanh Chương], phủ Nghệ An có tên thổ quan Bách Thiên Trần Trực Thành, cùng em là Trực Nguỵ tự xưng Kim Ngô Tướng quân; cùng bọn Lãm Bàn giặc Áo Đỏ cướp phá xã Dương Biến giết Tuần kiểm Trương Tú. Vũ Cống người trong hộ đãi vàng liên kết với kỳ lão Hoàng Nhữ Điển tụ tập dân chúng đốt phá huyện Phù Lưu [Quỳnh Lưu, Nghệ An]. Các nhóm nổi dậy tại huyện Khâu Ôn [thuộc Lạng Sơn] có Nông Văn Lịch, châu Vũ Ninh [thuộc Bắc Ninh] có Trần Đại Quả, châu Khoái [thuộc Hưng Yên] có Nguyễn Đặc, huyện Thiện Thệ có Ngô Cự Lai tiếp tục trước sau làm loạn, giết hại quan binh. Tại huyện Đồng Lợi, châu Hạ Hồng [thuộc Hải Dương], phủ Tân An, viên Xã chính coi việc đãi vàng là Trịnh Công Chứng tụ tập đám đông hơn 1.000 người đốt phá bắt giết quan lại tại các ty Tuần kiểm thuộc các huyện Đa Dực [Thái Bình], Đồng Lợi, châu Hạ Hồng và cửa biển sông Đản. Đô đốc Phương Chính mang quân đánh bại giặc tại Đồng Lợi. Thám thính cho biết trước đó bọn chúng đến châu Nam Sách, bèn truy kích kịp thời đánh dẹp tại ty Tuần kiểm A Côi [Thái Bình] chém hơn 400 thủ cấp, số giặc chết trôi tính không hết; Công Chứng bèn chạy trốn. Sắc dụ quan Tổng binh Phong Thành hầu Lý Bân mang quân đánh bắt. (16)

Nhà Minh độc quyền việc khai thác muối, lập ty Đề cử tại các tỉnh ven biển để trông coi:

Ngày 7 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 9 [29/5/1411]

Thiết lập ty Đề cử lo về thuế muối, cùng trông coi kho muối. Lập ty Tuần kiểm tại quan ải nhỏ thuộc huyện Cổ Lũng, phủ Lạng Giang [Lạng Sơn]. (17)

Như tại Nghệ Tĩnh, lập các công trường muối tại cửa Hội, Nam Giới, Chân Phúc, Thiên Đông; cùng thiết lập 5 kho muối:

Ngày 13 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 15 [24/8/1417]


Thiết lập tại phủ Nghệ An, Giao Chỉ kho Quảng Tích. Tại cửa biển Đan Thai [cửa Hội], huyện Nha Nghi [Nghi Xuân, Hà Tĩnh] lập ty Tuần kiểm; ty Đề cử muối, gồm 5 kho muối: Bác Tế, Quảng Tế, Viễn Tế, An Tế, Diễn Tế; cùng 3 công trường muối: Nam Giới, Chân Phúc, Thiên Đông. (18)

Bấy giờ giá muối rất đắt, thương gia phải dùng vàng, bạc để đổi muối, rồi bán cho kẻ tiêu thụ với giá cắt cổ. Người dân phải bóp bụng, bớt thực phẩm khác để lấy tiền mua muối. Thảm thay, dân một nước có cả hàng ngàn cây số bờ biển, mà không có đủ muối để ăn!

Ngày 23 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 13 [31/5/1415]


Ty Bố chính Giao Chỉ tâu rằng đã triệu tập thương gia đến, hứa cho dùng vàng, bạc, tiền đồng để đổi muối. Rồi Bộ Hộ quy định một lượng vàng cấp 30 dẫn (19) muối, 1 lượng bạc, hoặc 2.500 đồng tiền cấp 3 dẫn. Nay chấp nhận. (20)

Rừng biển là nơi hầm mỏ được khai thác, cũng là nơi dân bị lùa đến để săn bắt cầm thú, hải sản. Các văn bản đề cập đến việc triều cống, tiết lộ cống một lượt 2.000 thúy vũ;(21) ngoài ra còn cống các thú vật quý hiếm khác như tê giác v.v…

Ngày 18 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 16 [25/3/1418]


Đô Chỉ huy Trần Tuấn tại Giao Chỉ sai người đến cống các vật như ngựa, vàng, tê giác, ngà voi. (22)

D.

Đến cỏ cây sâu bọ cũng chẳng được trọn đời,
Người góa bụa khốn cùng không một ai yên ổn.
Hút máu mủ sinh dân, quân gian ác miệng răng nhờn béo,
Dựng công trình thổ mộc, nhà công tư dinh thự nguy nga.
Chốn châu huyện bao tầng sưu dịch,
Nơi xóm làng lặng lẽ cửi canh.

Qua các bằng chứng đã nêu, người đàn ông lúc bấy giờ bị bắt lính, phục dịch nặng nề. Phụ nữ ngoài việc thay chồng nuôi con, phải bỏ khung cửi tại nhà, đến các công xưởng dệt quyên, (23) lụa, làm các đồ tiểu công nghệ để cống tiến thiên triều:

Ngày 29 tháng Chạp năm Vĩnh Lạc thứ 17 [14/1/1420]


Giao Chỉ dâng 1.320 tấm quyên, 5.000 cân tô mộc, 2.000 thúy vũ, 10.000 chiếc quạt. (24)

Của cải tước bóc nhiều, dĩ nhiên con đường bộ qua ải Pha Lũy không tiện cho việc vận chuyển số lượng lớn. Theo lời xin của Trương Phụ, mở phương tiện vận chuyển bằng đường thủy. Thủy trình này nếu tính từ nước ta tại thành Đông Quan [Hà Nội]; thì bắt đầu từ sông Phú Lương [Hồng Hà], qua sông Thiên Đức [sông Đuống], đến sông Lục Đầu, qua sông Kinh Môn, Kinh Thầy ra biển; rồi theo bờ biển vịnh Hạ Long đến châu Khâm (Trung Quốc). Các trạm dịch đường thủy và sở vận chuyển được mô tả như sau:

Ngày 19 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 14 [14/6/1416]


Quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ tâu rằng từ trạm dịch Thiên Nhai thuộc châu Khâm, tỉnh Quảng Đông, qua cảng Miêu Vĩ đến Thông Luân, Phí Đào theo ngả huyện Vạn Ninh đến Giao Chỉ phần lớn do đường thủy, đường bộ chỉ có 291 dặm.(25) Đường cũ bắc Khâu Ôn gần Thất Dịch, nên lập cả trạm đường thủy và trạm ngựa để tiện việc đi lại. [Thiên tử] chấp thuận. Rồi cho lập 2 trạm đường thủy tại Phòng Thành và Phật Đào tại châu Khâm tỉnh Quảng Đông; lập 3 sở chuyển vận tại Ninh Việt, Dõng, Luân; lập ty Tuần kiểm tại Phật Đào; lập 2 trạm mã dịch tại Long Môn, An Viễn huyện Linh Sơn, lập 2 sở chuyển vận tại An Hà, Cách Mộc.

Tại huyện Đồng An, châu Tĩnh An, Giao Chỉ lập trạm dịch đường thủy cùng sở chuyển vận tại Đồng An; lập trạm dịch đường thủy cùng sở chuyển vận tại Vạn Ninh, huyện Vạn Ninh; lập 3 trạm dịch đường thủy tại Tân An thuộc huyện Tân An, An Hoà thuộc huyện An Hoà và Đông Triều thuộc châu Đông Triều; lập trạm dịch đường thủy cùng sở vận chuyển tại Bình Than, huyện Chí Linh; lập trạm dịch đường thủy tại Từ Sơn, thuộc huyện Từ Sơn. Các trạm ngựa tại Thiên Nhai thuộc châu Khâm, Quảng Đông; Gia Lâm thuộc huyện Gia Lâm, sông Lô phủ Giao Châu đều lập trạm đường thủy. Trạm đường thủy Châu Môn, Hoành Châu lệ thuộc vào phủ Nam Ninh, Quảng Tây. Cho thiết lập Thiên Hộ sở thủ ngự tại Tân An, Giao Chỉ. (26)

*

Văn Nguyễn Trãi ý tứ sâu xa phong phú như có phép màu. Qua bốn câu cuối kể tội giặc trong Bình Ngô đại cáo, người viết ngộ ra rằng dù có bỏ thêm mươi năm nghiên cứu cũng không trình bày được hết ý; vậy xin kính cẩn chép lại nguyên văn để làm phần kết thúc bài:

Nguyên văn:

决 東 海 之 水 不 足 以 濯 其 汚,
罄 南 山 之 竹 不 足 以 書 其 惡.
神 人 之 所 共 憤,
天 地 之 所 不 容.

Phiên âm:

Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô,
Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác.
Thần nhân chi sở cộng phẫn,
Thiên địa chi sở bất dung.

Dịch nghĩa:

Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa tanh nhơ,
Chặt hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác.
Thần nhân đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha.

Hồ Bạch Thảo
(New Jersey, Hoa Kỳ)
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 3-2009

6 thg 7, 2009

Mối quan hệ bất cân xứng


Lê Hải

Ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á không đơn giản là theo mô hình "Trung Hoa" hoặc Westphalia mà là một tập hợp các tiếp biến bắt nguồn từ nhiều chủ trương khác nhau trong quá khứ, đó là cách nhìn xuyên suốt trong tác phẩm mới vừa được Đại học quốc gia Singapore xuất bản.

Được sử gia hàng đầu về Đông Nam Á, GS Anthony Reid, chủ biên, tập sách "Thương lượng bất đối xứng: Vị trí của Trung quốc ở châu Á" cũng đồng thời thể hiện quan điểm sử học đương đại, nhìn tiến trình lịch sử từ góc độ văn hóa, xã hội.

Coi mô hình gia đình là góc nhìn chính khi phân tích mối quan hệ giữa các nước Á châu - tức là mandala, một phát hiện của ngành nhân học khi nghiên cứu lịch sử khu vực - các bài viết trong sách đã nêu bật nhiều vấn đề quan trọng về não trạng Trung Quốc trong ngoại giao hiện tại.

Anh em bè bạn

Mặc dù gọi nhau là đồng chí, đảng cộng sản Trung Quốc vẫn thường dùng mối quan hệ gia đình, anh em, bạn bè để mô tả tiến trình bang giao với các nước.

Cả chính quyền phe quốc dân đảng lẫn chính phủ của Mao Trạch Đông sau này đều đặt mục tiêu đưa Trung Quốc vào "gia đình các cường quốc", có quyền phân xử thế giới.

Thế nhưng giới lãnh đạo nước này cũng dần hiểu ra rằng sự ủng hộ đối với họ từ gia đình nhỏ, tức là các nước láng giềng ở châu Á, hầu như là không có, và cũng chẳng có nước nào Trung Quốc có thể gọi là bạn.

Sách giáo khoa tiếng Hoa vào thập niên 1930 từng coi Triều Tiên, Việt Nam, Miến Điện, Lào và Malaya là một dạng "thuộc địa bị mất", theo hồi ức của GS Wang Gungwu từ Đại học quốc gia Úc.

Nay các học giả từ nhiều quốc gia, trong đó có sử gia gốc Việt Alexander L. Vuving, cùng mô tả mối quan hệ "anh em", "bè bạn", hay "cha chú" của Trung Quốc đối với các nước trong khu vực như Triều Tiên, Thái Lan, Việt Nam, Miến Điện, Nhật Bản và Ấn Độ.

Về phần mình, khi nhìn sang mới quan hệ với "gia đình cường quốc" thì Trung Quốc luôn tuyên bố "phát triển hòa bình", nhưng đồng thời tuyên truyền giáo dục về các "hiệp ước bất bình đẳng" mà họ từng phải ký với các cường quốc phương Tây, như ghi nhận của TS Zheng Yangwen từ đại học Manchester.

Chủ nghĩa vùng
Não trạng của giới lãnh đạo Trung Quốc cũng thay đổi trong quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa văn hóa sang hệ tư tưởng dân tộc quốc gia hiện đại.

Lối suy nghĩ coi mình là trung tâm bị chính các vùng ngoại vi, mà lẽ ra là chư hầu, ảnh hưởng ngược lại. Trung Quốc lục địa nay phải chờ nguồn tiền đầu tư từ Hồng Kông hay Đài Loan và các cộng đồng hải ngoại.

Nếu ngày xưa Mao Trạch Đông chính là trung tâm và là khuôn mẫu về con người Trung Quốc hiện đại, thì sau giai đoạn mở cửa của Đặng Tiểu Bình, người dân yêu chuộng hàng hóa phương Tây còn giới trẻ thì không ít người say mê các ngôi sao nhạc Pop từ Hàn Quốc.

Tư tưởng Trung Hoa cũng bị bao vây trong những diễn biến khu vực, mà một trong số các xu hướng nổi bật trong thời toàn cầu hóa là chủ nghĩa vùng - regionalism - như ghi nhận của GS Anbin Shi từ đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh.

Tư tưởng Đại Á của Trung Quốc cũng bị tư tưởng Đại Á của Nhật Bản lấn át, như phân tích của GS Kawashima Shin từ đại học Tokyo.

Vốn là công trình sử học, các tác giả trong quyển "Negotiating Asymmetry: China's Place in Asia" không đưa ra nhận định về tương lai, nhưng những phân tích của họ về lịch sử cận đại cho phép người đọc xây dựng một kịch bản khá chính xác về các diễn biến có thể xảy ra trong vùng.

Đây cũng là những bài viết được trình bày trong hội thảo khoa học do Đại học quốc gia Singapore tổ chức vào năm 2006, nghiên cứu vị thế của Trung Quốc ở châu Á trong khoảng thời gian 1800-2005.

Với chủ trương quảng bá các công trình khoa học "của châu Á, nghiên cứu châu Á, đến với người dân Á châu và thế giới", Đại học quốc gia Singapore và nhà xuất bản của trường đã và đang tiếp tục giới thiệu nhiều tác phẩm nghiên cứu có giá trị đến với cộng đồng tri thức trong khu vực.

BBCVietnamese.com

12 THÁNG ANH ĐI