10 thg 7, 2010

Ngăn ngừa bệnh Alzheimer

Nguyễn Minh Tâm dịch

Phúc trình mới nhất của chính phủ cho biết rằng thuốc bổ (supplements) , hay thuốc chữa bệnh không giúp gì được cả trong việc ngăn ngừa bệnh Alzheimer, tức là bệnh mất dần trí nhớ, bệnh lú lẫn .

Đây là căn bệnh nhiều người già bị vướng phải, giống như trường hợp của cựu Tổng thống Ronald Reagan. Nhưng nếu chúng ta đọc thật kỹ phúc trình của chính phủ, để ý đến những dòng chữ nhỏ, chúng ta sẽ tìm thấy được nhiều thông tín hữu ích trong việc gìn giữ những tế bào chất xám trong đầu không bị lão hoá.

Sự thực được báo cáo này đưa ra cho chúng ta thấy là không có hồ sơ chứng liệu nào cho biết thuốc chữa bệnh, hay thuốc bổ đem lại ích lợi cho việc chống lại căn bệnh quái ác này. Nhưng ngược lại, phúc trình đó lại đưa ra những bằng chứng rõ ràng là nếu chúng ta chịu khó tập thể dục, tỏ ra năng động, ăn uống lành mạnh, giữ cho áp huyết thấp để máu có thể đưa lên não dễ dàng, chúng ta sẽ ngăn ngừa được bệnh mất trí nhớ.

Bản phúc trình không gỉai thích vì sao. Nhưng chúng tôi sẽ phân tích cho độc giả biết rõ: Không phải mọi hiện tượng mất dần trí nhớ- dementia- đều trở thành bệnh Alzheimer. Nhưng đầu óc của chúng ta trở nên cùn lụt khi lớn tuổi là do ảnh hưởng gộp của nhiều yếu tố khác nhau. Yếu tố chính là óc của chúng ta không nhận đủ máu đưa lên đầu, vì mạch máu bị tắc nghẽn, hay bị hở, gọi chung là vascular dementia..Trong cả hai trường hợp đều khiến cho trí nhớ của chúng ta trở nên yếu kém, sự suy nghĩ của chúng ta trở nên loạng quạng (fuzzy), hậu quả bởi việc óc của chúng ta không nhận đủ dưỡng khí (oxygen) và đường (blood sugar).

Nhiều bệnh nhân của căn bệnh Alzheimer không ít thì nhiều đều vướng phải tình trạng vascular dementia. Những trở ngại khi suy nghĩ mà các cụ già gặp phải phần lớn vì máu không đưa lên đầu dễ dàng. Chúng ta có thể ngăn ngừa những rắc rối này, hay sửa chữa những trục trặc đó bằng cách giữ cho mạch máu dẫn máu lưu thông lên não bộ đuợc thông tuông dễ dàng.

Phòng bệnh là biện pháp chúng ta nên làm sớm. Điều này có nghĩa là chúng ta cần làm những gì để giúp máu bơm lên đầu dễ dàng.

Mỗi ngày đi bộ, ít nhất 10,000 bước đi: Hoạt động thể lực giúp máu chạy đều lên óc. Phân bón tự nhiên cho não bộ chính là máu đưa lên đầu. Mỗi ngày ráng bước đi khoảng 10,000 buớc chân, bằng cách này hay cách khác để máu từ tim đi lên đầu. Các nghiên cứu khoa học cho thấy các cụ già trên 65 tuổi chịu khó tập thể dục ít nhất ba lần một tuần tránh được một phần ba rủi ro vướng bệnh Alzheimer . Bạn có thể làm một trong những hoạt động sau đây tùy theo sở thích của mình: Đi bộ, Làm Vườn, hay Khiêu vũ.

Ăn thực đơn có nhiều rau và hoa quả như người Hy Lạp: Rau tươi, trái cây tươi là thức ăn chính cho bộ óc. Trong hoa quả và rau có chứa chất “flovonoids” giúp tăng cường sức mạnh cho hệ thống ngăn ngừa độc tố. Trong một cuộc nghiên cứu nhóm đàn ông đàn bà thích ăn rau quả tươi, uống trà, cà phê, hay rượu nho, có nhiều chất flovonoids . Họ thường có não bộ hoạt động tốt hơn người không dùng rau quả tươi. Và sự suy sụp cuả não bộ tránh được tới 10 năm. Ngoài ra, nhiều cuộc nghiên cứu khác cho thấy mỗi tuần uống vài lần nước ép từ rau quả, sẽ giúp ngừa được 76% bệnh lú lẫn, hay mỗi ngày uống khoảng 900 mg thuốc bổ để thay thế rau, sẽ giúp tăng sự bén nhậy của trí óc, và giúp trẻ thêm được khoảng 3.5 tuổi.

Hay ăn thực đơn của dân Điạ Trung Hải: ăn uống hàng ngày giống thực đơn của người Ý và người Hy Lạp, gồm có rau tươi, hạt đậu (grain), dầu olive, cá, và các loại hạt (nuts) sẽ giúp áp huyết giữ ở mức tốt. Ăn theo kiểu dân Điạ Trung Hải sẽ giúp đầu óc minh mẫn sáng suốt tránh được bệnh Alzheimer khoảng 48% .

Cương quyết từ bỏ những thói hư, tật xấu như hút thuốc lá, và nghiện rượu. Thuốc lá chứa độc tố rất hại cho não bộ, vì thế người hút thuốc lá có nhiều rủi ro bị Alzheimer hơn người không hút thuốc đến 80%

Đừng uống rượu mạnh quá độ. Đa số những người nghiện rượu đều vướng vào bệnh Alzheimer. Đàn bà chỉ nên uống rượu tối đa mỗi ngày một ly thôi. Đàn ông đuợc uống tới hai ly. Uống một chút rượu có lợi cho việc gìn giữ tế bào chất xám. Nhưng uống nhiều quá lại gây nguy hại cho đầu óc, 25% người bị bệnh mất trí nhớ dính líu đến nghiện rượu.

Ráng duy trì huyết áp ổn định ở mức thấp: Huyết áp cao có thể làm cho mạch máu trên đầu bị hở hay đứt. Chính vì vậy, các chuyên gia y tế nói rằng huyết áp cao là nguyên nhân của 50% trường hợp gây ra lú lẫn, hư trí nhớ. Chúng ta hãy ráng duy trì huyết áp ở mức thấp – lý tưởng là 115/75 - bằng cách ăn uống lành mạnh, tập thể dục hàng ngày, giữ trọng lượng thân thể thấp, đừng để lên cân, béo mập. Nên theo dõi mức đường trong máu. Bệnh tiểu đường, hay thậm chí sắp sửa bị tiểu đường cũng là dấu hiệu báo trước có thể bị hở mạch máu đầu, gây ra bệnh lú lẫn. Bệnh tiểu đường dễ làm các mạch máu nhỏ bị hở, và chảy máu trong não.

Tránh đừng để bụng phệ: Vòng bụng ở tuổi trung niên to báo hiệu trước có thể bị vướng bệnh lú lẫn khi về già. Cuộc nghiên cứu theo dõi 6,000 người đưa ra kết quả cho thấy cái bụng phệ rất hại cho động mạch chính dẫn máu về tim, và máu lên đầu. Vì thế cho nên chúng ta nên cố gắng duy trì vòng bụng dưới 35 inches cho các bà, và dưới 40 inches cho các ông.

Chỉ có một bộ phận nên gìn giữ cho to lớn. Đó chính là não bộ của bạn.

Bài viết của hai bác sĩ Mehmet Oz và Michael Roizen
Nguyễn Minh Tâm dịch theo S.F Examiner ngày 1/6/10

8 thg 7, 2010

Ứng xử của Việt Nam khi Mỹ quan tâm đến vấn đề biển Đông?

Đức Tâm

Theo Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ được công bố hồi tháng năm vừa qua, liên quan đến châu Á-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ chủ trương thúc đẩy các lợi ích chung thông qua các quan hệ liên minh, củng cố vai trò của các tổ chức đa phương, đặc biệt là Hiệp hội Đông Nam Á, ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Trong tinh thần này, ngoại trưởng Mỹ bà Hillary Clinton sẽ sang Việt Nam tham dự Diễn đàn Khu vực châu Á, ARF, được tổ chức từ 19 đến 23/07/2010. ARF là diễn đàn an ninh quan trọng nhất trong khu vực.

Sự kiện chính quyền Mỹ quan tâm trở lại đến vấn đề an ninh khu vực châu Á vào lúc vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Trung Quốc và nhiều quốc gia Đông Nam Á đang có xu hướng căng thẳng lên. Cụ thể giữa Việt Nam và Trung Quốc trong hồ sơ Hoàng Sa, giữa Trung Quốc với Bruneil, Đài Loan, Malaysia, Philippines và Việt Nam trong hồ sơ Trường Sa. Bên cạnh đó, Bắc Kinh còn đưa ra yêu sách đường lưỡi bò với tham vọng kiểm soát tới 80% diện tích Biển Đông.

Về phần mình, Hoa Kỳ công khai tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhưng nhấn mạnh rằng quyền tự do thông thương hàng hải phải được tôn trọng.

Trong bối cảnh, đó, nên hiểu thái độ của Mỹ như thế nào và ứng xử của Việt Nam ra sao trước sự lấn lướt của Trung Quốc tại Biển Đông ? Sau đây là phân tích của giáo sư Vũ Hồng Lâm - Alexandre Vuving, thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương - Hawaii.

I- Diễn ARF và thông điệp của Mỹ

Sự hiện diện của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Hội nghị Diễn đàn Khu vực Á Châu ARF đưa ra hai thông điệp. Thứ nhất là Mỹ coi trọng khu vực Đông Nam Á. Thứ hai, Mỹ coi ARF là một diễn đàn đa phương quan trọng về an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Cả hai điều này đều được thể hiện trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia mới công bố của Mỹ.

II- Lập trường của Mỹ trong tranh chấp tại Biển Đông

Đứng ngoài các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các bên thứ ba là lập trường nguyên tắc của Mỹ. Tuy nhiên, gần đây, trước sự gia tăng áp lực của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, lập trường của chính phủ Mỹ đã có sự cụ thể hóa.

Cụ thể là Mỹ phân biệt hai loại tranh chấp ở Biển Đông : Tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về vùng nước trên biển.

Nếu là tranh chấp lãnh thổ, liên quan đến đất đai, đảo, Mỹ đứng trung lập. Nhưng liên quan đến vùng nước, như quan chức bộ Ngoại giao Mỹ đã tuyên bố trong hai cuộc điều trần trước Thượng viện và Quốc hội hồi tháng 7 năm 2009 và tháng 2 năm 2010, Mỹ bác bỏ mọi yêu sách về các vùng nước trên biển mà không phát sinh từ đất liền hay hải đảo. Nói cách khác, Mỹ bác bỏ thẳng thừng yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc.

Mỹ cũng tuyên bố không chấp nhận dùng vũ lực hay áp lực trong tranh chấp chủ quyền, tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Do đó, Mỹ đã phản đối Trung Quốc gây áp lực hay dọa nạt các công ty Mỹ làm ăn với Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Mặc dù Mỹ tuyên bố đứng ngoài các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, nhưng Mỹ cũng tuyên bố quan ngại về tình hình căng thẳng trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng tuyên bố quan ngại về yêu sách quá đáng trên Biển Đông của Trung Quốc cũng như về những hoạt động gây nguy hiểm của Trung Quốc trên Biển Đông. Để đối phó với tình trạng đó, bộ Quốc phòng Mỹ đã có một chiến lược bao gồm các hướng chính là :

1- Khẳng định sự hiện diện quân sự của Mỹ trong vùng Biển Đông, khẳng định vị thế của Mỹ là lực lượng quân sự mạnh nhất trong vùng.

2- Tăng cường thực thi quyền đi lại tự do của hải quân Mỹ trong vùng.

3- Tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với các nước đối tác trong khu vực ở mọi cấp độ. Các nước đối tác bao gồm hai đồng minh Philippines và Thái Lan, các đối tác khác như Indonesia, Singapore, Việt Nam và Malaysia.

4- Tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh đa phương ví dụ như ARF.

Thái độ trên đây của Mỹ có tác dộng là tái lập phần nào thế quân bình quyền lực ở Biển Đông. Việc Mỹ khẳng định bằng sự hiện diện quân sự của mình và bằng các tuyên bố khá mạnh mẽ không để cho nước nào bá chủ trên vùng biển quốc tế ở Biển Đông có thể đã tạo một sự yên tâm nhất định ở các nước nhỏ Đông Nam Á. Tuy nhiên, nguy cơ xung đột liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn còn đó.

III- Việt Nam đón tiếp tàu chiến, đối thoại với Mỹ, nhưng giới lãnh đạo liên tục sang Trung Quốc

Ở một mặt nào đó, các động thái này thể hiện chính sách của Việt Nam muốn giữ thế quân bình trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Do đòi hỏi khách quan, Việt Nam phải dựa vào Mỹ để chống đỡ trước áp lực của Trung Quốc, đặc biệt là ở Biển Đông. Mặt khác, Mỹ cũng muốn tăng cường quan hệ hợp tác an ninh quốc phòng với Việt Nam. Do đó mà có các động thái giữa Việt Nam với Mỹ.

Nhưng thế của Việt Nam vẫn còn rất chơi vơi, sức thì yếu, cho nên có một tư tưởng khá mạnh trong cả giới lãnh đạo lẫn giới chuyên viên của Việt Nam là muốn yên thân thì phải vuốt ve Trung Quốc. Cũng có một tư tưởng nữa muốn dựa vào Trung Quốc để giữ chế độ XHCN. Do đó mà có các động thái giữa Việt Nam và Trung Quốc.

IV-Về khả năng Việt Nam để Mỹ sử dụng quân cảng

Thực ra thì cả Mỹ và Việt Nam đều chưa có một hình dung cụ thể về chuyện Việt Nam để cho Mỹ sử dụng quân cảng ở miền trung, cụ thể là Cam Ranh. Lợi hại của việc này cho phía Việt Nam có thể như sau : Thứ nhất là sự hiện diện quân sự của Mỹ sẽ đem lại thế mạnh cho Việt Nam trong so sánh lực lượng với Trung Quốc ở Biển Đông. Nó sẽ có tác dụng răn đe nhất định đối với nguy cơ Việt Nam bị bất biển, mất đảo. Thứ hai là các dịch vụ cho Mỹ sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam.

Phía Việt Nam cũng có người muốn những lợi ích này, cho nên người ta muốn cho Mỹ tiếp cận mạnh hơn. Thế nhưng cũng có nhiều người nghĩ đến những lợi ích khác. Thứ nhất là họ lo ngại sự chống đối của Trung Quốc. Thứ hai là có người cũng lo ngại ảnh hưởng của Mỹ. Họ coi lợi ích của họ đối lập với lợi ích của Mỹ nên họ chống.

Về phía Mỹ thì cả về chiến lược và chiến thuật, họ đều có nhu cầu tiếp cận các quân cảng của Việt Nam. Nhưng một căn cứu quân sự thường xuyên của Mỹ ở Việt Nam chắc chắn sẽ không xẩy ra trong tương lai gần. Bởi vì việc này sẽ làm thay đổi đáng kể cán cân lực lượng trong vùng.

Về phía Mỹ thì chưa có nhu cầu cấp bách. Việt Nam cũng vậy. Về lâu dài, tôi cho rằng chuyện đó có thể xẩy ra khi mà cán cân lực lượng trong vùng quá lệnh về phía Trung Quốc. Và vì Mỹ có lợi ích chiến lược về tự do lưu thông trên Biển Đông, Việt Nam có lợi ích chiến lược về giữ đảo, giữ biển, cho nên lúc đó có thể Việt Nam sẽ mở cửa quân cảng mạnh hơn cho Mỹ. Tất nhiên, thời điểm lúc nào xẩy ra cũng còn phụ thuộc vào đánh giá riêng của Việt Nam và Mỹ về cán cân lực lượng trong vùng.

Do cán cân lực lượng trong vùng đang thay đổi một cách dần dần, từ từ, cho nên chuyện Việt Nam mở cửa cho tàu chiến Mỹ tiếp cận các cảng biển của mình cũng diễn ra dần dần, từ từ.

Do lợi ích chiến lược có điểm đồng, cho nên cả Mỹ và Việt Nam đều có nhu cầu cho tàu chiến Mỹ tiếp cận cảng biển ở Việt Nam. Nhưng tiếp cận như thế nào thì có rất nhiều kiểu. Hiện nay, vẫn có các cuộc viếng thăm giao lưu hàng năm của tàu hải quân Mỹ. Từ một năm nay thì có thêm một số tàu hải quân Mỹ được đưa vào sửa chữa ở Việt Nam.

Trong tương lai, có thể sẽ mở ra hướng hai bên ký một hiệp định để máy bay và tàu chiến Mỹ được hưởng dịch vụ tiếp liệu trên đất liền của Việt Nam cũng như tàu chiến Việt Nam có thể được tàu chiến Mỹ tiếp liệu trên Biển Đông.

V-Lãnh đạo Việt Nam trước sự chia rẽ của công luận về thân/chống Mỹ - Trung

Bản thân lãnh đạo Việt Nam cũng không thống nhất trong quan điểm đối với Mỹ và Trung Quốc. Tư tưởng của họ cũng phần nào phản ánh các luồng tư tưởng trong công chúng. Có người nghi ngờ Mỹ, có người tương đối tin Mỹ. Có người nghi ngờ Trung Quốc, có người tương đối tin Trung Quốc. Có người ưa Mỹ hơn, có người lại ưa Trung Quốc hơn, có người chẳng ưa ai hết.

Theo truyền thống và cũng như theo bản năng, lãnh đạo Việt Nam muốn thuyết phục công luận không nên tham gia vào việc lớn, việc chiến lược rất phức tạp, tế nhị, theo ngôn ngữ của họ là nhậy cảm, nhiều chuyện không nên và không thể bàn công khai, cho nên tốt nhất là hãy vững tin vào lãnh đạo, để cho lãnh đạo dễ bề chèo lái.

Tuy nhiên, công chúng vẫn cứ tham gia vào việc lớn và sức mạnh của công chúng hiện nay đã lớn đến mức lãnh đạo không thể cản trở quá đáng được nữa. Do đó, lãnh đạo cũng chịu sức ép ngày càng tăng của công luận. Để đối phó, lãnh đạo dùng cả hai phương thức : đàn áp và thuyết phục. Theo tôi, gần đây, việc đàn áp có phần dịu đi và việc thuyết phục có phần tăng lên. Tuy nhiên, hướng thuyết phục thì vẫn chưa rõ ràng lắm.

Nói chung, có vẻ như lãnh đạo Việt Nam muốn thuyết phục rằng Việt Nam cần giữ cần bằng trong quan hệ với các nước lớn. Cần cố gắng làm sao để giữ hòa hiếu với Trung Quốc và Mỹ, nhất là với Trung Quốc, đồng thời làm sao để giữ độc lập, tự chủ, không để cho nước lớn, nhất là Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ.

Lại cũng có xu hướng muốn thuyết phục rằng Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN, cùng chung lý tưởng, cùng chống kẻ thù chung, cho nên những bất đồng như trong chuyện tranh chấp biển đảo chỉ là những tiểu tiết không nên để ảnh hưởng xấu đến đại cục, không nên để Mỹ và các thế lực thù địch lợi dụng chuyện tranh chấp với Trung Quốc, chuyện bảo vệ biển đảo, để kích động gây diễn biến hòa bình, lật đổ Đảng, thay đổi chế độ.

Tuy nhiên, công luận có chịu thuyết phục hay không thì chỉ phụ thuộc một phần vào lý lẽ, một phần lớn là phụ thuộc vao lợi ích. Theo tôi, muốn thực sự thuyết phục công chúng thì phải tiếp cận được nhu cầu của công chúng. Hiện nay, đang có một ngọn lửa đang lên trong công chúng là tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc. Nó day dứt về chỗ đứng của Việt Nam trên thế giới. Nó lo lắng về biển đảo và ngư dân đang bị đe dọa, đất đai và tài nguyên đang bị bán rẻ, môi trường và sức khỏe đang bị xói mòn. Nó rất tự hào về đất nước nhưng cũng rất bức xúc về hiện trạng. Nếu căn cứ vào kinh nghiệm lịch sử, thì lực lượng chính trị nào sử dụng được ngọn lửa này thì lực lượng đó sẽ thành công.

Có người ở Việt Nam không muốn sử dụng ngọn lửa này, vì họ cho là nguy hiểm. Nhưng kinh nghiệm chính trị cũng khiến họ không muốn ai khác sử dụng được ngọn lửa này vì như thế còn nguy hiểm hơn cho họ. Do vậy, họ tìm cách vô hiệu hóa ngọn lửa này.

Nhưng cũng có người trong giới lãnh đạo Việt Nam muốn dùng ngọn lửa này. Chỉ có điều họ đang loay hoay chưa biết dùng thế nào. Vì thế, nhìn chung, sự thuyết phục công luận của lãnh đạo Việt Nam chưa được rõ ràng lắm.

Nguồn: RFI

Người quan trọng nhất trong cuộc đời

Chuyện xảy ra tại một trường đại học của Mỹ

Sắp hết giờ giảng, giáo sư bỗng đề nghị với các sinh viên,"Tôi cùng mọi người thử một trắc nghiệm nhỏ, ai muốn cùng tôi thử nào?"
Một nam sinh bước lên.

Giáo sư nói, "Em hãy viết lên bảng tên của 20 người mà em khó có thể dời bỏ". Chàng trai làm theo. Trong số tên đó có tên của hàng xóm, bạn bè, và người thân...

Giáo sư nói: "Em hãy xoá tên của một người mà em cho rằng không quan trọng nhất!" Chàng trai liền xoá tên của người hàng xóm.

Giáo sư lại nói: "Em hãy xoá thêm một người nữa!". Chàng trai xoá tiếp tên của một đồng nghiệp.
Giáo sư nói tiếp:"Em xoá thêm tên một người nữa đi". Một người không quan trọng nhất trong cuộc đời. chàng trai lại xoá tiếp.....

Cuối cùng, trên bảng chỉ còn lại ba cái tên, bố mẹ, vợ, và con. Cả giảng đường im phăng phắc, mọi người lặng lẽ nhìn vị giáo sư, cảm giác dường như đây không còn đơn thuần là một trò chơi nữa rồi!!

Giáo sư bình tĩnh nói tiếp: "Em hãy xóa thêm một tên nữa!" chàng trai chần chừ, rất khó khăn mới đưa ra được sự lựa chọn....anh đưa viên phấn lên..... và gạch đi tên của bố mẹ!
"Hãy gạch đi một cái tên nữa đi!", tiếng của vị giáo sư lại vang lên bên tai. chàng trai sững lại, rồi như một cái máy, từ từ và kiên quyết gạch bỏ tên của đứa con trai...

Và anh bật khóc thành tiếng, dáng điệu vô cũng đau khổ.

Vị giáo sư chờ cho anh bình tĩnh lại hồi lâu và hỏi: "Lẽ ra người thân thiết nhất với em, phải là cha mẹ và đứa con, bởi cha mẹ là người sinh thành và dạy dỗ em nên người, đứa con là do em dứt ruột sinh ra, còn người vợ thì có thể tìm người khác thay thế được, vậy tại sao, với em người vợ lại là người mà em khó dời xa nhất?"

Cả giảng đường im lặng, chờ nghe câu trả lời.

Chàng trai bình tĩnh và từ tốn nói:
"Theo thời gian, cha mẹ sẽ là dời bỏ tôi mà đi, con cái khi trưởng thành,cũng chắc chắn sẽ rời xa tôi, người luôn ở bên, làm bạn với tôi suốt đời, thực sự chỉ có vợ tôi!"

7 thg 7, 2010

Từ bỏ đảng Cộng-sản

Ngô Nhân Dụng

Nhà báo Bùi Tín mới phổ biến hai bản tin về việc 200 đảng viên Cộng Sản Pháp đã công khai từ bỏ đảng, trong đó có 3 dân biểu Quốc Hội mới viết chung một bài trên nhật báo Thế Giới (Le Monde) giải thích hành động của họ.

Ðây là những quyết định đáng ca ngợi. Các đảng viên cộng sản từ bỏ đảng là một hành động khó khăn, không giống như khi một người ở Mỹ đổi từ đảng Dân Chủ sang Cộng Hòa, hoặc ngược lại. Vì những đảng chính trị ở Mỹ thường chỉ khác nhau về các chính sách trị quốc, ai thích chính sách nào thì hoạt động trong đảng đó; đến khi không đồng ý với các chính sách của đảng thì thay đổi. Chẳng khác gì có người đang ủng hộ đội banh Tây Ban Nha nay đổi sang ủng hộ đội Ðức vậy.

Còn một người vào đảng Cộng Sản thì giống như gia nhập một giáo hội. Họ tôn thờ những giáo điều của các ông thánh Mác, Lê Nin, coi đó là những chân lý, là những giá trị tuyệt đối để theo đuổi trong đời. Cho nên, những đảng viên cộng sản bỏ đảng là họ rất can đảm, dám thú nhận rằng trong quá khứ họ đã chọn nhầm, đã sai lầm trên những điều căn bản. Trong số những người Pháp mới bỏ đảng có những vị đã đắc cử thị trưởng, nghị viên, dân biểu, vân vân, khi họ là đảng viên cộng sản. Nghĩa là họ đã đạt được những địa vị xã hội nhờ nhãn hiệu cộng sản, mà nay họ sẵn sàng từ bỏ. Như vậy thì việc bỏ đảng của họ còn đáng khen hơn những đảng viên thường. Những đảng viên Cộng Sản Việt Nam bây giờ mà dám từ bỏ đảng còn đáng khâm phục hơn những người Pháp này. Vì ở Việt Nam mà bỏ đảng thì không những biết trước sẽ mất nhiều quyền lợi dành cho các đảng viên, mà còn phải chấp nhận có thể sẽ bị đàn áp, trù dập suốt đời. Nếu chế độ đó kéo dài thì đến đời con, đời cháu có thể còn chưa thoát bị trù.

Ngày 9 tháng 6 vừa rồi, ba dân biểu cộng sản đại diện các khu lao động trong vùng thủ đô Paris viết chung một bài dài 767 chữ trên báo Le Monde, Le sens de notre départ du Parti communiste - Ý nghĩa việc chúng tôi rời khỏi Ðảng Cộng Sản. Một nguyên nhân chính mà họ nêu lên là trong nhiều năm qua họ cùng nhiều người khác đã tranh đấu để thay đổi đảng Cộng Sản, nhưng bao nhiêu lời hứa hẹn thay đổi đã bị trì hoãn. Một nguyên nhân khiến người ta muốn thay đổi là không còn muốn ôm lấy những giáo điều cũ rích trong khi thế giới đã đổi thay - một thế giới chính trị đã chết, Ðảng Cộng Sản (Pháp) là một thành phần thừa hưởng di sản đó, một thế giới mới mà chúng tôi mong muốn đang chuẩn bị ra đời (Simplement, un monde politique meurt, don't le PCF est l'un des héritiers, un autre tarde à naitre...).

Nhưng thế giới chính trị đã chết đó là thế giới nào?

Mới nghe người ta có thể tưởng đó là thế giới cộng sản do Liên Bang Xô Viết lãnh đạo. Nhưng không chỉ giản dị như vậy. Sự sụp đổ của Nga Xô và các nước cộng sản chư hầu chỉ là hiện tượng bình thường trong lịch sử. Khi một hệ thống kinh tế chính trị đã tận dụng các ưu điểm của nó, tự nó sẽ sinh bệnh khô cứng rồi chết; khi một đế quốc lan ra rộng quá, trung tâm không còn đủ sức kiểm soát các địa phương, đế quốc tan rã. Một thế giới chính trị quan trọng hơn đã chết, là thế giới trong đó một số người sử dụng quyền bính áp đặt ý kiến của mình trên tất cả mọi người khác để hưởng thụ, trong khi vẫn tự coi mình đang theo đuổi một lý tưởng, nhân danh lợi ích của đám đông. Họ có thể hành động tàn bạo, lừa lọc, gian trá, trong lúc thực hiện “lý tưởng” của họ, vì họ tin rằng họ đã làm chủ được chân lý - để thực hiện chân lý, như một tôn giáo, người ta không từ nan một việc ác nào. Khai tử thế giới đó, chấm dứt ảo vọng đó, dù mới chỉ thực hiện được ở các nước cộng sản Âu Châu thôi, đã là một điều rất đáng mừng cho cả nhân loại.

Những người đầu tiên theo chủ nghĩa cộng sản vì lý tưởng muốn chấm dứt, thay đổi cảnh bất công trong nền kinh tế tư bản. Nhưng lý thuyết kinh tế của Karl Marx dù phân tích rất xuất sắc nhưng chỉ đưa ra những viễn tượng thiếu thực tế, cho nên Lenin đã tìm cách thực hiện qua guồng máy nhà nước. Stalin đã hoàn thiện hệ thống chuyên chế quản lý xã hội này, kiểm soát cuộc sống của tất cả mọi người bằng một guồng máy tập trung. Các người làm cách mạng trong những nước nghèo nhìn vào hệ thống tổ chức đó rất cảm phục vì cảm thấy nó giản dị, hữu hiệu, và dễ bắt chước. Họ tưởng rằng muốn cho các nước nghèo tiến lên với tốc độ nhanh thì nên bắt chước Liên Xô!

Ðó là bắt đầu sai lầm những mối sai lầm.

Sai lầm đầu tiên là một đảng cách mạng dù theo mục tiêu dân chủ nhưng hoạt động trong bí mật sẽ dần dần đưa tới chế độ “quả đầu” ngay trong đảng của họ. Một lớp cán bộ chỉ huy năng động nhất sẽ chiếm độc quyền lãnh đạo và chỉ còn nghĩ tới địa vị của mình, bỏ qua lý tưởng ban đầu mà các đảng viên vẫn theo đuổi. Ðiều này đã được nhà xã hội học Robert Michels (1876-1936), một học trò giỏi của Max Weber nêu lên từ năm 1911. Các đảng cộng sản trên thế giới đều đi vào con đường như Lenin và Stalin đã đi ở Nga, cuối cùng đều phản bội lý tưởng ban đầu, chỉ còn giữ một hệ thống thư lại độc quyền.

Một điều sai lầm quan trọng không kém là họ không nhớ rằng “quyền hành sinh nhũng lạm, quyền tuyệt đối sinh nhũng lạm tuyệt đối.” Lord Acton (1832-1902) được người đời nhớ nhất vì nhận xét giản dị này, mà một người bình thường sử dụng lương tri cũng có thể thấy như vậy. Chỉ những người cuồng tín và tự cao tự đại mới nhắm mắt trước sự thật đơn sơ đó.

Những lãnh tụ cộng sản ở các nước nghèo tưởng rằng họ có thể đưa dân tộc mình vào con đường hiện đại hóa bằng guồng máy kinh tế, chính trị cộng sản Nga, họ phạm một nhầm lẫn khác. Sử dụng chính quyền để thúc đẩy kinh tế tiến lên, thay vì khuyến khích thị trường phát triển, đã không tiến nhanh hơn mà ngược lại còn làm cho quá trình hiện đại hóa chậm chạp hơn. Vì chính quyền không giúp cho xã hội tiến nhanh mà lại trói buộc, trì hoãn, khiến xã hội tiến chậm hơn. Cứ so sánh hai vùng Tây và Ðông Âu Châu sau Ðại Chiến Thứ Hai, thấy ngay. Các nước Ðông Âu có những chính quyền mạnh, tập trung lãnh đạo, chỉ huy, vẽ ra các kế hoạch; còn các nước Tây Âu thì luôn luôn lộn xộn, chính phủ lên rồi lại đổ, những nước như Italy tưởng như không ai cai trị nổi. Nhưng sau cùng Tây Âu đã tới trước Ðông Âu trong cuộc chạy đua kinh tế, đồng thời xã hội của họ cởi mở, tự do, lành mạnh hơn.

Các chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu sụp đổ không phải vì “những thế lực thù địch” nào chống phá mà vì chính người dân, các nhà trí thức, rồi đến các đảng viên cộng sản của các nước đó nhìn thấy con đường họ đang theo bế tắc, vì những sai lầm căn bản trên. Người dân sống nghèo hơn. Họ không có tự do. Ðạo lý cũng suy đồi. Hạnh phúc không đạt được. Những người như Gorbachev, Yeltsin ở Nga, Zaruelski ở Ba Lan, Egon Krenz ở Ðông Ðức không yêu thích gì chế độ dân chủ; họ vẫn mong bảo vệ một chế độ đã nuôi nấng họ, tạo nên địa vị, của cải cho họ. Nhưng họ phải lùi bước, vì những sai lầm tích lũy đã đưa đảng cộng sản đến bước đường cùng. Họ đã “từ bỏ đảng cộng sản” bằng cách lẳng lặng để cho nó tan rã, vô tình giúp bao nhiêu đảng viên khác tự động từ bỏ đảng.

Cuối cùng thì tất cả các đảng viên cộng sản sẽ từ bỏ đảng, bằng cách này hay cách khác. Lịch sử sẽ ghi nhận cộng sản là một cuộc thí nghiệm thất bại của loài người. Kinh tế tư bản có vẻ sống lâu hơn. Tư bản không phải là một chủ nghĩa, mà chỉ là một cách tổ chức kinh tế dựa trên thị trường, trên hoạt động và sáng kiến của các công dân tự do. Hệ thống tư bản không theo một giáo điều cho nên cứ thế thay đổi, thích ứng; chưa biết nó sẽ kéo dài được bao lâu. Loài người sẽ tiếp tục thí nghiệm những phương pháp tổ chức xã hội khác. Một điều chắc sẽ khó thay đổi, là niềm tin vào tự do dân chủ của con người mỗi ngày mạnh hơn. Chỉ trong cuộc sống tự do dân chủ xã hội loài người mới tiến bộ được. Cho nên, nếu các đảng viên Cộng Sản Việt Nam biết từ bỏ đảng sớm, như 200 đảng viên Cộng Sản Pháp vừa mới làm, thì đó sẽ là phúc lớn cho dân tộc.

3 thg 7, 2010

Cuộc chiến Biển Ðông, Việt Cộng kiên trì giữ lập trường chư hầu

Nguyễn Ðạt Thịnh

Tình hình Biển Ðông (Nam Hải) và Ðông Hải đang thay đổi theo chiều hướng thuận lợi cho Việt Nam, nếu Việt Cộng nhân cơ hội căng thẳng giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ để dành lại quyền lợi trên Biển Ðông.

Hoa Kỳ bán trên 6 tỉ mỹ kim chiến cụ cho Ðài Loan, việc này làm Trung Cộng tức giận phản đối, cho là Hoa Kỳ chen lấn vào nội tình nước Tầu, vì họ vẫn chủ trương Ðài Loan chỉ là một tỉnh của Tầu.

Ðể trả đũa và làm nhục Hoa Kỳ, Trung Cộng hủy bỏ chuyến thăm viếng Trung Cộng của ông Robert Gates, tổng trưởng quốc phòng Hoa Kỳ. Gates dự định sẽ thực hiện cuộc viếng thăm này ngay sau hội nghị an ninh vùng Ðông Nam Á nhóm họp tại Singapore, và được mệnh danh là cuộc đối thoại Shangri-La, một địa danh giả tưởng tại Singapore.

Nhà văn người Anh, ông James Hilton trong quyển tiểu thuyết Lost Horizon, đã tạo ra thung lũng Shangri-La, một thiên đàng địa giới, nơi mọi người không thù hằn, không tranh chấp với nhau.

Nhưng Gates đã đối diện với thù hằn và tranh chấp ngay tại Shangri-La: tại đây ông nhận được tin là Trung Cộng không tiếp ông, và hủy bỏ cuộc viếng thăm của ông, vì Hoa Kỳ bán vũ khi cho Ðài Loan.

Gates cho rằng, Trung Quốc không hề xa lạ với việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan, việc làm này liên tục diễn ra từ hơn ba thập kỷ vừa qua. Chỉ tính từ khi Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc năm 1979 cho đến nay, Hoa Kỳ cũng đã bán vũ khí cho Đài Loan 53 lần.

Không những thế, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc hồi tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Obama cũng đã thông báo là Hoa Kỳ sẽ bán vũ khí cho Đài Loan, và Trung Quốc đã biết trước điều đó.

Ðại diện cho Trung Cộng tại hội nghị Shangri-La là đại tướng Mã Hiếu Thiên, tổng tham mưu phó quân đội Trung Cộng. Ông này đáp từ cũng gay gắt không kém.

Thái độ và ngôn từ của hai viên chức cao cấp quân sự Hoa - Mỹ tại Singapore hôm thứ bảy mùng 5 tháng Sáu cho thấy, quan hệ quân sự giữa hai nước đang thật sự có vấn đề, và vấn đề không nẩy sinh, như Gates nói, từ việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan mà thôi.

Nhiều quan sát viên cho là căng thẳng nẩy sinh vì Trung Cộng đang hiện đại hóa quân đội, tạo ra một lực lượng hải quân có thể sắp có khả năng đương đầu với haỉ quân Hoa Kỳ. Việc này làm Hoa Kỳ lo ngại.

David Shambaugh, chuyên gia nghiên cứu về Đảng Cộng sản và Quân đội Trung Quốc tại Đại học George Washington, ông nói: “Hiện đang có sự thay đổi lớn và thái độ cứng rắn trong suy nghĩ của chính phủ Trung Quốc về mối quan hệ với Hoa Kỳ trong vòng sáu hoặc tám tháng qua. Trong bối cảnh này, Washington cần phải tiến hành đánh giá toàn bộ các chính sách và chiến lược của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, từ trên xuống dưới”.

Phải chăng cuộc “đánh giá toàn bộ” này đang diễn ra?

Trong cuộc đối thoại kéo dài 3 ngày tại Shangri-La thái độ của Hoa Kỳ tỏ ra quan tâm đến Biển Ðông hơn; Gates hỏi đại biểu Trung Cộng, “phải chăng chỉ ngư dân Trung Quốc mới được đánh cá trên Biển Ðông?”

Câu hỏi gay gắt của Gates đề cập đến lệnh cấm của Trung Cộng cấm ngư dân các quốc gia sống quan Biển Ðông không được đánh bắt cá hai tháng rưỡi mỗi năm -từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8- và gửi tàu ngư chính đến tuần tra trong khu vực, với lý do bảo vệ nguồn lợi thủy sản; nhưng Trung Cộng chỉ áp dụng lệnh cấm này với ngư dân các nước khác, mà không áp dụng với ngư dân Trung Cộng.

Thuyết trình viên của các quốc gia Ðông Nam Á chứng minh chủ trương của Trung Cộng dành độc quyền đánh cá trên Biển Ðông, bằng cách dẫn chứng chính bản tin của Tân Hoa xã ngày 2 tháng 6, theo đó 9 ngư dân thuộc tỉnh Hải Nam, Trung Quốc, bị nhà chức trách Philippines giam giữ, do các ngư dân này đánh cá ở bãi ngầm Half Moon, cách đảo Palawan của Philippines khoảng 80 km, trong thời gian 2 tháng rưỡi cấm đánh cá. Cũng theo tin từ Tân Hoa xã, 28 ngư dân khác của Trung Quốc đã bị các nước láng giềng bắt giữ từ ngày 12 tháng 5 đến ngày 21 tháng 5, khi họ đang đánh cá ở Biển Đông.

Việc các quốc gia Biển Ðông đồng loạt bắt giữ ngư phủ Trung Hoa hành nghề trong thời gian Trung Cộng cấm đánh cá, có thể cũng không phải là tình cờ. Nhiều người nói đến chiếc đũa nhạc trưởng của Hoa Kỳ.

Giới chuyên gia cho rằng, lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc nhắm tới mục tiêu chiến lược lớn hơn lý là bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Ông Lyle Goldstein, một học giả thuộc Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ cho rằng, việc cấm đánh bắt cá và gửi các tàu ngư chính Trung Quốc tuần tra trong khu vực chỉ phục vụ mục đích khẳng định chủ quyền Trung Cộng trên khu vực hàng hải rộng lớn vốn không phải là hải phận Trung Cộng.

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, thuộc Học viện Quốc phòng Úc cũng viết: “Sau mười năm, chúng ta có thể thấy Trung Cộng ngày càng thêm cứng rắn trong việc bảo vệ và thực thi điều mà họ cho là chủ quyền và quyền lợi kinh tế của mình. Việc sử dụng tàu ngư chính để tuần tra là một thủ đoạn tuyệt vời vì đây không phải tàu chiến, nó sơn màu trắng chứ không phải màu xám. Nhưng chớ có lầm tưởng, những con tàu này đều được trang bị vũ khí đầy đủ”.

Robert Gates kêu gọi sự tự do tiếp cận ở khu vực Biển Đông, ông chính sách của Hoa Kỳ đối với Biển Đông là sự ổn định, quyền tự do đi lại và tự do phát triển kinh tế mà không bị ngăn cản.

Gates còn nói Hoa Kỳ sẽ không đứng về phía nào trong các tranh chấp và kêu gọi tất cả các nước giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua các phương thức hòa bình, có nghĩa là các nước nên tuân theo luật pháp quốc tế.

Cũng trong phát biểu hôm thứ bảy mùng 5 tháng Sáu, ông Gates cho biết thêm, Hoa Thịnh Ðốn phản đối bất kỳ sự hăm dọa nào đối với các công ty năng lượng Hoa Kỳ trong khu vực.

Trong một cảnh báo gửi tới Trung Quốc được giữ kín, ông Gates ám chỉ các mối đe dọa mà Bắc Kinh sử dụng đối với các công ty dầu khí của Mỹ về việc thăm dò ngoài khơi, trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ông nói: "Chúng tôi phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe doạ các công ty Hoa Kỳ, hoặc các công ty thuộc bất kỳ quốc gia nào tham gia vào các hoạt động kinh tế hợp pháp".

Liên quan tới việc Trung Quốc đe dọa các công ty dầu khí khai thác trên Biển Đông, tháng bảy năm ngoái, một viên chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói với Ủy ban Quốc hội rằng, Trung Quốc yêu cầu một số công ty năng lượng Hoa Kỳ và các công ty năng lượng nước ngoài chấm dứt các dự án với các công ty Việt Nam, nếu không sẽ phải đối mặt với sự trả đũa thương mại ở Trung Quốc.

Việc Hoa Kỳ khẳng định lập trường trong cuộc tranh chấp Biển Ðông đang làm cho cuộc chiến dành chủ quyền trên vùng biển này thay đổi. Trung Cộng đã có dấu hiệu thôi, không đóng vai trò cảnh sát phạt vi cảnh ngư dân Việt Nam hành nghề trên biển Việt Nam nữa; dấu hiệu đầu tiên là chúng đổi áo, vứt bỏ mầu áo “nhà cầm quyền” để mặc lên bộ áo hải tặc gây khủng bố cho ngư dân bằng những tai nạn hải hành.

Biến chuyển đầu tiên đánh dấu tình trạng đổi thay này là việc sáng sớm ngày thứ Bẩy 12 tháng Sáu một chiếc “tầu lạ” đến từ phía sau, chạy nhanh đến mức đâm chìm tầu cá của ông Võ Xuân Tiền, một ngư dân Việt Nam, ngụ tại xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi.

Việc “tầu lạ” đâm chìm tầu cá Việt Nam không phải chuyện mới xẩy ra lần đầu; trên 3 tháng trước, hôm mùng 9 tháng Ba 2010, chiếc tàu cá mang số QNg 96516 TS của Ông Dương Thành Phú cũng đã bị “tàu lạ” đâm chìm hôm 9/3/2010, cũng đã bị “tàu lạ” đâm chìm, và năm ngoái “tầu lạ” cũng gây ra nhiều tai nạn tương tự.

Tuy nhiên lần này nó đánh dấu một giai đoạn mới, và một chiến thuật mới của Trung Cộng; mới vì có thể kể từ nay chúng không còn dám công khai bắt ngư thuyền, giam ngư dân Việt Nam để rồi thả ra sau khi đã đòi được “tiền phạt”.
Hai ngày sau việc tàu cá của ông Tiền bị nạn, ông Nguyễn Dự, chủ tịch xã An Hải, công bố chi tiết về “dzụ dziệc”: “Họ về xã hồi 10 giờ sáng ngày 13 tháng 6, chỉ có 15 người về, còn hai người ở lại chăm sóc cho người bị thương gãy tay phải giải phẫu ghép xương. Theo báo cáo của họ: khi trên đường về từ cách Cù Lao Xanh vào sáng sớm ngày 12, tàu cá của họ bị một tàu lạ lớn đi phía sau đâm vào. Những người đang ngủ phải gạt nước cửa cabin để thoát ra ngoài. Tất cả bám vào một cái thúng còn nổi. Trong tàu có mười mấy điện thoại di động nhưng chỉ còn mấy chiếc bọc trong bao nylon là còn dùng được vì chưa bị ướt. Họ sử dụng máy này gọi về gia đình. Sau khi nhận được tin, tàu cứu nạn ra tìm, nhưng cả mấy tiếng đồng hồ vẫn chưa tìm được; sau đó, nhờ có một tàu đi ngang và có máy định vị cho biết rõ vị trí, tàu cứu nạn đến cứu họ và đưa về Qui Nhơn.”

Nhưng tướng Việt Cộng Phùng Quang Thanh sau cuộc họp an ninh khu vực ở Shangri-la, Singapore, về lại khẳng định là Việt Cộng không để Hoa Kỳ chen vào tình hình Biển Ðông.

Ông không cần nghe ngư dân Quảng Ngãi trách móc, “Chúng tôi đi làm nghề mà bị Trung Quốc bắt nộp tiền chuộc thì tự mình chịu thôi. Còn đi làm trên biển thì một năm chỉ gặp tàu hải quân Việt Nam có mấy lần. Trong tình hình khó khăn hiện nay vẫn chưa thấy có gì hơn.”

Là những người tự lực đương cự với Trung Cộng, ngư dân không tin vào thiện chí của chính phủ Việt Cộng hổ trợ họ. Ông Nguyễn Dự than phiền thế cô đơn như con bà phước của ngư dân, “gặp tai nạn về đến bờ, ngư dân chỉ được Bảo hiểm Bình Định hỗ trợ tiền ăn hôm mới được đưa về tới Qui Nhơn; sau đó tự túc và làm thủ tục xin trợ cấp.”

Ðược hỏi về tổ chức ngư dân tại Quảng Ngãi đứng ra thành lập đội tự quản để ra khơi hành nghề, ông Nguyễn Dự cho hay: “Họ chỉ lo an ninh trật tự tại bến bãi, còn khi ra khơi đi làm mỗi người mỗi đường; đến khi về thì hẹn nhau cùng về; chỉ có thế thôi.”

Chính phủ Việt Cộng không từ nhân dân Việt Nam mà ra, không vì nhân dân Việt Nam mà có, và do đó không phục vụ cho nhân dân Việt Nam; chúng từ Bắc Kinh ra, nhờ Bắc Kinh mà tồn tại, và luôn luôn kiên trì phục vụ Bắc Kinh.

Nguyễn Ðạt Thịnh

CHUYỆN CƯỜi DÂN GIAN

Chuyện cười cho vui

Nuôi Chồng

Nhà sắp có khách, bà vợ tay chống nạnh hất hàm hỏi ông chồng :

- Bộ ông định mặc quần đùi để tiếp khách hay sao vậy ?
Ông chồng hậm hực trả lời :
- Phải, tôi muốn mọi người đều biết bà đã nuôi tôi như thế nào!
Bà vợ không phải tay vừa đáp ngay :
- Được, nếu vậy ông hãy cởi luôn cái quần đùi ra đi, để cho họ thấy ông có đáng để nuôi không !
Ông chồng: !!!!!!

Người Vợ Tuyệt Vời

Hai người bạn nói chuyện với nhau:
- Có lẽ mình phải xin ly dị.
- Sao vậy?
- Vợ mình nửa năm nay không thèm nói với mình một câu nào.
- Cậu điên à! Biết tìm đâu ra một người vợ tuyệt vời như thế.

Tiếng Thở Dài

Quan tòa hỏi một nhân chứng nữ:
-Có chồng hay chưa?
Bà này thở dài.
Tòa nói với thư ký:
-Ghi đi: chưa chồng.
Một lát sau quan toà hỏi một nhân chứng nam:
- Đã có vợ chưa?
Người này cũng thở dài.
Tòa nói:
-Ghi đi: đã có vợ.

BÁN VÍ

Một Cô nguời Trung đứng rao bán ví:
- bóp đây …bóp đây... bóp đây
bóp trên thì 5 ngàn
bóp dưới 7 ngàn
bóp bên phải và bên trái cùng giá
... bóp đi bóp đi.......
- bóp da thì 7 ngàn
bóp lông 13 ngàn
bóp ngoài 3 ngàn
bóp trong 8 ngàn

... bóp đi bóp đi.........

thấy vậy có 1 anh chàng đi ngang qua liền hỏi
- cô ơi vậy bóp nào là rẻ nhất
cô gái trả lời:
-bóp em là rẻ nhất ...
rồi quen miệng cô nói luôn:
-bóp đây anh bóp đi

ĐÀN BÀ GIỎI THẬT

Một bà sau khi cho tiền ông hành khất ở cuối nhà thờ liền hỏi:
"Sao ông ra nông nỗi này, vợ con ông đâu?"
"Thưa bà, vợ tôi chẳng may qua đời rồi ạ. Nếu vợ tôi còn thì tôi đâu đến nông nỗi này ạ"
Bà quay sang ông chồng:
"Thấy chưa, đàn bà là đảm đang lắm. Không có đàn bà là chỉ có nước đi ăn mày. Nhưng khi còn sống bà ấy làm gì hả ông?"
"Thưa nó đi ăn mày thay cho tôi ạ.”

BỆNH TÌNH

Chăm sóc chồng ốm nặng, cô vợ sụt sùi hỏi:
- Anh thấy trong người thế nào?
Chồng:
- Mấy hôm nay em bớt nói, thần kinh anh đã ổn định dần, đỡ co giật

Bia Ôm

Hai vợ chồng già ngồi nói chuyện:
- Lúc ngồi xe ôm, ôm cái thằng lái xe, bà có thấy thích không?
- Thích thú cái gì, chẳng qua để an toàn thì phải ôm vậy thôi!
- Đó bà thấy chưa? Bà cứ nói bia ôm này nọ, nhưng nó cũng như xe ôm thôi. Vào quán uống bia nhiều phải say, say thì phải ôm một cái gì đó cho khỏi ngã! Hoàn cảnh nó buộc phải vậy chứ thích thú cái gì!

Đảng Cộng sản và tương lai Việt Nam

Bill Hayton (Đinh Từ Thức dịch)

Lời người dịch: Bill Hayton là ký giả thường trú của BBC tại Việt Nam vào năm 2006-7. Trong khoảng thời gian này, ông cũng viết cho các báo The Times, Finantial Times, và Bangkok Post. Mới đây, Yale University Press đã xuất bản cuốn Vietnam Rising Dragon của Bill Hayton, với những nhận xét rất sắc bén của ông về tình hình Việt Nam.

Trong khi đang có cuộc thảo luận về “Trước thềm Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam”, xin mời quý độc giả đọc dưới đây bản dịch bài “Epilogue” (Lời kết) trong cuốn Vietnam Rising Dragon.

Không có điều gì không thể xảy ra kế tiếp tại Việt Nam. Xứ sở này phát triển hay trì trệ, sẽ tùy thuộc vào sự lựa chọn chính yếu của Đảng Cộng sản. Các thành tố cho sự thành công của quốc gia đã sẵn sàng. Vài thứ có thể đo lường được dễ dàng: một dân tộc trẻ trung, số đông có trình độ giáo dục căn bản, và đầu tư ngoại quốc tràn ngập. Những thứ khác kém cụ thể hơn, đặc biệt về tính lạc quan và khả năng tiếp thụ của dân chúng. Nhưng những thành tố này có thể dễ dàng bị hoang phí hay hư hao. Đất nước đang tích trữ những khó khăn – sự vững mạnh của thành phần tinh hoa mới, sự sa sút của nhà nước, việc lạm dụng môi sinh, bất bình đẳng sắc tộc và những điều khác đã trình bày. Tất cả những vấn đề này đều có thể giải quyết được, nhưng càng để lâu, càng trở thành tệ hại. Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà lãnh đạo Đảng có ý chí để giải quyết chúng kịp thời.

Tôi không tin rằng Đảng đang trên đường tiến tới tự do dân chủ, ngay cả hướng về “dân chủ điều khiển”. Cả hai thuật ngữ này đều hàm ý về chủ quyền đối với người dân và không phải là lối suy nghĩ của Đảng. Đảng chuẩn bị cho sự tham dự rộng rãi hơn trong việc quản trị đất nước, đặc biệt ở cấp xã, nhưng không chuẩn bị cho người dân cai trị. Tất cả bằng chứng cho thấy Đảng chú tâm nắm giữ quyền làm chính sách. Công dân có quyền báo động về những lạm dụng hay kém hiệu quả, nhưng không được quy trách các nhà lãnh đạo Đảng hay những người được che chở về việc làm hay vị thế vĩnh viễn của họ. Những nguyên nhân chính của các vấn đề như tham nhũng, ô nhiễm hay tài chính bất ổn thì cứ để mặc cho đến khi chúng trở thành khủng hoảng.

Từ khi được độc lập, Đảng đã duy trì sự kiểm soát trên cả nước qua hệ thống theo dõi và vận dụng. Nhưng khi đất nước trở thành giàu có hơn, hệ thống này trở thành khó duy trì hơn. Lương cao sẽ khiến việc duy trì hệ thống bảo đảm công việc cho mọi người không thể kham nổi và những công dân có lợi tức độc lập có nhiều khả năng hơn để coi thường [hệ thống kiểm soát của Đảng]. Thế hệ dân chúng trẻ hơn, hấp thụ hàng ngàn thứ giải trí hấp dẫn của cuộc sống thành thị, không dễ dàng bị vận dụng bởi các chỉ thị của Đảng. Thiếu các nghĩa vụ truyền thống về theo dõi và vận dụng, Đảng bộ địa phương sẽ sa sút và thẩm quyền bị tàn tạ. Đảng sẽ cần cơ chế mới để giúp quản trị xã hội mới. Đã có một đồng minh chủ yếu trong xã hội Việt Nam trọng truyền thống là nghĩa vụ đối với gia đình và cộng đồng nhưng bù lại phải có nhiều tự trị hơn cho họ.

Trong vài thập niên qua, Đảng đã đạt được sự trung thành bằng cách phát triển kinh tế và tạo việc làm. Sản phảm nông nghiệp, công nghệ và kỹ nghệ sản xuất đã bùng phát nhưng đã phải trả giá về môi sinh. Ngư nghiệp bị tàn phá, sông ngòi bị chết vì chất độc phế thải và thành phố bị nghẹt thở vì ô nhiễm. Bây giờ người dân phải trả giá. Cách phát triển hiện tại nói thẳng ra là không thể kham nổi. Nếu những vùng quanh Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành những đô thị kỹ nghệ lớn thì chúng cần có những biện pháp bảo vệ môi sinh chặt chẽ hơn, hay rất giản dị, chúng sẽ trở thành những nơi không thể sinh sống được.

Phát triển đem lại lợi lộc cho các thành phố nhiều hơn cho các vùng nông thôn, và cho người Kinh nhiều hơn các sắc tộc. Vì các vùng xa bị bỏ lại phía sau, và bất bình đẳng sắc tộc gia tăng, các nhóm thiểu số cảm thấy bị tách biệt nhiều hơn. Những khiếu kiện về kinh tế có thể trở thành khiếu kiện về sắc tộc. Tình trạng tại vùng Trung Nguyên đã đáng ngại và có thể sẽ tệ hơn. Tình trạng của các nhóm thiểu số khác, như người Khmer ở Đồng bằng Cửu Long, hay như các nhóm sống ở miền tây Bắc Cao nguyên và miền ven biển nam-trung, trong khi chưa đến nỗi tệ, vẫn có thể dễ dàng trở thành vấn đề chính trị.

Cho đến nay, Đảng đã quản trị đất nước trải qua thời kỳ chuyển tiếp tương đối tốt. Việt Nam đã đi từ chủ nghĩa Stalin sang kinh tế thị trường mà không trải qua tình trạng sát huynh đệ như Yugoslavia hay “sốc trị” (shock therapy) như tại Đông Âu. Nhưng mỗi ngày xã hội trở thành phiền toái thêm và những vấn đề của nó rắc rối hơn. Đảng không thể giải quyết chúng một mình. Gia tăng đương đầu với những vấn đề, như thêm bất bình đẳng và tham nhũng địa phương, thì không phải là kỹ thuật mà là chính trị, và giải quyết chúng cần phải đối phó với thành phần tinh hoa mới. Trong vài năm gần đây, Đảng đã có thể cầm cương giới đặc lợi khi họ đe dọa ổn định an ninh quốc gia nhưng khả năng làm như vậy đang suy yếu. Thành viên của Đảng nhiều dân thành thị hơn, nhiều tiểu tư sản hơn. Các đại gia và xếp lớn địa phương tạo ra những hệ thống bao che biến họ thành những người không thể đụng tới. Giới đặc lợi đang nắm quyền.

Qua trên 70 năm biến đổi, Đảng Cộng sản đã kiến tạo được một đặc tính mạnh mẽ về lãnh đạo quốc gia và trách nhiệm tập thể. Nó đã duy trì được kỷ luật trong hàng ngũ chọn lọc và giữ được sự khác biệt trong phạm vi cân xứng có thể cầm chừng được. Nền dân chủ nội bộ của nó đã cho phép những mối quan tâm khác biệt trong xã hội được thảo luận và tìm ra vài đồng thuận. Câu hỏi lớn nhất đối diện đất nước là liệu Đảng có thể tiếp tục đóng vai trò đó khi xã hội trở thành giàu có hơn và phân chia hơn. Nếu Đảng trở thành công cụ của thành phần kinh doanh chọn lọc rồi các nhóm khác, đặc biệt là công nhân, có thể chọn cách hành động bên ngoài hệ thống Đảng. Hơn nữa, nhiều thế lực mới xuất hiện trong xã hội, bên ngoài Đảng. Nếu Đảng không tìm cách để bao gồm họ trong việc hoạch định đường lối, họ có thể trở thành bất kham.

Không có vấn đề nào vừa kể sẽ được giải quyết trừ khi có áp lực phải làm như vậy, nhưng hệ thống ảnh hưởng dễ dãi lại cản trở sự phân tích nghiêm túc về chúng. Phải chăng số phận của Việt Nam là trở thành một nước khác tại Đông Nam Á bị cai trị bởi một băng đảng độc tài (oligarchy)? Rõ rệt là có thể như vậy nhưng không bắt buộc phải như vậy. Từ lâu Đảng đã hạn chế tự do ngôn luận để khỏi phải đương đầu về quyền cai trị của mình. Nhưng, lâu dần quyền phát biểu đã bị giới hạn vì lợi ích cá nhân của người ở địa vị cao. Lợi ích cá nhân của họ đã được ưu tiên hơn lợi ích quốc gia. Những ai vẫn còn coi lợi ích quốc gia là ưu tiên cần sự giúp đỡ. Họ cần giới truyền thông có thể tìm ra những sự thật khó chịu, họ cần những con người của công chúng để phổ biến những khiếu kiện và họ cần có thể vận dụng áp lực trên giới lãnh đạo. Để Việt Nam có thể gia nhập hàng ngũ các con hổ kinh tế, nó cần phải được tháo xiềng xích về tự do phát biểu. Nó có thể gây rắc rối trong ngắn hạn nhưng cuối cùng nó sẽ tránh được nhiều gấp bội.

12 THÁNG ANH ĐI