23 thg 1, 2011

Tại sao Hồ Cẩm Ðào chịu nhún?

Ngô Nhân Dụng

Ðây là một bài học cho những người cầm quyền ở Việt Nam: Ðối với giới lãnh đạo Trung Quốc, cách đối xử cứng rắn có hiệu quả hơn là mềm mỏng. Chuyến đi của ông Hồ Cẩm Ðào sang Washington kết thúc, ông Hồ chịu thua trên hai mặt trận.

Về chính trị, ông Hồ thú nhận với những lời lẽ nhún nhường, rằng Trung Quốc còn phải cố gắng thêm về nhân quyền.

Về mặt kinh tế, ông Barack Obama đem lại cho các công ty Mỹ những hợp đồng thương mại trị giá 45 tỷ đô la, sẽ tạo ra thêm 235,000 công việc. Trong khi đó chính phủ Mỹ không đưa ra một nhượng bộ nào cả. Có thể nói, trận đá bóng ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc suốt năm 2010 đã đưa tới kết quả Mỹ 2, Trung Quốc 0.

Trong lúc ông tổng thống Mỹ mang bộ mặt cứng rắn, các đại biểu Quốc Hội vẫn công khai đòi Trung Quốc phải tăng hối suất đồng nhân dân tệ, phải trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, phải tôn trọng tác quyền của các hãng General Motors, Boeing, Microsoft hay các nhà sản xuất phim bên Mỹ, cả một bảng liệt kê những đòi hỏi từ trước tới nay, không thay đổi. Ông Hồ phải gặp riêng các lãnh tụ hai đảng ở Quốc Hội Mỹ, cho thấy ông không muốn bị chất vấn trước đám đông. Nhưng sự kiện này cho thấy ông phải công nhận tại nước Mỹ ông tổng thống không có toàn quyền như vị chủ tịch nước Trung Hoa. Nhất là khi Hạ Viện Mỹ do một đảng đối lập với Tòa Bạch Ốc chiếm đa số. Quốc gia nào thương thuyết với Mỹ cũng phải biết như vậy. Vì thế, ông Hồ Cẩm Ðào đã phải chịu nhún mặc dù trong suốt năm ngoái đã bị Mỹ tấn công trên nhiều mặt.

Từ đầu năm 2010, chính phủ Mỹ đã bắt đầu tấn công, trên cả hai mặt ngoại giao và kinh tế. Trên các diễn đàn quốc tế, ngay tại Singapore và Hà Nội, các bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao tuyên bố ủng hộ lập trường các nước Ðông Nam Á trong các vấn đề tranh chấp ở biển Ðông. Bắc Kinh phản đối ầm lên nhưng vẫn phải nhún. Họ chịu tiếp ông Robert Gates mặc dù trước đó năm ngoái đã cấm cửa ông vì Mỹ bán vũ khí cho Ðài Loan. Khi Bắc Hàn gây hấn với Nam Hàn, Mỹ đã đá trái banh cho Trung Quốc phải lo giải quyết với Kim Chính Nhật, trong khi vẫn củng cố quan hệ quân sự với Nam Hàn. Bà Hillary Clinton đã tuyên bố thẳng những bất đồng ý kiến với Bắc Kinh, về nhân quyền, về đồng nhân dân tệ giá quá thấp, về cán cân thương mại thiếu cân bằng, vân vân, ngay trước khi ông Hồ tới Mỹ. Ít có một chính phủ nào chuẩn bị tiếp một quốc khách với thái độ cứng rắn như vậy. Ngay trong các cuộc gặp gỡ ở Tòa Bạch Ốc, ông Obama phản đối việc bỏ tù ông Lưu Hiểu Ba, người mà bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Trung Hoa bôi xấu thậm tệ sau khi ông được giải Nobel Hòa Bình. Ông Obama đã lấy ngay khẩu hiệu “Xã hội hài hòa” của ông Hồ Cẩm Ðào để dậy dỗ rằng “Lịch sử cho thấy các xã hội sống hài hòa hơn, các quốc gia thành công hơn, thế giới công bằng hơn khi các quyền lợi và bổn phận của tất cả mọi quốc gia và mọi con người được tôn trọng.” Một ông tổng thống trẻ, của một quốc gia trẻ mới hơn 200 tuổi, đã “lên lớp” vị chủ tịch một nước với hơn một tỷ dân và 5,000 năm văn hiến; đó là một hành động thách đố rõ ràng.

Trên mặt kinh tế, Bộ Tài Chánh Mỹ và các đại biểu Quốc Hội cùng lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh phải nâng giá đồng tiền của họ và chịu để cho các công ty của họ nhập cảng từ Mỹ nhiều hơn. Ngay trong lúc tiếp ông Hồ Cẩm Ðào, ông Obama cũng than phiền chính phủ Bắc Kinh đã đem tiền mua 200 tỷ đô la ra để cố ý giữ giá đồng tiền của họ thấp mãi. Chính phủ Mỹ có một thứ vũ khí để đe dọa Bắc Kinh trong vấn đề này là dùng báo cáo của Bộ Ngoại Giao cho Quốc Hội, phê bình Bắc Kinh đã dìm giá đồng tiền của họ một cách không ngay thẳng. Khi nhận được báo cáo đó, Quốc Hội Mỹ có thể làm luật đặt ra những hàng rào ngăn chặn bớt hàng nhập cảng từ Trung Quốc.

Cuộc tấn công của các ông Barack Obama, Robert Gates và bà Hillary Clinton trong một năm qua đã có kết quả. Ông Hồ Cẩm Ðào xuống nước. Ông chính thức thú nhận trong cuộc họp báo chung rằng “Trung Quốc còn phải hành động nhiều hơn trên vấn đề nhân quyền!” Hai chữ “nhân quyền” xưa nay vẫn là những chữ cấm kỵ trong ngôn ngữ ngoại giao của Bắc Kinh. Mỗi khi có ai đặt vấn đề nhân quyền là họ giẫy nẩy lên, lập tức lớn tiếng phản đối, sẽ tố cáo người ta đang can thiệp vào chuyện nội bộ giữa chính phủ và người dân trong nước họ. Nhưng lần này, chính ông Hồ Cẩm Ðào chịu thú nhận trong nước Trung Hoa có vấn đề đó và chính phủ của ông còn thiếu sót chưa làm đủ. Và nói điều đó trước công chúng, sau khi bị nhà báo đặt câu hỏi lần thứ hai, và phải nhận lỗi đã không trả lời trước vì không được thông dịch!

Tại sao ông Hồ Cẩm Ðào chịu nhún nhường như vậy? Vì những người lãnh đạo ở Trung Nam Hải biết rằng nếu việc bang giao giữa hai nước căng thẳng thì Trung Quốc sẽ chịu nhiều thiệt hại hơn so với Mỹ. Từ 30 năm nay, từ khi ông Ðặng Tiểu Bình đi thăm nước Mỹ lần đầu, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh vẫn đặt câu hỏi: Giữa Mỹ và Trung Quốc ai cần ai hơn? Thời 1979 khi ông Jimmy Carter tiếp ông Ðặng Tiểu Bình, họ cho là Trung Quốc cần Mỹ hơn, cán cân chênh lệch 70-30 nghiêng về phía Mỹ. Trong những năm 2007 đến 2009, khi nước Mỹ rơi vào hai cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế, Bắc Kinh cho là đã lập được thế cân bằng, 50-50, hai bền đều cần đến nhau. Nhưng thái độ nhún nhường của ông Hồ Cẩm Ðào trong chuyến đi này cho thấy họ có thể thấy họ cần Mỹ hơn là Mỹ cần họ, mặc dù bên nào cũng có lợi nếu hai nước giao hảo. Không những chịu nhượng bộ công khai về vấn đề nhân quyền, ông Hồ Cẩm Ðào còn nói rằng Trung Quốc và Mỹ phải cộng tác với nhau trong các vấn đề ở vòng đai Thái Bình Dương. Trong đó, chắc chắn có vùng các quần đảo ở Ðông Nam Á! Trước đây 6 tháng, Bắc Kinh còn nạt nộ rằng Mỹ là kẻ đứng ngoài, không được phép chen chân vào “việc nội bộ” giữa Trung Quốc và các quốc gia trong vùng này!

Giới lãnh đạo ở Bắc Kinh biết rõ thực lực của họ. Khi ông Gorbachev chịu nhượng bộ Mỹ trong những năm 1988, 89, chính ông ta biết rõ thực lực của Liên Bang Xô Viết hơn tất cả các cơ quan tình báo Tây phương. Nền kinh tế Trung Quốc hiện nay đang được “tiêm thuốc bổ” để tiếp tục lớn lên với những món tiền ngân hàng của nhà nước đưa cho các xí nghiệp vay mà không cần sinh lời. Tình trạng đó không thể kéo dài mãi được. Tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa thành phố và nông thôn cũng không thể kéo dài mãi. Nạn lạm phát đang đe dọa là hậu quả của chính sách bơm tiền vào kinh tế mà không gia tăng hiệu năng sản xuất; lạm phát sẽ còn lên cao nữa, giống như tình trạng ở Việt Nam hiện nay. Nền kinh tế tăng trưởng một cách giả tạo theo lối kinh tế chỉ huy có thể sẽ vỡ ra nếu lạm phát tiếp tục lên mà việc xuất cảng bị đình trệ. Trung Quốc còn may mắn và giỏi hơn Cộng Sản Việt Nam vì cán cân thương mại của họ vẫn thặng dư, nhưng điều đó tùy thuộc vào việc xuất cảng sang Mỹ và các nước Tây phương khác. Âu Châu đang lo suy thoái chưa có đường gỡ ra; chỉ còn khối người tiêu thụ ở Mỹ có thể tiếp tục mua hàng. Chính phủ Trung Quốc biết phải bảo vệ thị trường ngon lành này. Không phải chỉ có nền kinh tế Trung Quốc cần việc giao thương ổn định, mà chính vận mạng của chế độ cũng tùy thuộc vào đó. Người dân sẽ không thể chịu đựng sống dưới một chế độ độc tài mãi khi lạm phát làm cho đồng lương họ lãnh về mất giá trị.

Hơn nữa, giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải cũng biết sức tăng trưởng của nền kinh tế sẽ “đụng trần” khi việc bơm tiền vào như chích thuốc bổ dần dần mất hiệu lực. Kinh tế nước Trung Hoa phải thay đổi cơ cấu nhiều hơn. Ðồng thời, phải cho người dân được tự do lên tiếng và tham dự vào công việc quốc gia nhiều hơn, để những nỗi bất mãn có con đường bộc lộ và chuyển hóa, thay vì chờ ngày bùng nổ. Vì vậy, gần đây ông Ôn Gia Bảo đã loan báo trước công chúng rằng kinh tế nước ông không thể tiến bộ nếu không cải tổ chính trị. Khi ông Hồ Cẩm Ðào nói ông còn phải nỗ lực thêm về vấn đề nhân quyền, đó là một sự thật, đó là nhu cầu của hơn một tỷ người Trung Hoa. Liệu giới lãnh đạo Bắc Kinh có thể thực hiện được điều đó không, hay là họ sẽ bị giới bảo thủ trong đảng ngăn cản? Chúng ta phải chờ tương lai mới biết.

Nhưng quả thật ông Hồ Cẩm Ðào đã chịu nhún. Cho nên đây cũng là một bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Trên mặt ngoại giao, bài học đó là: Ðối với chính quyền Trung Quốc, mềm mỏng sẽ bị họ khinh thường; cứng rắn có hiệu quả tốt. Khi ông Obama mới gặp đã nói thẳng với ông Hồ Cẩm Ðào về việc giam giữ Lưu Hiểu Ba, đồng thời lại than phiền về cán cân thương mại chênh lệch; điều đó cũng chẳng khác gì một người lãnh đạo chính quyền ở Hà Nội tố cáo thẳng thừng việc các ngư dân Việt Nam bị bắt cóc và cướp bóc, đồng thời than phiền rằng hàng hóa Trung Quốc đang tràn ngập giết chết các xí nghiệp Việt Nam.

Chỉ có điều là ông Obama dám nói. Còn giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thì không. Barack Obama dám nói vì địa vị tổng thống của ông tùy thuộc lá phiếu của dân Mỹ chứ không lệ thuộc vào sự ủng hộ của chính quyền Bắc Kinh. Những người cầm đầu chính quyền Cộng Sản Việt Nam có dám suy nghĩ như vậy hay không?

Barack Obama dám nói, vì ông có thể dùng mối đe dọa của Quốc Hội, một định chế có thế lực ngang hàng với ông. Việc quốc gia không phải là độc quyền của một chính phủ hay một đảng. Quốc Hội Mỹ có quyền cắt ngân sách khiến chính phủ không thể thi hành các chính sách của mình. Ông tổng thống phải lắng nghe ý kiến của dân, và các đại biểu Quốc Hội cũng vậy. Khi tới Mỹ, ông Hồ Cẩm Ðào phải gặp cả ông tổng thống lẫn các người lãnh đạo Quốc Hội. Không những thế, ông còn gặp riêng các nhà kinh doanh, những người điều khiển các xí nghiệp, ít nhất hai lần chính thức. Tại sao ông chịu nhún nhường như vậy? Vì thể chế chính trị ở Mỹ. Chính các ông tổng thống Mỹ đã vận dụng sức mạnh của thể chế đó mỗi khi phải thương thuyết với các nước khác. Họ sẽ nói: Tôi có thể nhượng bộ, nhưng Quốc Hội họ sẽ không chịu! Báo chí họ sẽ phê phán, giới kinh doanh không theo! Nhượng bộ nào làm nước Mỹ bị thiệt thì dân sẽ biết hết, tôi sẽ thất cử!

Kỹ thuật thương thuyết này, những người cầm đầu chính quyền ở Việt Nam không thể nào sử dụng được. Vì ai cũng biết họ nắm toàn quyền. Quốc Hội chỉ biết gật đầu. Báo chí chỉ chờ nghe lệnh nhà nước. Dân không được phát biểu, cũng không được tự do bầu, chọn người cai trị.

Chỉ khi nào nước Việt Nam được tự do dân chủ thì các chính quyền Việt Nam mới có thế mạnh để thương thuyết ngoại giao với bất cứ quốc gia nào, trong đó có Trung Quốc. Nghĩ đến tương lai đất nước thì chúng ta phải đòi dân chủ hóa. Khi đó, người Việt Nam mới đủ sức mạnh đương đầu với Trung Quốc. Như Tiến Sĩ Ðinh Hoàng Thắng ở trong nước đã nêu ra nhận xét của Tướng Lưu Á Châu (Liu Yazhou), chính ủy Ðại Học Quốc Phòng Trung Quốc: “Vị tướng hai sao này chứng minh rằng nguyên nhân sụp đổ của đảng Cộng Sản Xô Viết chính là hệ thống chính trị, chứ không là kinh tế, hay quân sự. Tương phản với Liên Xô, bí quyết thành công của Hoa Kỳ nằm ngay trong chế độ pháp trị bền vững và hệ thống chính trị đằng sau chế độ pháp trị này, chứ không nằm trong sức mạnh tại trung tâm tài chính phố Wall, hay công nghệ cao ở thung lũng Silicon.” Người Việt Nam phải lắng nghe kinh nghiệm này.

20 thg 1, 2011

Đêm xuân cầu nguyện

Hàn Mặc Tử

Trời hôm nay bình an
như nguyệt bạch,
Đường trăng xa,
ánh sáng tuyệt vời bay...
Đây là hương quí trọng thấm trong mây
Ngời phép lạ của đức tin kiều diễm .
Câu tán tạ, không khen long cả phiếm .

Bút Xuân thu mùa nhạc đến vừa khi
Khắp mười phương điềm lạ trổ hoài nghi .
Cây bằng gấm và lòng sông toàn ngọc !
Và đầu hôm một vì sao liền mọc
Ơ phương Nam mầu nhiệm biết ngần mô !
Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho,
Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo.
Ta chấp hai tay lạy quỳ hoan hảo.
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian,
Để vừa dâng, vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế.

Đã no nê, đã bưa rồi, thế hệ
Của phường trai mê mẩn khí thanh cao.
Phượng Hoàng bay trong một tối trăng sao
Mà ánh sáng không còn khiêm nhượng nữa;
Đương cầu xin, ọc thơ ra dường sữa,
Ta ngất đi trong khoái lạc của hồn đau...

Trên chín tầng diêu rộng cả trân châu
Dường sống lại muôn ngàn hoa phẩm tiết
Nhịp song đôi : này đây, cung cầm nguyệt
Ướp lời thơ thành phước lộc của đường tu,
Tôi van lơn, thầm nguyện Chúa Giê Su
Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối,
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng :
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng.
Hàn Mặc Tử

14 thg 1, 2011

LỬA TẾT

Bình Nguyên Lộc
Nỗi khổ của tôi bắt đầu từ hôm bíc-níc ấy. Tôi có mang theo bánh mì, lạp xưởng và nước trà nóng đựng trong bình thủy, nên khỏi phải làm việc. Chính anh Minh, ba của con bé Liên của chúng tôi, đã đòi hỏi như vậy, anh ấy cho rằng ăn bánh mì tuy không ngon bằng ăn cơm nhưng anh ấy không muốn thấy tôi cực nhọc cả trong ngày nghỉ cuối tuần nữa.

Chúng tôi câu cá tại bờ con rạch nhỏ, nơi mà chúng tôi cắm trại, trong khi bé Liên đuổi bướm và bắt chuồn chuồn. Thật ra thì câu cá chỉ là cái cớ để vợ chồng chúng tôi tắm nắng một cách nên thơ vậy thôi chớ hình như là cá nó thù, hoặc nhờm chúng tôi hay sao ấy mà không bao giờ chúng nó cắn câu của vợ chồng tôi. Vả, nếu may mắn (hay rủi ro?) mà được cá thì chắc anh Minh, anh ấy sẽ bối rối ghê lắm vì một mặt anh ấy cưng vợ, một mặt anh ấy tiếc cá, cứ muốn bắt tôi kho hay chiên gì đó.

Ấy, anh Minh hơi gàn gàn, nhưng tôi không dè mà anh ấy lại gàn đậm kể từ hôm đó.

Chẳng, sau hai tiếng đồng hồ làm ông già sông Vị, anh ấy đâm chán và rủ tôi vào xóm. Đi thì đi, bởi tôi cũng nghe da mặt nóng lắm rồi, má tôi rát rân lên vì bị nắng đốt nhiều giờ rồi.

Trên con đường mòn ngoằn ngoèo đưa vào cái ấp lớn thoáng thấy đằng kia, chúng tôi gặp một nếp nhà tranh vừa cất xong, chưa ở. Nhà trống trơn và cửa phên tre dựng bên vách hông nhà, cho chúng tôi thấy rõ bên trong: Giữa gian nhà giữa, trên nền đất, một lò lửa đã tàn lụn nhưng than còn ngún trên tro. Hai bên lò lửa là một lu nước đầy gần tràn và một khạp gạo đầy nhóc.

Thuở bé tôi ở thôn quê, nên biết rằng đó là những món tượng trưng cho sự đầm ấm và sung túc mà người ta bày ra giữa nhà mới, hăm bốn tiếng đồng hồ trước khi vào ở, để cầu một đời ấm no và vui vẻ về sau.

Anh Minh say sưa nhìn bếp lửa và lu nước rồi nói, như nói một mình: "Ta có danh từ nước lửa, danh từ ấy chỉ hai thứ thiên tai mà ta rất sợ. Nhưng...

Giây lát sau, tôi đi vào ấp với bên cạnh tôi, một người bạn đời thình lình mắc bệnh á khẩu. Nếu không có bé Liên cái miệng tía lia, cả ba chúng tôi giống một đoàn người đi đưa đám ma mà giữ lễ theo phép lịch sự Âu châu.

Tới đầu xóm, anh Minh nói bằng giọng ra lịnh:- Từ rày có đi bíc-níc, nên mang gạo, mang nồi theo để thổi nấu, cấm nhặt em cho gia đình ăn bánh mì, lạp xưởng hoặc bánh hỏi thịt quay.

Tôi cười mà rằng:
- Trước đây thì cấm thổi nấu, cho đến ăn cơm mo, cơm vắt, làm sẵn ở nhà, anh cũng cấm. Giờ thì... trái hẳn lại. Nhưng không hề gì, em sẽ chiều ý anh.

Anh Minh không chịu vào xóm, đứng đó mà ngắm cái gì rất lâu không rõ, đoạn đưa mẹ con chúng tôi trở về lều. Anh ấy đã vui tươi trở lại và không khí buổi ăn trưa hôm ấy bình thường nếu không có cái lịnh mới nầy. Anh ấy hỏi:
- Thùng dầu lửa ở nhà đã hết rồi chớ? Anh nhớ hình như hôm qua em có dặn anh chở chiếc thùng không lại cây xăng gần nhà để đong thêm mười tám lít?
- Đúng như vậy, và chiều nay, về Sài gòn, anh nhớ cho, kẻo mai không có dầu mà nấu ăn.
- Không, không nấu bằng dầu lửa nữa. Chiều nay anh sẽ ghé vựa để mua một tạ than đước với hai cái lò đất nung. Cho cái lò dầu lửa về hưu đi.

Tôi hơi lo. Chồng tôi chỉ làm việc vừa chừng thôi, không hề gặp rắc rối sinh kế hay tình cảm nào, trong họ nhà chồng tôi cũng không nghe nói có người nào điên. Nhưng sao lại có cái lịnh kỳ dị nầy? Than đước một tạ sáu trăm đồng, nấu chỉ có một tháng là hết sạch. Trong cái thời gian ấy thì nấu đốt lò bằng dầu lửa, chỉ phải tốn có trăm sáu thôi. Nhưng rồi anh Minh đi hái hoa dại cho mẹ con tôi, nên tôi lại an lòng được vì một kẻ hóa điên thình lình, không hề nghĩ đến sự bộc lộ tế nhị của tình thương yêu như thế đâu.

Chiều lại, chúng tôi về tới Sài gòn là đã sáu giờ rồi. Theo chương trình thì chúng tôi đi ăn hiệu, nhưng anh Minh lại đổi chiến lược vào phút chót, có lẽ vì... "lý do kỹ thuật" chăng? Anh bỏ mẹ con tôi tại một góc phố kia, bảo gọi xích-lô đạp mà về nhà, còn anh ấy thì phóng xì-cút-tơ đi mua lò đất nung và than đước. Thì ra cái vụ than đước nầy không phải là lời đùa đâu mà là cả một kế hoạch nghiêm trang. Đã hơn sáu giờ rồi. Vào giờ nầy mà bắt vựa than họ chở than tới nhà, mà phải chở tốc hành, không thôi tới nửa đêm, dễ thường chưa có cơm mà ăn, thì họ sẽ tính tiền chở gấp ba cho mà coi!

Lại không có gì mà ăn nữa. Má tôi ở nhà, nhưng bà cụ chỉ cần một dĩa cá kho mặn mà thôi. Rồi anh ấy lại kêu là nuốt không trôi! Vào giờ nầy, còn chợ búa đâu để mà mua thịt, mua cá? Rõ khổ! Tôi không ngại phải nấu bữa ăn tối nầy. Đi ăn hiệu là tại anh ấy bày đặt cho tốn tiền chớ tôi đã đề nghị từ lâu là làm sẵn vài món ăn hồi trưa thứ bảy, chiều chúa nhựt về tới nhà, chỉ còn việc hâm lại cho nóng mà thôi. Mà cũng không phải là tôi hâm nữa. Má tôi ăn cơm hơi sớm, ăn xong, bà hâm giùm tôi là kịp lúc chúng tôi về đến nơi.

Anh Minh mới có băm hai tuổi mà đã gàn ra thì sống chung với anh ấy thêm hai ba mươi năm nữa, tôi chịu sao thấu hở trời!

Kỳ lạ nhất là khi má tôi nghe tôi kể chuyện điên của "ông" rể gàn của bà, đôi mắt bà lại sáng lên. Má tôi ở thôn quê không được yên, nên anh Minh anh ấy rước bà lên đây từ ba năm nay. Chú rể quí ấy được má tôi cưng ghê lắm. Anh ấy có nịnh má tôi chăng ? Hình như là không vì bà cũng chẳng còn tài sản gì để anh ấy phải dùng thủ đoạn hầu hưởng một phần gia tài lớn hơn phần của người anh cả của tôi. Biết vậy, nên tôi tủi thân lắm, buổi đầu mà má tôi lên đây. Má tôi không cưng anh ấy vì sự nịnh nọt của anh ấy, thì tức là cưng anh ấy vì lòng thương, mà lại thương anh ấy nhiều hơn là thương tôi nữa. Nói thì nói chớ tôi cũng lo tắm rửa cho bé Liên, còn chính tôi thì tôi bỏ tắm chạy lại hiệu chạp phô ở đầu phố để mua trứng vịt, hàm-yũ để phụ thêm với món cá kho muôn năm của má tôi, cho mâm cơm ra vẻ một chút.

Giây lâu sau, xe ba bánh đưa than về và má tôi chạy ra cổng rước than như dân đi tiếp rước quan to, hồi tiền chiến. Chính má tôi đốt lò, quạt than và vo cơm, rồi bà không chịu rời nhà bếp nữa.

Bữa ăn hôm ấy, tôi không vui vì bị giá của tạ than đước ám ảnh. Tôi phân trần với má tôi:
- Má coi ! Than mắc tiền bằng ba lần dầu lửa, vậy mà...
Anh Minh cười hề hề, chận lời tôi:
- Có lần em đã nói: "Thôi, em không học may áo đầm cho bé Liên đâu. Mình học chăm thế nào cũng không giỏi bằng thợ mà họ may sẵn bày bán ở các hiệu, còn rẻ hơn là chính mình may lấy nữa. Em đã nói sai."

Má tôi đã phụ họa theo:
- Ừ, con sai lầm. Đâu có phải như vậy.
- Ơ kìa, em nói chuyện than đước kia mà, mắc mớ gì đến áo đầm chớ ?
- Than đước, tức là áo đầm đó.
- Ừ, cha con Liên nói có lý. Má tôi lại phụ họa theo anh ấy.

Má tôi đã già nên lẩm cẩm, thì còn nhịn được, chớ anh Minh mà nói chuyện tầm ruồng như thế, là anh ấy sắp đi nhà thương Biên hòa rồi vậy. Tôi kinh ngạc, nhìn anh ấy trừng trừng. Anh ấy lại cười hề hề mà rằng:
- May áo đầm, thật ra, không phải là may áo đầm.
Tôi sợ quá. Rõ ràng là anh Minh hóa điên. Nhưng tôi cũng hỏi:
- Chớ là gì?
- May áo đầm là một qui phạm.
- Qui phạm là gì?
- Là một kỷ luật mà ta cố theo, và kỷ luật ấy luyện cho ta vào cái nếp nội trợ.
- Chớ em không làm nội trợ à?
- Không, em chỉ làm nội trợ miễn cưỡng mà thôi. Em thích đi làm thu ngân viên hơn. Em có óc công nhân, chớ không có óc nội trợ đâu. Ai lại không biết rằng học chăm đến đâu cũng không giỏi bằng thợ, rằng ta hà tiện vải đến đâu, áo may cũng không rẻ bằng áo mua, họ may hằng nghìn cái nên giá vốn rất hạ. Nhưng khi may áo cho con, em sẽ để tấm lòng thương yêu con vào đó, em sẽ cố gắng và sẽ mến được cái qui phạm may áo và ngày kia em được đưa vào nếp nội trợ, em làm nội trợ một cách vui thích, nhớ công việc nội trợ như các cô đào nhớ đèn sân khấu mỗi đêm.
- Chồng con nó nói đúng đó con à. Má tôi ủng hộ anh chồng gàn của tôi và bỏ rơi tôi.
Tôi giựt nẩy mình trước một điều vô cùng mới lạ mà tôi nghe chồng tôi nói lần đầu: may áo, không phải là may áo, mà là một qui phạm nó luyện tính con người. Tôi giựt mình vì đã có lần tôi đã chê nhà binh sao cứ bắt lính mới, tập đi ọt, đơ mãi cho tốn thì giờ, và cậu tôi giải thích: "Đi ọt, đơ, thật ra không phải là đi ọt, đơ. Đó là một qui phạm nó luyện cho các tân binh chịu đựng được kỷ luật nghiêm khắc của nhà binh".

Nhưng dầu vậy tôi vẫn không chịu thua, cố cãi:
- Nhưng may áo đầm, sao lại là than đước được! Anh khéo nói điên!
Anh Minh lại cười, hề hề:
- Bởi vì than đước, thật ra không phải là than đước.
- Nữa, lại cái luận điệu đó nữa.
- Chớ sao, vì luận điệu đó tốt. Em có biết thành ngữ "Ăn lông ở lỗ" hay không?
- Anh đi xa vấn đề quá rồi !
- Đâu có xa. Trước khi loài người "ở lỗ" họ rày đây mai đó. Họ không có đời sống gia đình. Khi họ phát kiến ra LỬA rồi thì họ mới định cư lại, chưa biết cất nhà thì họ tìm hang mà ở, lập gia đình, rồi đêm ngày nhen nhúm lửa thiêng, đời đời kiếp kiếp nuôi nấng lửa để ấm hang, nuôi nấng tình gia đình để ấm lòng. May áo và nhúm lửa là ý niệm gia đình, không may áo, không nhúm lửa, không xong. Anh chợt nhớ ra sự thật ấy khi ta bắt gặp nếp nhà tranh mới cất và chủ nhà nguyện cầu, thề bồi bằng nước, lửa và gạo, nguyện cầu được no ấm, thề bồi nổ lực cho gia đình được no ấm.
- Nhưng, dầu lửa lại không là lửa à? Tôi lại cãi.
- Không. Em đã không thấy má đã dành đốt lò với em đó sao?
- Ừ, tao nhớ lửa lắm, thèm lửa lắm. Má tôi xác nhận.

Chồng tôi diễn thuyết:
- Lửa thiêng của gia đình, phải bốc khói, khói ấy phải quyện lấy mái tranh. Ta ở thành phố, không thể mong hưởng những thứ ấy thì lửa, ít ra, cũng phải nổ lách tách trong lò, và tiết ra mùi cây cỏ. Ở miền Nam ta, có người gọi dầu lửa là dầu hôi, và quả nó hôi thật. Nhưng lửa thiêng của gia đình phải thơm, thơm mùi thảo thụ. Dầu sao nhìn lửa than cũng vui mắt hơn, nghe nó có linh hồn hơn, nó gợi nhớ sự sống hơn. Chiếc áo mà chính tay em may sẽ mang cái bản ngã của em, dầu nó không được đẹp lắm, chớ không nặc danh như những chiếc áo khéo, mua ở hiệu. Chiếc bánh phơ-lăng do chính tay em làm, có cháy khét đi nữa, cũng được hương vị của tình thương của em đối với gia đình, chớ không vô hồn như bánh đết-se của các hiệu ăn sang trọng.

Má tôi nói:
- Tao thì tao thèm nấu bằng củi hơn. Khói củi thơm hơn khói than. Chiếc áo bà ba nầy, tao đã may một tháng mới xong, nhưng...
- ...nhưng nó quí ở chỗ nó mang nhãn hiệu "BÀ NGOẠI CỦA BÉ LIÊN" ? Tôi hỏi đùa.

Má tôi và anh chồng gàn của tôi đồng cười xòa, rồi má tôi chẫm rãi tuyên truyền cho tôi nghe:
- Nè, củi mỗi thứ mỗi khác đó nhé. Củi bắp phơi khô để làm củi, thì ngọn lửa xanh như lửa đèn cồn. Vỏ măng cụt phơi khô, chụm nó nổ lách tách y như than Cà mau. Củi nhánh sao chết rụng trên vệ đường, nó cháy rụi tỏa ra cái mùi của thời tiết gió bấc về. Còn mầy biết củi gì thơm ngát hay không? Đó là dăm tiện.
- Dăm tiện là gì má? Chồng tôi hỏi.
- Muốn làm những vật dụng tròn như kiểu chơn bàn, chơn ghế kia chẳng hạn, thợ tiện họ đưa cây vào máy tiện, cây nó mới tròn trịa đều đặn được, chớ thợ mộc tài nào mà trau giồi cho nó tròn. Các món đồ tiện, luôn luôn là vật dụng quí nên được làm bằng đủ thứ gỗ quí: trắc, cẩm lai, huỳnh đàn, cho nên dăm tiện nó thơm dữ lắm, thơm cái mùi hỗn hợp của đủ loại gỗ mắc tiền. Lửa củi đã thơm mà hình thù của nó cũng hay lắm. Nó cháy lên, mình thấy được, chớ không vô hình như lửa của các lò dầu lửa đâu. Nhìn ngọn lửa cũng ngộ, nhìn màu lửa còn ngộ hơn. Mà hay nhứt là lửa củi không chết.

Bé Liên ngơ ngác hỏi:
- Lửa cũng chết nữa sao, bà ngoại?
- Sao lại không? Lửa lò dầu, nấu xong bữa ăn là nó tắt liền, vì ta phải tắt nó, kẻo hao dầu. Lửa củi đâu có như vậy. Nấu ăn xong thì người ta vùi củi dưới tro. Tro xốp lắm, nên than củi âm ỉ cháy tối ngày sáng đêm, bước vô nhà bếp thì nghe ấm liền, ấm thật sự, mà cũng ấm cúng nữa. Nhà bếp ở đây lạnh tanh từ đúng ngọ cho tới năm giờ chiều, nhà nào cũng vậy. Bước vào các nhà bếp ở đây, nghe ơn ớn nơi xương sống như là vô nhà hoang chết chủ!

Tôi ao ước từ mấy năm nay một bộ lò điện mà anh Minh chưa đủ khả năng tài chánh để thỏa mãn giấc mơ của tôi. Lò điện tiện và sạch hơn lò dầu lửa nhiều lắm. Nhưng bỗng tôi nghe hết ham cái tiện nghi văn minh đó nữa.

Tôi đã cười đùa chồng tôi vì anh Minh chỉ biết ra lệnh và nói lý thuyết. Má tôi dốt lý thuyết nên bà chỉ tả mà thôi, và quả tôi bỗng nghe thoang thoảng mùi lửa dăm tiện đâu đây, cái mùi vô cùng đặc biệt thường nghe thuở bé, hồi còn sống trong làng.
Má tôi lại nói:
- Ở đây sao mà lạ quá, không có mùi gì hết, hay chỉ có hai thứ mùi, mùi nước hoa và mùi ống cống. Mùi hay lắm. Mùi đất xông lên, sau đám mưa đầu mùa nè, mùi bông bưởi, bông sao nè, mùi củi cây rù rì nè, mùi lúa chín nè, mùi rơm khô nè, mùi phân chuồng nè, mùi rau, đậu tươi nè. Nói tới đây sao mà tao bắt nhớ nhà chịu không thấu nữa ! Con Liên, chắc ngày sau, nó đi đâu ở cũng được, vì thành phố không có cái gì làm cho nó nhớ hết.
- Có chớ, bà ngoại ! Liên cãi.
- Có cái gì? Má tôi hỏi.
- Có kem nè, có xi-nê nè, có đèn màu nè!
- Rồi cháu sẽ thấy rằng những thứ ấy không gợi nhớ đâu.
- Chớ cái gì gợi nhớ hở bà ngoại?
- Mùi vị khác kia, như mùi khói đống un lá chết vào mùa gió bấc mà người ta un lên để hơ ấm, bởi vì mùi đó còn dính líu tới những cái khác nữa, mà nhiều thứ mới họp lại thành một nỗi nhớ được.
- Thứ nào với thứ nào bà ngoại?
- Nhiều thứ lắm, bà không biết nói ra. à... ờ... thí dụ như lửa Tết, lửa đêm ba mươi nấu bánh tét, quanh lò lửa lớn ấy có mặt đông đủ cả nhà, ai đi mần ăn xa ở đâu, cũng phải về, đông đủ cả nhà mà đôi khi đông đủ cả họ nữa, vì có những bà con nghèo, không gia đình, không nhà cửa, họ xin hưởng ké sự ấm cúng của bất cứ người nào trong họ mà có được một bếp lửa.
- Còn thứ gì nữa bà ngoại?
- Còn lu bù thứ. Cả nhà họp mặt đông đủ thì vui, nấu nướng suốt đêm các món ăn ngon, kể cho nhau nghe chuyện mần ăn của mình ở xa, nhắc lại chuyện ăn Tết ngày xưa của ông bà tổ tiên. Đêm cuối năm gió lạnh lắm, mà quây quần quanh bếp lửa, ấm ghê đi. Nhà có nhúm lửa, nghe như là sung túc, mà nhúm những bếp lửa lớn, nghe càng sung túc hơn. Đó rồi thì ngày mai lại, lửa cháy trong bếp suốt ba ngày ba đêm, không được hạ ngọn phút nào hết, cho nó vui. Ở làng, người ta cất nhà lớn, nhưng cả nhà đều ở sau bếp, không phải sợ nhà trên mòn mà không dám ở, mà vì nhà bếp vui hơn, mà vui hơn là nhờ lửa.
Tôi cãi:
- Nhưng ở đây, chật hẹp như vầy, dầu cho có ghiền khói, ghiền lửa như má, cũng không làm sao mà...
- Ừ, nhưng nấu than cũng tạm an ủi được phần nào.
Chồng tôi nhìn tôi mà cười, đắc thắng.

12 thg 1, 2011

Cánh thiệp cuối năm

Tưởng Năng Tiến
Khi bạn đứng tần ngần trước một quầy hàng bầy thiệp giáng sinh, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm thì mọi chuyện (kể như) đã lỡ. Chúng ta lại chậm trễ mất rồi.

Năm ngoái, cũng vào khoảng thời gian này đây. Nghĩa là cái lúc mà Noel đã đến sát tận lưng, và tết Dương Lịch đang lù lù trước mặt thì (không dưng) bạn nhận được dăm ba cánh thiệp muộn màng.

Thiệp có đặc tính chung là thường chuyên chở một thứ nội dung làm sẵn, và hoàn toàn đã nhẵn – đại loại như:”…một mùa giáng sinh tràn đầy ân sủng Chúa và một năm mới tràn đầy hạnh phúc.” Ân sủng Chúa, nếu có, e cũng khó mà có thể phân phát tùm lum cho toàn thể nhân loại được.

Chúng ta đông quá, và mỗi lúc một thêm đông. Sức Chúa, cũng như sức người, có hạn thôi chớ bộ.

Còn hạnh phúc thì sợ rằng chưa ai biết nó hình dáng hay mùi vị (thực sự) ra sao. Chúng ta chỉ đều hiểu (một cách mơ hồ) rằng hễ nói đến hạnh phúc thì chớ dại mà mong cho nó “tràn đầy.” Mọi thứ đầy đều dễ đổ. Và hạnh phúc thì (ôi thôi) cứ đổ bể rầm rầm, ở bất cứ thời nào, và bất cứ nơi đâu.

Bạn có thể không để ý đến nội dung hàm hồ của những tấm thiệp kiểu đó nhưng tên người gửi vẫn khiến bạn phải lưu tâm (chút đỉnh) chớ, đúng không? Ủa, có nhiều thằng cha lạ hoắc; tại sao chả lại gửi thiệp làm chi vậy cà? Có những con mẹ mà bạn tưởng rằng đã hoàn toàn và vĩnh viễn bước ra khỏi đời mình rồi thì (bỗng dưng) chiều cuối năm – khi nắng vàng dịu dàng đang nhẹ nhàng ôm ấp những thảm cỏ xanh mênh mông ở California – bạn lại nhận được một cánh thiệp (từ nơi xa xăm) của … cố nhân!

Mà không phải là loại thiệp dởm, mua hàng lố đâu. Thiệp loại (cực) chiến, kích thước dềnh dàng, mắc tiền là cái chắc. Cũng không phải chỉ có một chữ ký vội vàng (cẩu thả) bên dưới hàng chữ “Merry Christmas and Happy New Year,” hay vài câu viết thêm vừa vô nghĩa, vừa ngớ ngẩn – như thường thấy – đâu nha. Người ta tuy chỉ viết đôi dòng ngắn ngủi nhưng thiệt là thấm đậm, nồng nàn và tình tứ hết biết luôn.

(Cố nhân ơi biết chiều nay ta buồn!)

Những cánh thiệp muộn màng (và bàng hoàng) cỡ đó, đôi khi, làm người nhận vô cùng bối rối. Nó là bằng chứng hùng hồn về cách cư xử (rất) thiếu văn minh của bạn. Nó khiến chúng ta lấy làm tiếc là tại sao mình lại vô tâm đến thế, sao không nhớ gửi thiệp cho thiên hạ – như họ đã (đều đặn) gửi cho mình – vào dịp cuối năm. Có lúc, yếu lòng hơn, nó còn (dám) khiến bạn tự hứa là sang năm sẽ nhớ ghé qua hàng bán thiệp cho phải chuyện, và ghé sớm – cho xong chuyện.

Nếu đến đúng cái lúc gọi là “sang năm” đó mà chúng ta thực hiện được lời hứa một cách nghiêm chỉnh đàng hoàng thì cuộc đời (rõ ràng) là ổn thỏa, và dễ sống biết chừng nào mà nói. Cuộc đời, than ôi, vốn cùng khó sống. Bởi vậy, khi mà bạn có đủ trí nhớ (và nghị lực) để dừng xe, tắp ngay vào một cửa tiệm nào đó thì chuyện gửi thiệp (e) lại muộn mất rồi.

Bạn lại đứng tần ngần trước trước một rừng thiệp giáng sinh, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm – y như năm ngoái, hoặc năm kia vậy. Và tình trạng này (không chừng) đã xẩy ra từ năm kỉa, hay năm kìa lận.

Chèng ơi, nếu duyên nợ của bạn đối với mấy tấm thiệp mà cứ nhì nhằng (triền miên) từ năm này qua năm khác, hay từ thập niên nọ đến thập niên kia thì cũng đừng vì thế mà … bi lụy quá, rất hại cho sức khỏe. Như vậy, không chừng, còn là một điều may mắn nữa đó nha.

- Ủa, may sao?

- Dạ, đúng!

Nói tình ngay thì bạn cũng không may gì mấy. Có điều, chắc chắn, là bạn vẫn may mắn hơn cả đống người Việt tha hương khác. Xin đơn cử một thí dụ, về một trường hợp rất không may, bằng cách tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

Có kẻ ngay sau khi thấy rằng chuyện gửi thiệp giáng sinh không còn kịp nữa thì họ quyết định ngay là mua thiệp xuân để gửi đi cho kịp Tết. Họ thua keo này (liền) bầy keo khác.

Họ suy tính một cái “rẹt” ; hành động một cái “rột.” Thấy mà đã mắt, nghe mà sướng tai. Trong sinh hoạt hàng ngày của họ không có những giờ phút (vớ vẩn) kiểu như “tần ngần,” “do dự” hay “nuối tiếc”… về bất cứ chuyện gì. Bạn thấy họ sống mà ham, đúng không?

Khoan, gượm một tí đi … Có nhiều chuyện (ngó) tưởng vậy chớ không phải vậy. Từ từ rồi bạn sẽ thấy là họ cũng khốn đốn thấy mẹ luôn …

Hãy hình dung ra chính bạn đang ngồi ngay ngắn nơi bàn viết, với một đống thiệp xuân – mua trước Tết cả tháng trời – và với địa chỉ của tất cả những người quen trên “toàn thế giới” đi. Rồi sao nữa? Không lẽ ký tên cái ào bên dưới câu “Cung Chúc Tân Xuân” rồi gửi (đại) đi sao ?

Ðâu có được, cha nội! Làm như vậy thì thà “làm biếng” còn hơn. Mỹ, Tây, Tầu, Ðại Hàn, Ba Lan, Nhật Bổn, Miên, Lèo… thì sao không biết, chớ người Việt mà nhận được một cái thiệp ký tên (xuông) như vậy là họ mích lòng (cấp kỳ) à nha. Bạn phải viết vô đó vài chữ cho nó đàng hoàng chớ. Câu hỏi hỏi đặt ra là (Trời ơi) biết viết cái gì đây ?

Với bố mẹ, anh chị, cô dì, chú bác… đang còn (kẹt) ở Việt Nam thì bạn tính sao? “Một mùa Xuân an bình” hay “con cầu chúc bố mẹ, anh chị, các em, các cháu luôn được vui tuơi và khỏe mạnh trong năm mới…”

Nghe đặng không?

Nè (tui nói cho mà hay nha) dù thân nhân ở quê nhà có thương yêu bạn cách mấy, và có xuề xòa dễ tính đến đâu chăng nữa, họ cũng không chấp nhận được những lời cầu chúc vô tâm và vô trách nhiệm quá cỡ vậy đâu. Nếu ở Việt Nam mà có “một mùa xuân an bình,” hay một cuộc sống “vui tươi và khỏe mạnh” thì đâu có lý do gì để cả nước phải chen chân đi lấy chồng xa, đi lao động xuất khẩu, hay băng băng chui đầu vào rừng núi xứ người để trở thành … một đám người rơm – hay còn gọi là người rừng, hoặc nouveaux boat people, những thuyền nhân mới của thế kỷ 21 – những kẻ tứ cố vô thân, bị trấn lột, bị cuỡng dâm, và bị coi như rác ruởi bên lề xã hội, ở đất lạ xứ người.

Rồi chúng ta viết điều gì trên cánh thiệp giáng sinh gửi cho một đứa em, hay đứa cháu, đi lấy chồng xa (nhưng không ở nhà chồng) và đang ở trong …nhà thổ? Và chúng ta nói sao với một người thân đi xuất khẩu lao động nhưng chưa được trả một đồng tiền lương nào, kể từ tháng Sáu năm ngoái đến nay? “Một năm mới tràn đầy hy vọng”chắc?

Thôi bỏ đi Tiến ơi. Hết năm rồi, nói chuyện gì khác (một bữa) được không? Sao không gửi cho nhau đôi lời chúc mừng may mắn và vui vẻ cho rồi. Mệt mỏi nguyên năm rồi (bộ) chưa đủ hay sao, cha nội?

O.K. That’s fine! Như vậy, giữa chúng ta – những kẻ may mắn, không ít đứa còn được coi như “thành đạt” nữa là khác (dù là “thành đạt trong thời buổi nhiễu nhưong) và đều đang sống an bình phú túc ở hải ngoại – sẽ gửi cái gì “cho nhau” qua cánh thiệp cuối năm ?

Những lời chúc tụng truyền thống đều quá date hết trơn rồi, đâu còn sài được nữa? “Chúc ông bà, anh chị…làm ăn phát tài gấp năm, gấp mười năm ngoái” nhe? Đ… mẹ, nói vậy có đứa dám tưởng là mình xúi nó đi ăn cướp nhà băng hay bán cocaine lắm à.

Cũng chớ có quen miệng mà “boong” một câu, kiểu như “đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái” nha, má non. Cái gì chớ phá thai là chuyện rất phiền, và tốn tiển dữ lắm. Đừng có nói năng lạng quạng mà gây thù chuốc oán như không.

Hay là cũng bỏ qua luôn mấy chuyện lẻ tẻ đó đi. Phang đại một lời cầu chúc cho quê hương và đại cuộc cho nó …ngon lành. Tới luôn bạng vàng, đâu có chết thằng Tây nào mà sợ:

“Chúc đất nước sớm tai qua nạn khỏi” nhá.

Hay:

“Hãy giữ vững niềm tin để mai này chúng ta sẽ cùng về xây dựng lại Việt Nam.”

Nghe thì cũng vui nhưng nghĩ lại (e) hơi khó. Với hiện trạng (nát như tương) ở ngoài này, ngó bộ, mốt (hay ngày kia) cũng chưa chắc về nổi chớ đừng nói chi mai; trừ khi, bạn được mời về tham dự Đại Hội Việt Kiều (vào năm tới, nếu có) hay giả dạng làm du khách “chơi lén” một chuyến thì không kể.

Khó há. Lờ tít chuyện thiệp xuân thiệp tết đi thì cũng hơi kỳ, nhưng nhào vô cái vụ này thì phiền phức quá. Ðời sống, tự nó, đã phiền phức quá rồi mà. Bầy thêm chuyện để phiền mình (và phiền lẫn nhau) làm chi nữa, đúng không?

Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò trang nhã, có tính cách truyền thống, rất đáng giữ gìn, của những cánh thiệp trao đi gửi lại – vào dịp cuối năm. Rõ ràng là nó đẹp, và vô cùng lịch sự nhưng chỉ e nó không hợp (mấy) trong lúc này thôi. Cái lúc mà chúng ta vẫn còn đang sống giữa nhũng mùa xuân ly loạn đó mà.

Tưởng Năng Tiến

10 thg 1, 2011

Châu Âu muốn bảo vệ công nghiệp, không để rơi vào tay các nước mới trỗi dậy

Thủ tướng Tây Ban Nha tiếp đón chủ tịch Hồ Cẩm Đào (Reuters)

Thụy My

Nhật báo Le Monde hôm nay đặt câu hỏi : « Trước tham vọng của các quốc gia mới trỗi dậy, châu Âu có thể bảo vệ được nền công nghiệp của mình hay không ? ». Tờ báo kinh tế Les Echos thì lên tiếng báo động : « Châu Âu đã bị đặt dưới áp lực của các chủ nợ ».
Hồ sơ hôm nay của Le Monde xoay quanh việc bảo vệ và phát triển nền công nghiệp châu Âu, đặc biệt là đối với các lãnh vực nhạy cảm, khi các nước mới giàu lên đang thi nhau mua lại các công ty uy tín của cựu lục địa. Trong bài xã luận mang tựa đề : « Châu Âu và việc quay lại với kỹ nghệ», Le Monde nhấn mạnh, khủng hoảng kinh tế đã làm đảo lộn nền kinh tế thế giới, với lợi thế nghiêng về phía các quốc gia mới trỗi dậy, và qua đó, các nước giàu mới ý thức được vai trò quan trọng của công nghiệp.

Trong hai thập kỷ qua, người ta vẫn cho rằng nền kinh tế kỹ nghệ sẽ chuyển đổi sang nền kinh tế dịch vụ, thậm chí một số đưa ra hình mẫu nền kinh tế không nhà máy. Công nghiệp bị quy cho các tội làm ô nhiễm, điều kiện làm việc khắc nghiệt, gây ra các cuộc đấu tranh xã hội…Nhiều chính khách và nhà kinh tế tin rằng công nghiệp không có chỗ đứng trong việc tạo ra của cải cho một quốc gia hiện đại.

Nhưng thực tế đã cho thấy, không có kỹ nghệ thì khó thể tạo được công ăn việc làm, duy trì tăng trưởng. Tổng thống Pháp trong thông điệp đầu năm mới đã khẳng định : « Nước Pháp sẽ không là cường quốc nếu không có kỹ nghệ ».

Theo Le Monde, thì sự tỉnh thức này là khá muộn màng. Trong vòng 15 năm, Pháp đã mất đi nửa triệu việc làm trong lãnh vực công nghiệp, và trọng lượng của khu vực này trong 25 năm qua từ tỉ lệ 21% giá trị của nền kinh tế nay chỉ còn có 12%. Lâu nay người ta cho rằng khu vực dịch vụ sẽ lấp đầy lỗ hổng, nhưng lại quên rằng kỹ nghệ là khách hàng lớn nhất của ngành dịch vụ, khi kỹ nghệ biến mất thì dịch vụ không thể lớn mạnh nổi. Và châu Âu trong những năm qua đã không lo vun đắp cho các tập đoàn chủ chốt của mình, không có được một chính sách công nghiệp chung. Trong khi đó, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ đã vươn mình thức giấc, và Đức, Nhật, Mỹ không ngừng củng cố chiến lược kỹ nghệ.

Le Monde kết luận, cuối cùng thì châu Âu có vẻ cũng muốn thiết lập một hệ thống trao đổi « có qua có lại », ít mất cân đối hơn với các đối tác. Đây không phải là chủ nghĩa bảo hộ, mà thời kỳ ngây thơ tin rằng toàn cầu hóa sẽ đem lại lợi ích cho tất cả mọi người nay đã qua rồi, và châu Âu vẫn còn thời gian để điều chỉnh lại chính sách.

Trong phần điều tra phản biện ở các trang trong, Le Monde đặt ra các câu hỏi, tham vọng nuốt chửng các công ty châu Âu của các nước mới nổi liệu có sẽ ngừng lại ? Có nên nghi ngờ mục đích của họ, và tác động đối với hoạt động công nghiệp và việc làm ở châu Âu như thế nào ?

Tờ báo nhận xét, gần đây không tuần nào mà không thấy có một công ty châu Âu hay Mỹ bị một công ty cạnh tranh của một quốc gia mới trỗi dậy mua lại. Vụ công ty Trung Quốc Tianjin Xinmao đòi mua công ty Draka của Hà Lan, chuyên sản xuất cáp kỹ thuật cao đã gây lo sợ cho đến nỗi Ủy viên châu Âu phụ trách công nghiệp đã kêu gọi thành lập một cơ quan phụ trách xét duyệt các dự án đầu tư nước ngoài vào châu Âu. Nhưng theo Le Monde, vụ này tuy gây nhiều dư luận do mang tính chiến lược quân sự, nhưng đã che lấp mất nhiều vụ khác. Chỉ trong tháng 12 vừa qua, công ty Trung Quốc Trinity đã mua lại hãng thời trang nổi tiếng Cerruti, công ty Nam Phi Steinhogg International mua tập đoàn đồ gỗ Conforama, còn trước đó các tập đoàn xe hơi Volvo, Jaguar và Land Rover đã bị Trung Quốc và Ấn Độ mua lại.

Nước Mỹ bị nhắm đến nhiều nhất, tiếp đến là Ý và Anh, còn Pháp đứng thứ bảy. Trung Quốc đứng đầu trong số các nước mới trỗi dậy thích tìm mua các công ty uy tín của các nước giàu, sau đó là Ấn Độ và Nga. Các công ty Trung Quốc rủng rỉnh ngoại tệ, lại được sự hỗ trợ của hai ngân hàng nhà nước lớn. Khi mua các công ty phương Tây, họ sẽ có được sự bảo đảm của các tên tuổi lớn, nhiều bằng sáng chế hoặc một mạng lưới phân phối đã có sẵn.

Trả lời phỏng vấn của Le Monde, Bộ trưởng Công nghiệp Pháp Eric Besson cho rằng, châu Âu lâu nay vẫn nhập hàng của các nước mới nổi nhiều nhất, và bây giờ có quyền đòi hỏi những cố gắng đáp lại. Các bộ trưởng công nghiệp châu Âu gần đây đã thông qua đề nghị của Pháp về một chính sách kỹ nghệ chung cho châu Âu. Pháp còn đề nghị thành lập một một quỹ đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ cho công nghiệp, và một quỹ bằng sáng chế châu Âu, chuyên mua lại các bằng sáng chế trên thế giới để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sử dụng.

Cũng liên quan đến công nghiệp, nhật báo cánh hữu Le Figaro chú ý đến sự kiện ba nhân viên cao cấp của tập đoàn xe hơi Renaud bị đình chỉ công tác vì nghi ngờ làm gián điệp. Tờ báo cánh tả Libération thì tỏ ra phẫn nộ trước lời phát biểu của ông chủ công ty dược phẩm Servier, là thuốc Mediator chỉ làm có ba người tử vong, dù hai công trình nghiên cứu nghiêm túc mới nhất cho biết loại thuốc này đã làm cho từ 500 đến 2.000 người chết.

Trên lãnh vực giáo dục, nhật báo cộng sản L’Humanité cho rằng vấn đề tự trị đại học – giao cho các trường đại học tự quản lý ngân sách và tuyển người - thật ra chỉ là tư nhân hóa đại học Pháp. Nêu ra con số từ đầu năm nay có 73 trường đại học được giao chế độ tự trị, theo L’Humanité thì điều đó có nghĩa là các trường này phải tự tìm nguồn tài chính, và mở cửa cho các công ty tư nhân. Còn nhật báo công giáo La Croix thì quan tâm đến « Một Noel tang tóc đối với những người Copte », tức những người theo đạo Thiên Chúa ở Ai Cập và Ethiopie. Tối nay Giáo hội Copte sẽ mừng lễ Giáng Sinh, sau khi xảy ra vụ thảm sát ở Alexandrie hôm 31/12 vừa qua làm cho 21 người chết và 79 người bị thương. Tờ báo cho rằng trong bối cảnh đó, không thể coi thường những lời đe dọa tấn công vào các nhà thờ Copte tại Ai Cập cũng như tại Pháp, Đức.

Trí thức trẻ tuổi Trung Quốc không nhìn thấy tương lai

Đó là tựa đề một bài báo của thông tín viên nhật báo Le Figaro tại Bắc Kinh. Tác giả cho biết, hiện có vô số thanh niên tuy có bằng cấp nhưng vẫn không tìm được một chỗ đứng trong xã hội Trung Quốc hiện tại. Những trí thức trẻ thất nghiệp thường được mệnh danh là « lũ kiến », họ sống chen chúc ở ngoại ô các thành phố lớn. Chính quyền Bắc Kinh đã bắt đầu ý thức được quả bom nổ chậm về mặt xã hội này.

Từ mới « lũ kiến » được định nghĩa là « các thanh niên có bằng cấp, nhưng thu nhập thấp, sống tập thể . Người ta ước tính có ít nhất một triệu « con kiến » như thế tại Trung Quốc, thậm chí đến hai ba triệu. Họ thuê những căn phòng chỉ chừng hai mét vuông, sống quanh các thành phố lớn để tìm việc. Cả gia đình đã đầu tư bao nhiêu là tiền bạc, thì giờ và sức khỏe để cho con cái học thành tài, nhưng dù có bằng đại học, họ vẫn không tìm được việc, sống vất vưởng qua ngày bằng những việc làm tạm bợ. Nói về vấn nạn này của xã hội Trung Quốc, một nhà xã hội học đã nhắc lại một câu ngạn ngữ Trung Hoa : Vạn Lý Trường Thành có thể bị sụp đổ do những lỗ kiến.

Cũng liên quan đến Trung Quốc, Le Figaro còn chú ý đến việc Bắc Kinh mở hé tấm màn bí mật về loại máy bay tàng hình J-20. Nhiều tấm ảnh về chiếc máy bay mẫu loại này đã được báo chí chính thức đăng tải, nhưng theo các chuyên gia thì máy bay tàng hình Trung Quốc không thể đưa vào hoạt động trước năm 2020.

Tờ báo ghi nhận một chuyện không bình thường, đó là việc một chương trình bí mật như thế lại chiếm lĩnh trang nhất của tờ Global Times, thuộc Nhân dân Nhật báo, tiếng nói của đảng Cộng sản Trung Quốc. Le Figaro nhắc lại cách đây một năm, nhân vật số hai của quân đội Trung Quốc đã cho biết nước này sẽ đưa vào sử dụng máy bay thế hệ thứ tư made in China (nếu tính theo thang bậc phương Tây thì là thế hệ thứ năm) trong vòng 8 đến 10 năm tới. Các chuyên gia tự hỏi, liệu Bắc Kinh đã rút ngắn được thời gian, hay đây chỉ nhằm khoa trương thanh thế.

Hungary khuyến khích phụ nữ ở nhà và sinh con

Trên lãnh vực xã hội, nhật báo Le Monde cho biết, do dân số đang sụt giảm nên chính quyền Hungary đã phải ban hành các luật lệ mới nhằm khuyến khích người phụ nữ ở nhà làm nội trợ và sinh con.

Nhiều người Hungary lo ngại nếu dân số giảm xuống dưới ngưỡng 10 triệu người, thì khó thể duy trì được ngôn ngữ và nền văn hóa của mình, đang bị cô lập trong một môi trường hầu hết là ngôn ngữ slave, la-tinh và Đức. Với tỉ lệ 1,27 con cho một phụ nữ ở lứa tuổi sinh sản, sinh suất của Hungary đang ở mức thấp của Liên hiệp châu Âu, còn nếu không tính người di-gan, thì tỉ lệ này chỉ còn là 1 phụ nữ có 1 con.

Chính quyền Hungary đã cho tái lập kỳ nghỉ hộ sản là ba năm thay vì hai năm, đưa ra những ưu đãi về thuế khóa, trợ cấp xã hội và phát triển các công việc làm bán thời gian, để phụ nữ có nhiều thời gian ở nhà chăm sóc con cái ; ngược hẳn với thời kỳ chế độ cộng sản trước đây, hầu hết phụ nữ phải đi làm với đồng lương thấp. Một dự án Hiến pháp mới do phe bảo thủ cầm quyền đưa ra đang gây lo ngại cho phe đối lập, vì nếu được thông qua, quyền phá thai sẽ bị hạn chế. Hiện nay tại Hungary có khoảng 44.000 vụ phá thai mỗi năm, con số này cũng tương đương với số trẻ em sinh ra.

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam

9 thg 1, 2011

Học giả Trung Quốc: Bắc Kinh nên 'chiếm lại' Trường Sa


Giáo sư Hứa Khả cho rằng sức mạnh trên biển của Trung Quốc hiện còn thua kém Hoa Kỳ quá nhiều nên Trung Quốc không thể có hành động quá khích

http://www.voanews.com/vietnamese/news/

Một học giả Trung Quốc mới đây đã lên tiếng hối thúc chính phủ ở Bắc Kinh nhanh chóng dùng vũ lực để thực hiện điều gọi là “chiếm lại” những hòn đảo thuộc quần đảo Tây Sa, mà Việt Nam gọi là Trường Sa, từ tay các nước nhỏ hơn trong vùng Đông Nam Á. Trong khi đó, các nhà quan sát tình hình Trung Quốc đã đề cập tới việc Bắc Kinh âm thầm gia tăng ảnh hưởng ở các quốc gia Trung Á thuộc Liên Sô cũ và gợi ý rằng Trung Quốc có thể đang từ bỏ sách lược bành trướng về hướng đông để theo đuổi chính sách Tây Tiến được Trung Tướng Lưu Á Châu của Học viện Quốc phòng Trung Quốc mạnh mẽ cổ xướng trong nhiều năm qua. Mời quí vị xem Duy Ái trình bày thêm chi tiết trong tiết mục Nhìn Về Á Châu sau đây.

Tại cuộc họp báo hôm thứ 5 vừa qua, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Hồng Lỗi, đã nhắc lại lời trấn an của chính phủ ở Bắc Kinh trước những mối lo ngại của quốc tế về sự phát triển rất đỗi nhanh chóng của quân đội Trung Quốc.

Ông nói: "Tôi xin nhấn mạnh một điều là Trung Quốc kiên quyết đi theo con đường phát triển một cách hòa bình, thực thi chính sách quốc phòng có tính chất phòng vệ và không tạo ra sự đe dọa cho bất kỳ quốc gia nào."

Người phát ngôn của Trung Quốc đã tuyên bố như vậy một ngày sau khi trang mạng Xinhua do nhà nước kiểm soát cho đăng một bài phỏng vấn trong đó một chuyên gia hải dương của Đại học Hạ Môn hối thúc chính phủ nhanh chóng dùng vũ lực để đạt mục tiêu gọi là “lấy lại” từ tay các nước nhỏ hơn trong vùng Đông Nam Á những hòn đảo đang có tranh chấp ở Biển Nam Trung hoa mà Việt Nam gọi là Biển Đông. Trong bài báo này, giáo sư Hứa Khả đề nghị chính phủ huy động một lực lượng tuần dương hùng hậu đến xua đuổi tất cả tàu bè nước ngoài xâm phạm vùng biển mà ông gọi là của Trung Quốc bên trong đường biên giới 9 đoạn đứt khúc, thường được gọi là “đường lưỡi bò”. Ông nói rằng Trung Quốc nên nhân lúc này là lúc mà sự hợp tác giữa Hoa Kỳ với các nước Asean về vấn đề Biển Đông đang còn ở trong giai đoạn phôi thai để thừa cơ “đoạt lại” toàn bộ quần đảo Trường Sa. Giáo sư Hứa Khả nói thêm rằng việc vấn đề Biển Đông không thể trì hoãn vì giải quyết trễ chừng nào thì cái giá mà Trung Quốc phải trả về kinh tế và chính trị càng cao chừng đó.

Những chủ trương “hung hãn” của học giả Trung Quốc đã được đưa ra trong lúc một số các nhà quan sát tình hình Á châu cho biết Trung Quốc đã âm thầm bành trướng thế lực kinh tế và quân sự tới các quốc gia Trung Á thuộc Liên Sô cũ. Theo bài tường thuật hôm chủ nhật (mồng 2 tháng 1, 2011) của tờ New York Times, các giới chức Bắc Kinh xem Trung Á là một vùng biên cương trọng yếu đối với Trung Quốc trong các lãnh vực an ninh năng lượng, khuyếch trương mậu dịch, ổn định sắc tộc và phòng vệ đất nước. Bài báo cho biết các công ty quốc doanh đã tiến sâu vào khu vực này với những đường ống dẫn dầu lửa và khí đốt, đường xe lửa và đường cao tốc trong lúc chính phủ đã lập ra các Viện Khổng Tử tại các thủ đô vùng Trung Á để truyền bá văn hóa Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tăng cường vị thế quân sự trong khu vực với việc thực hiện những cuộc tập trận qui mô lớn tại Kazakhstan hồi tháng 9 trong khuôn khổ của các cuộc diễn tập hàng năm với một số nước Trung Á. Và theo một công điện ngoại giao mật của Mỹ bị trang mạng WikiLeaks tiết lộ hồi gần đây, các giới chức Hoa Kỳ nghi là Trung Quốc đã đề nghị viện trợ 3 tỉ đô la cho Kyrgyzstan để chính phủ nước này đóng cửa một căn cứ không quân của Mỹ.

Một số nhà quan sát cho rằng diễn tiến vừa kể có thể là dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang từ bỏ sách lược “Đông Tiến” -- bành trướng về hướng biển phía đông, để theo đuổi chủ trương “Tây Tiến” -- bành trướng về lục địa phía tây, mà Trung Tướng Lưu Á Châu của Đại học Quốc phòng Trung Quốc đã cổ xướng từ nhiều năm nay. Tiến Sĩ Dương Trung Mỹ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc Đương đại ở Nhật Bản, cho rằng sự bành trướng của Trung Quốc là một xu thế tất nhiên vì sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế nước này, nhưng Bắc Kinh cần phải xem tới vấn đề “nặng nhẹ nhanh chậm” để lựa chọn giữa hai con đường “Tây Tiến” và “Đông Tiến”. Ông Dương nói thêm như sau trong cuộc phỏng vấn mới đây dành cho ban Hoa Ngữ đài VOA:

"Dựa theo những điều mà ông Lưu Á Châu trình bày trong Tây Bộ Luận, chúng ta có thể thấy rằng một số tướng lãnh trong quân đội do nhóm 'Thái tử đảng' cầm đầu và một bộ phận các nhà lãnh đạo chính trị ở Bắc Kinh cảm thấy rằng nếu tiếp tục 'Đông Tiến' thì sẽ xảy ra tình trạng xung đột trực tiếp với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Nên tránh tình trạng đó vì nó không có lợi cho sự trỗi dậy của Trung Quốc. Có thể họ nghĩ rằng nên lợi dụng cơ hội hiện nay để phát triển về hướng tây, giúp cho toàn bộ khu vực miền tây phát triển và nối kết chặt chẽ với Âu châu để làm cho hai lục địa Á Âu trở thành một khối."

Tiến sĩ Dương Trung Mỹ cho biết công cuộc phát triển của Trung Quốc ở miền tây đang được xúc tiến rất đỗi nhanh chóng, với kế hoạch lấy thành phố Kasha ở Tân Cương làm trung tâm để xây dựng một loạt các đặc khu kinh tế kiểu Thâm Quyến để thực hiện sách lược hợp nhất Á Âu. Ông nói thêm rằng sách lược Tây Tiến mà Tướng Lưu Á Châu là người đại biểu là một sách lược sáng suốt, có tính chất thực tế, và sẽ làm cho liên minh Mỹ-Nhật yếu đi rất nhiều.

Ông Dương cho biết thêm: "Lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc dường như đang nỗ lực theo chiều hướng này. Họ đầu tư rất nhiều cho việc xây dựng đường xe lửa Âu-Á, đường cao tốc Âu-Á và đường ống dẫn dầu Âu-Á. Tôi tin rằng việc này sẽ giúp cho Á châu và Âu châu nối kết chặt chẽ với nhau và như vậy Hoa Kỳ sẽ mất đi một đồng minh rất quan trọng là Âu châu và chỉ còn một đồng minh lớn là Nhật Bản."

Trong lúc cổ xúy cho những hành động có tính chất quyết liệt về vụ tranh chấp biển đảo ở Đông Nam Á, Giáo sư Hứa Khả của Đại học Hạ Môn cũng đề nghị một đường lối thận trọng hơn trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo với Nhật Bản ở Hoàng Hải, mà Trung Quốc gọi là Đông Hải. Trong bài báo trên mạng Xinhua, ông Hứa nói rằng vấn đề chủ quyền đảo Điếu Ngư mà Nhật Bản đang chiếm giữ và gọi là Senkaku là một vấn đề mà Hoa Kỳ đã cố ý tạo ra sau Đệ nhị Thế chiến để kiềm chế Trung Quốc. Ông cho rằng sức mạnh trên biển của Trung Quốc hiện này còn thua kém Hoa Kỳ và Nhật Bản quá nhiều nên Trung Quốc không thể có hành động quá khích. Ông nói thêm rằng nếu làm như vậy thì “giấc mơ trỗi dậy trên biển” Trung Quốc sẽ tan thành mây khói vì sẽ gặp phải sự chống cự kịch liệt từ phía Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Nguồn : http://www.voanews.com/vietnamese/news/focus/chinese-scholar-says-beijing-should-quickly-use-force-to-take-back-spratlys-01-07-11-113073809.html

5 thg 1, 2011

Thiên Đường Nơi Trần Thế

Dương Quỳnh Khanh

Dương Quỳnh Khanh từ Việt Nam sang du lịch Mỹ thăm con gái. Sau ba tháng thăm đất nước hợp chủng, bài viết ngắn sau đây cho thấy cách nhìn trân trọng bà dành cho nươc Mỹ và người Việt ở Mỹ.
@@@
Sau bao năm cầu xin, tôi đã được hưởng một phép lạ do Chúa ban tặng. Đó là lần phỏng vấn thứ ba, tòa Tổng Lạnh Sự Mỹ ở Saigon đã chấp thuận cấp visa cho tôi đi Mỹ thăm con gái và rể. Lần thứ ba này, con rể người Mỹ đứng ra bảo lãnh và kèm theo một thư cam kết.

Hai lần bị từ chối trước làm cho tôi nản lòng, vì lý do không có tài sản, không có gì ràng buộc với Việt Nam. Nay, nhờ con rể người Mỹ bảo lãnh, việc cam kết tôi không có lý do gì lưu trú tại Mỹ có vẻ đáng tin hơn.

Nhận được visa, tôi quýnh quáng không biết sẽ đem gì, mua gì làm quà cho con, rồi ngày đi đến nhanh.

Đặt chân trên đất Mỹ vừa đúng 12 giờ đêm ngày Chúa Nhật, làm thủ tục khám xét xong xuôi, hải quan phi trường cho phép tôi ở Mỹ sáu tháng.

Đẩy hành lý ra, gặp hai vợ chồng con gái đang đứng đón, lòng bồi hồi cảm động nhớ thương đã làm tôi bật khóc như một đứa trẻ.

Từ phi trường Los Angeles chạy về Oceanside nơi con tôi ở đúng 2 tiếng lái xe. Trên đường về ban đêm, xe nối đuôi xuôi ngược, đèn sáng đỏ chạy dài trên con đường có dạ quang như dải lụa đen đính kim tuyến. Nhờ đèn nên quang cảnh ban đêm thật đẹp, bên ngoài trời về đêm không khí dễ chịu.

Hai tiếng giản dị

Nước Mỹ, nơi mà người ta thường gọi là Thiên Đường, là một đất nước tự do đã cưu mang gần hai triệu người Việt, trong đó có con gái, em gái tôi.

Thiên Đường, hai tiếng giản dị vậy mà có một sức hút lạ kỳ. Với những người phải sống trong cảnh bất công, tù ngục thì nước Mỹ đúng là một thiên đường ở ngay trên mặt đất. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng đặt chân đến vì đó là một nơi xa vời vợi, người dân bình thường, không họ hàng, không thân thích, không ai bảo lãnh có tiền cũng khó mà tới được.

Nhớ lại 32 năm về trước, bao triệu người ra đi bỏ lại đằng sau tất cả những gì đã có, bỏ lại họ hàng, anh em, cha mẹ, bạn bè, họ đã tìm đủ mọi cách ra đi, tìm cái sống trong cái chết. Để có thể lên đường tìm tự do, tìm thiên đường, họ đã phải đánh đổi nhiều thứ, từ làm mồi cho cá biển tới thân bị tù tội, nhà cửa bị tịch thu.

Hành trình của người Việt tìm tự do còn tiếp diễn nhiều năm sau này. Biết bao xương cốt thuyền nhân Việt vẫn nằm sâu dưới đáy biển, dưới lòng sông.

Những đồng đô la quí giá

Gần hai triệu người dân Việt giờ đây đã an cư lạc nghiệp tại xứ Mỹ. Ngay từ buổi đầu, khi tới được nước Mỹ, hầu hết họ đều nghĩ tới những thân nhân còn lầm than ở quê nhà, ai nấy phải làm lụng vất vả dè sẻn để gửi tiền về quê hương giúp cha mẹ, anh chị em. Khi ổn định họ lại tìm cách bảo lãnh cha mẹ, anh em, vợ con đến xứ sở an toàn đầy đủ nhưng không kém phần vất vả.

Còn nhớ, những ngày khốn khó ở quê nhà, khi nhận được những đồng đô la quý giá từ tay con gái tôi gởi về tôi cảm động lắm. Con gái tôi gởi tiền về cho gia đình không bao giờ than vất vả khó nhọc, nhưng tôi được nghe nhiều người kể về xứ sở xa xôi đó. Sáng sớm tinh mơ, cơm đùm cơm nắm mang theo để ăn trưa, chiều tối về ăn cơm nhà, ai cũng như ai tằn tiện chính bản thân, để rồi mỗi lúc thân nhân quê nhà cần tiền thì sẵn sàng gởi về giúp đỡ, không đắn đo, không than thở.

Đồng dola từ Mỹ gửi về quê nhà quý giá vô cùng, vì đó là quá trình lao động mồ hôi nước mắt của thân nhân mình, nó nâng đỡ nhiều gia đình khó khăn hoặc nâng đỡ hỗ trợ nhiều cơ quan từ thiện, từ chùa chiền cho đến nhà thờ.

Nhưng cũng do đồng đô la này, lòng tham đã làm cho nhiều gia đình bất hòa. Tại Việt Nam, người nhận từng giành giựt hơn thua, kẻ ít người nhiều, đâm ra giận hờn từ bỏ nhau. Tại Mỹ cũng có nhiều cảnh ngộ, vợ chồng chia tay cũng vì gởi không đồng đều giữa hai gia đình nội ngoại.

Đồng dola quý giá nhưng cũng gây ra lắm cảnh đau lòng, nguyên nhân chỉ là do con người ích kỷ mà ra. Người nhận được dola vui vẻ bao nhiêu thì thân nhân ở Mỹ phải nỗ lực vất vả bấy nhiêu.

Hôm nay tôi có mặt ở đất nước này thuộc diện du lịch thăm con, được con chở đi chơi nhiều nơi, nhận thấy đúng là xứ sở văn minh tiến bộ mà làm biết bao người thèm muốn, nó sạch đẹp làm sao! Ngoài đường phố không có trẻ em, thanh niên, thiếu nữ đi nghểu nghến, chỉ có nhà hàng ăn, quán bar, shop, mới thấy họ ăn uống, mua sắm ở nơi đó mới thấy mặt trẻ em, ngày thường cha mẹ tất bật, các trẻ nhỏ đều vào trường vào lớp, chúng không quấy rầy cha mẹ

Xã hội Mỹ luôn tạo điều kiện cho con người biết tự lập, tự vươn lên không ỷ lại, không dựa dẫm. Dù cha mẹ giàu có, mười tám tuổi trở lên tự lập thân, tự tìm việc chúng có thể trở thành cô bán hàng, hay cậu thanh niên bưng bê phục vụ cho khách, làm đủ mọi nghề. Ở đây người Phi, người Mễ, người Việt rất chịu khó, không việc gì họ từ, miễn là kiếm được việc, kiếm được tiền, họ gởi về giúp thân nhân, giúp đất nước mỗi năm hàng trăm triệu dola. Đồng dola đã quý, lòng người nhân ái càng quý hơn. Nước Mỹ là đất hợp chủng, gồm đủ mọi sắc dân. Đất nước nào bị thiên tai, chính phủ Mỹ, dân Mỹ đều sẵn sàng giúp đỡ từ tiền bạc, áo quần, thực phẩm cho đến thuốc men.

Ba tháng ở thiên đường

Vùng con tôi ở là một thành phố trên đồi cao và gần biển, những con đường rộng thênh thang chia nhiều làn xe thẳng tắp chạy dài hoặc quanh co uốn lượn chẳng khác nào màng nhện nhưng có lớp lang thứ tự. Hè ở đây khí hậu nóng như Việtnam.

Hai hôm sau con tôi nghỉ phép, chở tôi đi chợ. Đến các gian hàng, các cửa hiệu, tôi như choáng ngợp, nó rộng rãi to lớn, hàng hóa nhiều vô kể, trang trí bày biện ngăn nắp hấp dẫn, mải mê ngắm nhìn chọn lựa, tôi như người dân quê ra tỉnh, sự quê mùa bộc lộ rõ nét của người mới tạm nhập cư.

Đến hôm nay tôi ở đúng 3 tháng, các con chở đi chơi nhiều nơi.

Đứng trên cao nhìn bao quát biết bao danh lam thắng cảnh, nơi nào cũng bao phủ bởi màu xanh cây cỏ, hoa lá tươi mát. Nhà cửa khắp nơi xây cất gần giống nhau màu sắc trang nhã, bên trong thiết kế tiện nghi, thuận lợi.

Hiện nay người Việt tại Mỹ cần cù chăm chỉ, ăn nên làm ra thành đạt được sống trong tự do nhân quyền, họ đã khẳng định nước Mỹ là quê hương thứ hai, không thấp thỏm lo âu bị ai tước đoạt tài sản, không lo sợ khống chế tự do nhân quyền do đó họ sống thật bình yên.

Tôi chưa thấy bóng dáng thiên đường trên cao nhưng đất nước nào giàu có, dân sống sung sướng lạc quan, không sợ hãi, không lo âu thì đó là thiên đường.

Nhìn người mà ngẫm đến ta, lòng cứ quặn đau, đi chơi mà niềm vui không trọn vẹn. Biết đến bao giờ những nước lạc hậu bảo thủ, trong đó có nước tôi, thoát khỏi cảnh bất công, đói nghèo để được hưởng một chút thiên đường nơi trần thế.

12 THÁNG ANH ĐI