12 thg 4, 2011

Nghị Quyết Số 40 của Quốc Hội Tiểu Bang California: Kỷ Niệm “THÁNG TƯ ĐEN”


Nghị Quyết Số 40 của Quốc Hội Tiểu Bang California:


Kỷ Niệm “THÁNG TƯ ĐEN”

Nghị Quyết 40 của Quốc Hội tiểu bang California - Assembly Concurrent Resolution No.40 - gọi tắt là ACR 40, do Dân Biểu Solorio đệ trình liên quan đến một giai đoạn Lịch Sử của Người Mỹ gốc Việt.

Nghị Quyết này công nhận tuần lễ từ ngày 21 tháng Tư năm 2011 đến ngày 30 tháng Tư năm 2011 là Tuần Lễ Tưởng Niệm Tháng Tư Đen, và Tháng Tư là tháng dành để Vinh Danh Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt.

XÉT RẰNG: ngày 30 tháng Tư 2011 đánh dấu 36 năm kỷ niệm ngày kết thúc chiến tranh Việt nam, và cũng là ngày khởi đầu việc bỏ nước ra đi của hàng triệu người Việt sau khi thủ đô Sàigon, miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay Cộng Sản trong ngày 30 tháng Tư năm 1975.

XÉT RẰNG: Đối với nhiều nguời Việt Nam, nhất là những cựu quân nhân thời chiến tranh Việt nam đang định cư tại Hoa Kỳ, Chiến Tranh Việt Nam là một thảm kịch đầy đau khổ, thiệt hại về sinh mạng của nhiều người Mỹ, người Việt, và người Đông Nam Á khác.

XÉT RẰNG: Trong số 2 triệu 590 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ phục vụ trong Chiến Tranh Việt Nam, có 58,169 người bị giết, và hơn 304,000 người bị thương. Như vậy, cứ mười người Mỹ phục vụ trong Chiến Tranh Việt Nam có một người trở thành nạn nhân chiến cuộc.

XÉT RẰNG: Trong đợt di tản của người Mỹ ra khỏi Sàigòn, có 135,000 người tị nạn Việt Nam, đa số là sĩ quan trong quân đội và gia đình. Họ được tạm trú trong các trại tị nạn quốc tế, và Trại Pendleton ở San Diego, Trại Fort Chaffee ở Arkansas, và Indiantown Gap ở Pennsylvania.

XÉT RẰNG: Bắt đầu từ năm 1977, kéo dài đến giữa thập niên 1980, đợt sóng tị nạn thứ hai của người Việt, đa số là “thuyền nhân” bắt đầu tìm cách vượt thoát khỏi Việt Nam.

XÉT RẰNG: Nhận thấy không có tương lai khi sống dưới chế độ cộng sản, gần 800,000 thuyền nhân đã liều mạng ra đi trong những chiếc thuyền nhỏ bé, nguy hiểm để đến được những trại định cư ở Hồng Kông, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, và Phi Luật Tân trước khi được định cư tại Hoa Kỳ.

XÉT RẰNG: Tổ Chức Hồng Thập Tự ước tính rằng trong khoảng thời gian này có khoảng 300,000 người Việt nam đã bị chết ngoài biển khơi trên đường trốn chạy chế độ cộng sản.

XÉT RẰNG: Sau năm 1985, một đợt người tị nạn Việt Nam khác đến Hoa Kỳ theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự.

XÉT RẰNG: Năm 1988, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Đạo Luật “Home-coming Act” là một chương trình đón nhận vào Hoa Kỳ 80,000 con Mỹ lai, những đưá trẻ có cha là Lính Mỹ, và mẹ Việt Nam.

XÉT RẰNG: Vào năm 1990, một đợt tị nạn Việt Nam thứ tư bắt đầu vào Hoa Kỳ theo Chương Trình Humanitarian Operation - Chiến Dịch Nhân Đạo,thường gọi là HO, và đến nay có khoảng 1 tiệu 700 ngàn người Việt di dân định cư tại Hoa Kỳ.

XÉT RẰNG: Nhiều cuộc nghiên cứu sử dụng tài liệu thống kê dân số cho thấy người Việt sanh trưởng ở nước ngoài, di cư vào Hoa Kỳ trong những thập niên 1980, 1990 và 2000 đến 2005 rất thành công. Nhiều người trong số di dân gốc Việt có khả năng Anh Ngữ giỏi, tốt nghiệp đại học, làm chủ căn nhà họ ở, lợi tức gia đình trung bình khá, và trở thành công dân Mỹ.

XÉT RẰNG: Sau nhiều năm, di dân gốc Việt đã khắc phục được những khó khăn về ngôn ngữ, kinh tế, và xã hội trên một qui mô lớn để họ trở thành một nhóm di dân hội nhập trọn vẹn vào xã hội Mỹ, giống như những nhóm sắc dân lớn khác ở Mỹ.

XÉT RẰNG: Qua nhiều cuộc nghiên cứu sâu rộng, người Mỹ gốc Việt đã đạt những thành tựu rất cao về nhiều lãnh vực như kinh doanh, làm chủ công ty doanh nghiệp, trong lãnh vực khoa học, kỹ thuật, du hành trong không gian, y khoa, ngành hành pháp của chính phủ Hoa Kỳ, sinh hoạt chính trị, quân đội Hoa Kỳ, hệ thống tư pháp, thể thao chuyên nghiệp, và gần đây nhất, họ từng trở thành thần tượng trong lãnh vực ẩm thực, làm người mẫu, kịch nghệ, và cả tấu hài.

XÉT RẰNG: Để phục vụ cộng đồng của họ, và thành đạt ở Mỹ, người Mỹ gốc Việt đã lập ra những khu vực thương mại phồn thịnh của người Mỹ gốc Việt trên khắp Hoa Kỳ và California, với những những khu buôn bán của người Việt ở Oakland, Orange County, Sacramento, San Diego, San Francisco và San Jose.

XÉT RẰNG: Hơn 450,000 người Việt hiện đamg sống ở California. Những nơi tập trung nhiểu nguời Việt nhất là ở Orange County, nhất là các thành phố Garden Grove, Santa Ana, Westminter và Fountain Valley.

XÉT RẰNG: San Jose với dân số 900,000 người, là điạ điểm có sự tập trung lớn nhất của sắc dân người Việt so với bất cứ thành phố nào ở Mỹ. Người ta ước lượng rằng 10% dân số thành phố San Jose là người Việt.

XÉT RẰNG: Kết quả cuộc kiểm tra thống kê năm 2006 của US Census Bureau về số chủ cơ sở kinh doanh, cho biết tại California có 50, 321 cơ sở kinh doanh của người Việt.

XÉT RẰNG: Chúng ta cần dạy trẻ em và các thế hệ tương lai bài học quan trọng về Chiến Tranh Việt Nam, kể cả những nỗi khổn khổ của người tị nạn Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc, là những thí dụ hùng hồn về giá trị của tự do và dân chủ.

XÉT RẲNG: Ngưởi tị nạn và di dân của Việt Nam Cộng Hoà trước đây di cư đến Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Việt yêu tự do, nên họ phải được vinh danh, tưởng niệm về những hy sinh đổi lấy tự do và nhân quyền, và những đóng góp liên tục của họ vào xã hội dân chủ của chúng ta.

XÉT RẰNG: Thống Đốc Arnold Schwarzenegger vinh danh sự đóng góp của cộng đồng người Mỹ gốc Việt cho tiểu bang California và ghi nhận lòng yêu quí dân chủ, công lý, và khoan dung của sắc dân người Việt, vì vậy, ông đã đưa ra một quyết định hành pháp công nhận Lá Cờ biểu tượng cho Tự Do và Di Sản Việt nam.

XÉT RẰNG: Lá cờ Tự Do và Di Sản Việt nam, tức lá cờ nền vàng ba sọc đỏ chính là biểu tượng duy nhất có thể đoàn kết tất cả người Việt sống trên khắp thế giới, và đem lại họ gần lại với nhau dưới cùng một khẩu hiệu là ước mong sẽ có tự do và dân chủ trên quê hương cũ của họ.

XÉT RẰNG: Mặc dù đoàn kết trong nỗi đau thương, người Mỹ gốc Việt kỷ niệm ngày 30 tháng Tư năm 2011 là Tháng Tư Đen. Coi sự kỷ niệm đó như một cơ hội để hồi tưởng lại những hy sinh đau khổ trong quá khứ của những cộng đồng người Mỹ gốc Việt trên toàn tiểu bang California. Họ sẽ coi Tháng Tư Đen là một dịp để kỷ niệm sức đề kháng của người Việt trước nghịch cảnh, trên bước đường đi tìm tự do, dân chủ.

Do đó, Thượng Viện và Hạ Nghị Viện tiểu bang California, đồng thanh quyết định như sau: Ghi nhận những đau khổ, thảm kịch, và mất mát về sinh mạng rất lớn trong Chiến Tranh Việt Nam, tuần lễ từ 24 tháng Tư 2011 đến 30 tháng Tư 2011 được tuyên cáo là tuần lễ tưởng niệm tháng Tư Đen. Đây là thời gian đặc biệt người dân California dành riêng để tưởng nhớ đến vô số nhân mạng bị mất trong chiến tranh Việt Nam, và hy vọng sẽ đem lại một cuộc sống công chính, và nhân đạo hơn cho người dân Việt Nam.

Quyết định rằng Tháng Tư năm 2011 sẽ được công nhận là Vietnamese American Month - Tháng Dành Cho Người Mỹ Gốc Việt - để vinh danh một cộng đồng đã đóng góp rất nhiều vào đời sống văn hoá, kinh tế, và cá nhân trong mạng lưới xã hội tạo thành tiểu bang California.

Trân trọng,
Patty Schapiro
Văn Phòng Chủ Tịch Quốc Hội tiểu bang California Fiona Ma
Điện Capitol,Trụ sở Quốc Hội tiểu bang California, Phòng số 3173.

Nguyễn Minh Tâm dịch thuật

9 thg 4, 2011

TRIỂN VỌNG CHIẾN THẮNG CỘNG SẢN CỦA NGƯỜI QUỐC GIA



TRIỂN VỌNG CHIẾN THẮNG CỘNG SẢN CỦA NGƯỜI QUỐC GIA

Ngày đó, ngày phán xét cuối cùng. Ngày của công lý được phục hồi dựa trên nguyên tắc sự trừng phạt phải tương đương vói mức độ của tội ác phạm phải. Kể từ ngày thành lập cho đến nay, Cộng Sản đã phạm phải không biết bao nhiêu tội ác tầy trời chống dân tộc và chống nhân loại. Một toà án quốc gia và một toà án quốc tế đặc nhiệm sẽ được thành lập để thẩm định và xét xử công minh những tội ác này .

TRIỂN VỌNG CHIẾN THẮNG CỘNG SẢN CỦA NGƯỜI QUỐC GIA
Cung Trầm Tưởng

Ngay trước ngày Đại Hội Đảng thứ 11 có xảy ra hai sự kiện chính trị có ý nghĩa gây được sự chú tâm của các nhà theo dõi thời cuộc. Đó là cuộc hội thảo ngày 9-11-2010 của 22 đảng viên cựu lãnh đạo, giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia, và cuộc trả lời phỏng vấn của “Tuần Việt Nam” vào ngày 12-12-2010 của ông Nguyễn Văn An, nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên trưởng Ban Tổ chức Đảng, nguyên Chủ tịch Quốc hội, và là con chim đầu đàn của Nhóm 22 trên.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một thành viên chủ chốt của nhóm, mục đích của cuộc hội thảo là cất lên một tiếng nói đối lập, chứ không phản kháng, với Đảng Cộng sản. Những ý kiến sau đây đã được đưa ra như “cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã là ảo tưởng rồi”, “phải xây dựng hiến pháp mới”, “phải xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của Đảng: lãnh đạo ai? Ai cho quyền anh lãnh đạo? Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta chứ không lừa được thực tiễn đâu!”

Rõ ràng đó là những ý kiến chống Đảng, đòi thay đổi chính thể xuất phát từ thành phần đại diện cho kiến trúc thượng tầng của Đảng. Đó là ly khai của ly khai, sự tự phủ nhận mình là người cộng sản. Nó tạo ra một sự rạn nứt trầm trọng trong nội bộ Đảng mà theo chúng tôi chỉ có thể giải quyết bằng cách xoá bỏ Đảng và cái chế độ nó đẻ ra.

Ba mươi mốt ngày sau cuộc hội thảo của Nhóm 22, trong cuộc phỏng vấn của “Tuần Việt Nam”, ông Nguyễn Văn An đã bày tỏ mạnh mẽ những quan điểm của ông về chế độ cộng sản và Đảng Cộng sản.

Về kinh tế, ông cho rằng ta có thể tóm tắt những lý luận của người cộng sản thành một luận điểm duy nhất: xoá bỏ chế độ tư hữu. Lựa chọn chiến lược này đã đẩy đất nước vào một tình trạng thiếu thốn, đói khổ mà đến nay nhớ lại cũng còn thấy rùng mình. Thế mà ĐCS vẫn cứ bám lấy cái quan niệm tật nguyền ấy với dăm ba sửa đổi ngoài da, mang tính tô vẽ (cosmetic), vẫn dành cho Nhà nước quyền sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, vẫn duy trì vai trò chủ đạo của quốc doanh và hình thái sở hữu tập thể trong việc điều hành nền kinh tế quốc gia.

Nói tóm lại, ông An lên án chế độ sở hữu nhà nước mà Đảng đang muốn kéo dài là lạc hậu, phản tiến hoá. Ông ca ngợi “sở hữu tư nhân thực chất là vấn đề dân chủ tự do trên lĩnh vực kinh tế, trong mưu cầu hạnh phúc của mỗi người, nó là cội nguồn cảm hứng, là động lực to lớn cho sự phát triển. Kết quả của nó kỳ diệu như thế nào mọi người đã biết.”

Chúng ta có cảm tưởng đang nghe lời phát biểu của một nhà đại tư bản ở Phố Tường.

Về chính trị, ông An có đưa ra một số quan điểm táo bạo được đặt trong vỏ bọc của một thứ ngôn ngữ mà chúng tôi thấy có hơn một nghĩa. Ở đây, chúng tôi chỉ xin tập trung vào một câu mà theo chúng tôi tiêu biểu cho lập trường chính trị của ông. Ông nói: “Tôi mong muốn BCT và BCHTU, mong muốn Đại Hội XI đổi mới tư duy toàn diện và triệt để, cả kinh tế và chính trị thì mới khắc phục được lỗi hệ thống.”

Chúng tôi xin làm một phân tích văn bản để tìm hiểu ông thực sự muốn nói gì qua lời phát biểu trên.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một đồng chí thân cận của ông An, hệ thống chỉ là cách nói trại của một thuật ngữ đúng: chế độ chính trị. Như thế có nghĩa là, những lỗi lầm ĐCS đã phạm phải trong suốt mấy chục năm nay không phải là do cơ chế như họ thường ví von mà là do chế độ và cái đảng đã đẻ ra nó.

Nay, chúng ta hãy tạm rời thế giới ngữ nghĩa của ông An và bước vào thực tiễn lịch sử. Trong suốt 66 năm kể từ lúc nó ra đời, chế độ cộng sản đã mắc phải không biết là bao nhiêu lỗi lầm tệ hại đến mức mọi cố gắng cải tổ nó đều vô ích, vậy chỉ còn cách duy nhất là chấm dứt nó. Phải chăng đây là cái đích tối hậu ông An muốn nhắm tới khi nói đến “lỗi hệ thống” mà ông mong muốn Đảng phải khắc phục?

Chúng tôi thấy có một sự leo thang ngữ nghĩa ngầm trong cách nói của ông An khi ông mong muốn Đảng phải đổi mới tư duy toàn diện và triệt để. Mà đổi mới theo kiểu này là gì nếu không là Đảng phải làm một cuộc lột xác tinh thần, một cuộc cách mạng tư tưởng. Nghĩa là Đảng phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, và cái này không là gì khác hơn Đảng phải tự khai tử mình, nếu không lịch sử sẽ làm hộ cho Đảng. Mà khai tử Đảng, người “chủ quản” duy nhất và tuyệt đối của chế độ, cũng là khai tử luôn chế độ.

Nếu quả là như vậy thì ông An là một người cộng sản giác ngộ chính nghĩa quốc gia dân tộc một cách toàn diện và triệt để.

Chúng ta nên thông cảm với ông, bởi vì để tồn tại trong một chế độ nổi tiếng về cách nó triệt hạ không thương tiếc mọi khác biệt tư tưởng - được nó nâng lên hàng một dị giáo, một tà thuyết - ông bắt buộc phải dùng cách nói trại, nói bóng nói gió, nói xa xôi cho người ta hiểu ý ở ngoài lời, chẳng hạn nói mong muốn (wish, désirer) thay vì yêu cầu (ask, demander), nói đổi mới thay vì nói thay thế, hoặc nói cải cách thay vì nói cách mạng. Dẫu sao thì chúng ta cũng phải nhìn nhận ông là một người can đảm.

Trong khi chúng ta còn đang phân vân với cái giả thuyết phải chăng, nếu quả là như vậy của chúng ta về ông An, thì theo một nguồn tin đáng tin cậy từ trong nước gửi ra hải ngoại, dưới con mắt của phe bảo thủ đang chiếm đa số tại Bộ Chính trị, rõ ràng và dứt khoát là đảng viên Nguyễn Văn An muốn xoá bỏ chế độ cộng sản và như vậy là một kẻ phản đảng. Trong khi đó, đối với nhiều người trong và ngoài đảng, đặc biệt là giới thanh niên thành thị có học, ông là một dũng sĩ đáng được người ta ngưỡng mộ và hoan nghênh.

Điều gì sẽ xảy đến với ông? Ông có thành một Yeltsin của Việt Nam? Hay ông sẽ phải chuốc lấy số phận hẩm hiu của Triệu Tử Dương hoặc cái chết đột ngột của Võ Văn Kiệt?

Dù là thế nào chăng nữa, qua hai sự kiện Nhóm 22 và Nguyễn Văn An và phản ứng hỗn xược của Nông Đức Mạnh, lần đầu chúng ta thấy phơi bày ra ngoài ánh sáng một sự rạn nứt khó lấp giữa phe bảo thủ đang nắm quyền và phe tiến bộ cựu lãnh đạo mà ông An là một đại diện tiêu biểu.

Để có một ý niệm hoàn chỉnh về sự tiêu vong tất yếu của chế độ cộng sản ở Việt Nam, ta phải đặt vấn đề vào bối cảnh của thế giới hiện nay đang chuyển mình theo nhịp chuyển của một cuộc cách mạng tin học đã đạt được những tiến bộ vượt bực trong một thời gian ngắn.

Sự ra đời cách đây 30 năm của Liên Mạng Internet và gần đây của những Facebook, Twitter, YouTube, Smart phone của mạng xã hội số hoá đã đảo lộn cách sống và lối nghĩ của nhân loại trên hơn một phương diện. Một phép lạ xảy ra: Liên Mạng hiện đại có khả năng chuyển tải một lượng thông tin khổng lồ đến bất cứ nơi nào trên thế giới trong một thời gian tối thiểu chưa đầy một phút đồng hồ. Hơn nữa, Liên Mạng còn được lồng vào một trí tuệ siêu khôn có khả năng vô hiệu hoá bất cứ bức tường lửa ma mãnh nào dựng lên bởi những chế độ phản dân chủ, khiến thế giới hiện nay trở thành một thế giới trong suốt và công khai.

Vì khả năng chuyển tin thần tốc nói trên của Liên Mạng, khái niệm cổ điển về cự ly bị đảo lộn: nó bị thu hẹp đến mức hầu như không còn hiện hữu nữa. Điều này dẫn đến một hậu quả rất quan trọng về mặt nhân bản: cả cái thế giới nhân loại mênh mông hiện đang bị thu nhỏ thành một ngôi làng ảo trong đó, dù có những khác biệt về màu da, chủng tộc, văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo, người ta vẫn phải sinh hoạt với nhau trong một quan hệ hàng xóm láng giềng và chia sẻ chung một số phận: mỗi chúng ta là một công dân toàn cầu.

Theo Samuel P. Huntington, tiến trình dân chủ hoá của nhân loại đã trải qua ba giai đọạn: Làn sóng thứ nhất bắt đầu từ thập niên 1920 đến năm 1926 thì chấm dứt; làn sóng thứ hai bắt đầu ngay sau Thế chiến II chấm dứt và đạt đỉnh cao nhất vào năm 1962; làn sóng thứ ba khởi sự từ thập niên 1970 đến nay và còn đang tiếp diễn. Cho đến nay, số các nước dân chủ tăng từ vài chục lên tới 123, tức 64% tổng số các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Sự kiện này chứng tỏ phong trào dân chủ hoá là một xu thế thời đại, nghĩa là một sức mạnh không gì cản được. Dù có muốn ngoan cố “thành đồng vách sắt” đến đâu chăng nữa, các nước độc tài, chuyên chế còn lại sớm muộn cũng phải gia nhập vào cộng đồng các nước dân chủ văn minh, nếu không sẽ phải chuốc lấy số phận của một pariah.

Về phẩm, phong trào đã đạt được những bước tiến ngoạn mục. Với những điển hình tiến bộ như Cộng Hoà Tiệp Khắc, Cộng Hoà Ba Lan, Cộng Hoà Ấn Độ, Cộng Hoà Triều Tiên, Cộng Hoà Nam Phi, Cộng Hoà Chi Lê và một số chế độ dân chủ khác ở Á Châu, Trung Mỹ và Nam Mỹ.

Bức tranh toàn cảnh là, nhân loại đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của nền văn hoá chính trị hậu hiện đại. Thứ Quốc tế 5, một chủ nghĩa hoàn vũ dựng trên hòn đá tảng là nền dân chủ cấp tiến Tây phương mà theo Francis Fukuyama là hình thái chính quyền sau cùng của nhân loại. Sự tranh chấp ý hệ chính trị chấm dứt, nhường chỗ cho sự phổ cập hoá một nền cộng hoà nhân bản, nhân đạo, tập trung trí tuệ vào việc giải phóng ba phần tư còn lại của nhân loại khỏi vòng kiềm toả của lạc hậu truyền kiếp, nghèo và đói kinh niên, và các bệnh mãn tính vì suy dinh dưỡng và thiếu những điều kiện vệ sinh tối thiểu.

Đồng bộ với sự toàn cầu hoá về kinh tế ngày càng được đẩy mạnh và dựa trên tinh thần của chủ nghĩa hoàn vũ đượm màu bác ái trên, thiết tưởng nên có một liên minh thế giới về sự thăng tiến của dân chủ - một thứ Liên hiệp Âu châu mở rộng trên một quy mô liên đại lục hoặc một tương đương chính trị của Tổ chức các Y sĩ Không Biên giới chẳng hạn - đứng ra đảm nhận trách nhiệm giúp đỡ các quốc gia đang quá độ lên dân chủ và các quốc gia dân chủ tân lập cả về vật chất lẫn tinh thần và tổ chức cơ cấu nhằm xây dựng một không gian chính trị cởi mở, phóng khoáng, hài hoà trong đa nguyên, an toàn trong khác biệt, có khả năng tự điều chỉnh cao và hoá giải những âm mưu tái lập độc tài, chuyên chế thông qua các công cụ pháp quyền và hiến định chính thống; một không gian đồng thuận theo nguyên tắc đa số tương đối mà vẫn ổn định, tôn trọng quyền đối lập của thiểu số và được điều hành bởi một chính quyền của dân, do dân và vì dân, và một xã hội dân sự văn minh, tiến bộ, có ý thức trách nhiệm cao. Nói tóm lại, đây là không gian của một nền dân chủ tiên tiến mà Thuỵ Điển và Phần Lan là hai trường hợp điển hình. Nền dân chủ xã hội Thuỵ Điển có những nét đặc trưng nổi bật như trình độ hiểu biết chính trị, ý thức xã hội và tinh thần nhân bản của người dân rất cao; sự kết hợp linh động và sáng tạo hai chế độ công hữu và tư hữu khìến nền kinh tế đạt được hiệu quả tối đa; sự thu hẹp đáng kể hố chia cách giàu nghèo bằng một chính sách phân phối hợp lý lợi tức quốc gia và sự nâng cao ngoạn mục mức dân sinh thông qua những công cụ của một định chế phúc lợi toàn dân vừng bền và hữu hiệu.

Sự biểu dương của các lực lượng dân chủ dàn trên một trận tuyến xuyên quốc gia. Dưới tác động của hiệu ứng domino - sẽ xảy ra với một tốc độ nhanh trong một môi trường trong suốt và công khai như thế giới hiện nay - có một xác suất cao là sau Tunisia và Ai Cập, làn sóng của nổi dậy đòi tự do và dân chủ sẽ lan sang những điểm nóng khác như Yemen, Libya, Algeria, Morocco, Iran, Bahrain, Myanmar, Việt Nam, Tân Cương, Tây Tạng và ngay cả nội địa Trung Quốc nữa.

Việt Nam là một trường hợp đặc biệt. Nó nằm ở một vị trí địa lý chính trị vốn thường là nơi xảy ra sự tranh giành ảnh hưởng giữa một số nước lớn có những lợi ích xung khắc với nhau; đồng thời đó cũng là nơi đã và đang diễn ra một cuộc xung đột gay gắt giữa hai ý hệ quốc gia và cộng sản không thể dung hợp. Cái mà Cộng sản rêu rao là ổn định chính trị thực chất chỉ là một trật tự phiếm định có thể sụp đổ vào bất cứ lúc nào. Bởi vì nó dựa trên một nền tảng lung lay: người dân thù ghét chế độ và không bao giờ tha thứ cho tội bán nước của nó. Trong thời phong kiến, tội này là một trọng tội: tội giảo ải - tội bị treo cổ.

Chúng ta có thể hình dung nguyên nhân của một bạo tử: sự cộng hưởng của khủng hoảng kinh tế (thể nào cũng xảy ra), vật giá tăng vọt, thất nghiệp lan tràn, sự phá sản của giai cấp trung lưu duy vật và tiêu thụ chủ nghĩa, đời sống khốn quẫn của người dân và sự căm phẫn của họ lên tới tột điểm khi thấy nhân phẩm của mình bị chà đạp sẽ làm nổ ra một chấn động chính trị kinh hoàng ở cấp 8 thang Ritcher lật sập tan tành chế độ.

Cuộc chiến Quốc Cộng còn đang tiếp diễn. Từ là một đối đầu bằng sức mạnh của thép và lửa, cuộc chiến trở thành một đọ sức mềm - một thứ Hoà bình Lạnh - chủ yếu mang hai dạng: chiến tranh trí tuệ và chiến tranh tin học.

Sự lượng giá tương quan lực lượng là cần thiết cho việc định hình binh pháp và kế hoạch hành quân.

Chiến Tranh Trí Tuệ

Có một quy luật bất biến: trí tuệ chỉ có thể phát triển và thăng hoa nếu nó có tự do tư tưởng. Mà tự do tư tưởng lại là điều cấm kỵ, thứ anathème, bị ghét cay ghét đắng bởi tập đoàn lãnh đạo của một chế độ bắt người trí thức phải đi bên lề phải do nó chỉ định. Trái lại, vì có được tự do tư tưởng, người Việt quốc gia chúng ta có một năng lực hiểu rộng, biết sâu, nhìn rõ, thấy xa; biết có phương pháp, hiểu đến ngọn nghành, nhìn có hệ thống; tức là những yếu tố cấu thành của một tri thức ở trình độ cao. Ưu thế này giữ một vai trò quyết định “ai thắng ai” trong cuộc chiến Quốc Cộng bởi vì tri thức là sức mạnh. Có sức mạnh này, người quốc gia đang đứng về phía thắng (right side) của lịch sử.

Cộng sản Việt Nam hay có lối nói tỷ giảo. Nó ví “trí thức không bằng một cục phân”. Theo nó, phân có ích dụng bón cây và nuôi chó (ở Bắc Việt), còn trí thức không lao động sản xuất và hay phản động. Đây quả là một lời nói gở: chính cái quan niệm quái đản và tật nguyền này đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của toàn khối Xô Viết và đang làm những nền chuyên chế của sự ngu dốt còn lại chới với, không biết đường nào mà mò để ra khỏi cơn bế tắc chúng đang gặp phải.

Vì mắc chứng liệt kháng trí tuệ và với một tập đoàn lãnh đạo gồm toàn những quả mít đặc, Cộng sản Việt Nam luôn bị mất phương hướng, mắc hết sai lầm tệ hại này đến sai lầm tệ hại khác mà vẫn cứ tiếp tục đâm đầu vào những cuộc phiêu lưu không có ngày mai. Nó đang ở trong một tình trạng loạn năng (dysfunctional), đuối sức, hụt hơi, vô vọng: đổi mới cũng chết; biến chất cũng tiêu; càng bạo tàn ngang ngược càng chết thảm như vợ chồng Ceausescu ở Romania.

Lối đi chỉ một chiều

Chẳng còn đường nào khác.

Chiến Tranh Tin Học

Một số điều trình bày ở đây dựa vào bài “Tiến đến một Trận đồ Điện toán đánh sập chế độ cộng sản ở Việt Nam” chuyên bàn về khía cạnh kỹ thuật của cuộc đấu tranh chống cộng của chuyên gia điện toán Nguyễn Khắc Anh Tâm.

Trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng hiện nay, tin học giữ một vai trò rất quan trọng. Người Việt quốc gia chúng ta có ưu thế vì được hấp thụ những tiến bộ vượt bực của cách mạng tin học, do đó có khả năng nhân lên gấp bội hiệu năng của cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Một thí dụ điển hình: nhờ nắm vững những kỹ thuật tân tiến của truyền thông hiện đại, thông qua blog, chúng ta đã tổ chức được những cuộc biểu tình trên mạng gồm hàng trăm ngàn chữ ký của người dân trong và ngoài nước để yêu cầu chính quyền cộng sản phải chấm dứt hành động bán nước của nó, phải mạnh dạn đòi lại những phần đất, phần biển đã mất vào tay Trung Cộng, phải dám chống trả lại những vụ hải quân Trung Cộng tấn công vào các ngư thuyền của ta đang hoạt động trên vùng lãnh hải của ta, và phải dựa vào sức mạnh của toàn dân để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Theo Nguyễn Khắc Anh Tâm, cuộc cách mạng tin học còn cung cấp cho chúng ta hơn một công cụ để bẻ gẫy những nỗ lực phong toả của bạo quyền, vượt qua những bức tường lửa ma mãnh nó dựng lên và vô hiệu hoá những những thủ thuật tin tặc độc hại nó tung ra để làm rối loạn hoặc tê liệt hàng ngũ của ta, bằng cách sử dụng những sản phẩm của Internet có tính năng lưu động như Twitter, cell phone để chuyển tin cho các Twitters trung gian ở hải ngoại thông qua một “ngã rẽ” (proxy/relay) nhằm kêu gọi sự ủng hộ của thế giới tự do và duy trì tính liên tục của việc thông tin trong trường hợp Facebook bị cắt đứt do lệnh đóng cửa Internet của bạo quyền ban ra.

Nguyễn Khắc Anh Tâm cho biết hiện đang có những người bạn quý muốn giúp đỡ chúng ta một khi được yêu cầu. Bên cạnh một tổ chức Việt Mỹ sẵn sàng phổ biến các websites cổ động phong trào đấu tranh của chúng ta, còn có các nhóm chuyên gia thiện nguyện quốc tế nếu được yêu cầu thì sẽ thu thập hộ cho chúng ta những tín hiệu độc hại Cộng sản tung ra và nếu cần thì sẽ lập hồ sơ báo cáo với chính quyền bản xứ. Ngoài ra, chính phủ Hoa Kỳ vừa chính thức cam kết giúp các blogger đấu tranh ở những nước độc tài (trong đó có Việt Nam) phương cách vượt qua những bức tường lửa và giải toả sự bịt miệng mạng xã hội được dựng lên bởi chính quyền những nước ấy. Ta có thể gọi đây là một thứ liên minh quốc tế vì tự do ngôn luận - một hình thái của nền văn hoá chính trị hậu hiện đại - trong đó các nhà đấu tranh dân chủ sẽ được cung cấp các loại vũ khí ảo siêu hiện đại để chống trả sự đàn áp trên mạng của những nhà nước tin tặc.

Về triển vọng chiến thắng Cộng Sản trên mặt trận tin học, Nguyễn Khắc Anh Tâm đề nghị “thiết lập một bộ phận điều hợp (gồm) một số thiên tài điện toán… để khi cần thì khai triển một trận đồ điện toán với tác động cỡ 100 lần trận đồ điện toán đã khai triển ở Iran hồi tháng 6/2009 bằng cách phối hợp tất cả các phương tiện điện toán và truyền thông cùng một lúc và nhân tác động này lên bằng Hiệu ứng Cánh Bướm (Butterfly Effect) khi công cuộc phát động trận đồ điện toán được khai triển trên nhiều mặt trận ở nhiều nơi có tính nhạy cảm cùng một lúc.”

Cuộc chiến chúng ta đang đánh với cộng sản không còn là một cuộc chiến của máu đổ và xương rơi nữa - ít nhất là cho đến lúc này - mà là một cuộc chiến tranh mềm: chúng ta đánh cộng sản bằng trí tuệ của chúng ta. Ngoài ra, cuộc chiến còn là một chiến tranh ảo: chúng ta đánh kẻ thù bằng máy điện toán, bằng thảo chương lập trình, bằng tất cả những pháp, thuật, chiêu hiện đại nhất ta học được ở cuộc cách mạng tin học.

Chúng ta đánh bằng những binh pháp ảo phản ánh sát thực tại chiến trường, chẳng hạn như Trận đồ Điện toán của Nguyễn Khắc Anh Tâm. Vì có một hướng đích chính trị sắc bén và được trang bị bởi một ý chí chống cộng quyết liệt, trận đồ này có một khả năng sát thương ảo cao. Hơn nữa, vì được lập nên bởi một chuyên gia am tường điện toán học và tin học, nó là một trận đồ bát quái trùng phức kẻ thù không biết đâu mà tìm ra chìa khoá để giải mã. Với cái thói làm ăn tuỳ tiện, luộm thuộm - chỉ cần nhìn vào cung cách nó quản lý cái gọi là nền kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa của nó thì thấy rõ sở đoản này - và với một kiến thức hạn chế về điện toán, nó không đủ sức đọ lại chúng ta dù cho nó có được chỉ bảo, hà hơi tiếp sức bởi các quân sư của nó ở Tổng cục Tình báo Chiến lược Hoa Nam của Trung Cộng.

Một yếu tố cực kỳ quan trọng khác phải được huy động và sát nhập vào đội ngũ đấu tranh: đó là thành phần thanh niên, đặc biệt là những thanh niên có học, luôn là cánh quân xung phong của bất cứ cuộc cách mạng nào.

Hiện đang có ở trong nước hàng triệu người thuộc giới trẻ biết sử dụng thành thạo Internet, Facebook, Twitter và loại cell phone hiện đại nhất có khả năng chụp hình và thu video rõ nét ngay tại hiện trường, và ở hải ngoại một đội ngũ đông đảo các chuyên viên điện toán trẻ Việt Nam ở cấp đẳng quốc tế. Nếu được kết hợp lại, họ sẽ thành một đội quân chủ lực có khả năng làm lệch cán cân về phía đấu tranh bằng ưu thế áp đảo cả về kiến thức hi-tech lẫn tinh thần chiến đấu cao độ của họ. Đây là hai điều kiện then chốt mà bất cứ cuộc đấu tranh hiện đại nào cũng phải có để nâng cao triển vọng chiến thắng

Tuy nhiên, dù có lợi hại đến đâu chăng nữa, những trận đồ điện toán ta lập ra ở hải ngoại vẫn chưa phải là thứ vũ khí tối hậu. Nói rõ hơn, yếu tố quyết định chiến thắng không phải là những ngón tay diệu thủ gõ bàn phím hay lướt màn ảnh nhỏ - chúng chỉ là công cụ - mà là cái khí lực dấy lên từ phế phủ, cái guts, sự can trường, lòng dũng cảm của những người dân xuống đường đối mặt với kẻ thù.

Dưới tác động của hoàn cảnh xảy ra nơi người nhập cuộc một sự chuyển hoá tâm lý có hướng thăng hoa.

Sức mạnh của một quần chúng đồng loạt xuống đường đòi tự do, dân chủ, nhân quyền, nhân phẩm như quần chúng Ai Cập ở Quảng trường Tahrir là một ma lực cuốn tôi người nhập cuộc vào lòng nó, ở đó tôi có điều kiện tốt nhất để tự giải phóng tôi khỏi cái tôi vẫn thường là, cái tôi tên nô lệ của một nỗi sợ hãi triền miên rằng cộng sản sẽ bắt cóc tôi, bỏ tù tôi, hành hạ thân thể tôi, tra tấn tinh thần tôi, thủ tiêu nếu tôi cả gan chống lại nó, thách thức quyền uy và phủ nhận tính hợp pháp của nó; ở đó, tôi từ là một ẩn danh không chân dung đối kháng trừu tượng trở thành một xuất hiện cụ thể, nguyên hình, công khai giáp mặt với kẻ thù: tôi không còn sợ nó nữa; ở đó, trong xứ sở của vô uý, có một khác biệt về cứu cánh giữa hai hành động can đảm: trong khi sự liều lĩnh của một kẻ bạt mạng (casse-cou, daredevil) chỉ thuần tuý là sự biểu hiện cái ngông, cái cuồng (fantaisie et folie) của một cá nhân vị kỷ hư vô chủ nghĩa, tức chỉ để phục vụ Thần Chết, sự tôi dám hy sinh tính mạng tôi người nhập cuộc vì những giá trị nhân bản không nhắm ngoài mục đích là phục vụ đời, phục vụ một cuộc sống có ý nghĩa hơn, đáng sống hơn, tốt đẹp hơn cho đồng bào tôi; ở đó, giữa một không khí mặn nồng tình huynh đệ sống chết có nhau, tôi lớn mạnh hẳn lên, nghĩa là, nếu thân tôi có bị chiếc roi điện nhập khẩu của công an quật ngã, cái guts của tôi vẫn không suy suyển: tôi sẽ đứng dậy trở lại và lao về phía trước; ở đó, tôi từ một toạ độ ngoại vi nhập vào và trở thành một yếu tố cấu thành của tập thể đấu tranh, một tập thể gestalt, tức cái lớn hơn tổng số những yếu tố cấu thành của nó: tôi nay có sức mạnh núi của ba cây chụm lại; ở đó, giữa một đại dương trùng trùng nộ khí, tôi vừa là ngọn sóng vừa là biển cả: tôi nhỏ bé mà phi thường; ở đó dâng lên trong tôi qua tôi quên tôi một ham muốn hỉ xả, dâng hiến, hy sinh vì một nghĩa cả lớn như biển cả: tôi tên vô thần muốn làm một tử đạo; ở đó cách mạng được viết lên đẹp như một sử thi bởi triệu anh hùng vô danh; ở đó tôi sống trong một liên minh bình đẳng, thuận hoà giữa già và trẻ, nam và nữ, giàu và nghèo, chủ và thợ, duy vật và duy tâm, cấp tiến và bảo thủ, hữu thần và vô thần, tu hành và thế tục: tất cả kết tủa thành một đại nhất khối đấu tranh với một sức mạnh ghê gớm và tạo tiền đề cho sự ra đời mai sau của một nền cộng hoà nhân bản, nhân ái như là hình thái chính quyền sau cùng của nhân loại.

Một tin mừng vừa đến với nhân loại và đã làm chúng tôi bật khóc vì sung sướng: sau Tunisia một tháng, cách mạng đã chiến thắng ở Ai Cập.

Đó là một chiến thắng có tầm vóc lịch sử. Nó làm rung chuyển đến tận gốc toàn khối Ả Rập mà Ai Cập là con chim đầu đàn. Những chế độ toàn thủ Hồi giáo đang phải tự điều chỉnh - phải tự điều chỉnh nhanh - nếu không thì sẽ bị chôn vùi bởi làn sóng thứ ba của tiến trình dân chủ hoá toàn cầu đang dâng trào.

Đó là sự chiến thắng của một mô hình đấu tranh bất bạo động mà khẳng định được cái chân lý muôn đời: sức mạnh của nhân dân là vô địch. Mười tám ngày tổng nổi dậy với không một tấc sắt trong tay mà chấm dứt được 30 năm cầm quyền bạo ngược của một nhà nước độc tài sắt máu. Sự chiến thắng vũ bão này có được một phần là do trí tuệ và tài thao lược của một nhóm trẻ có học thuộc giai cấp trung lưu yêu nước, dũng cảm và thông thạo điện toán lẫn tin học.

Một chiến thắng vang dội khắp thế giới vì nó đánh thức lương tri nhân loại. Những thành luỹ phản dân chủ kiên cố như Iran, Libya, Trung Cộng đang nao núng. Điều chính quyền Bắc Kinh ra lệnh cho các cơ quan truyền thông của nó phải xoá tên Ai Cập trong những bản tin về Trung Đông chứng tỏ nó sợ sẽ có một phản ứng dây chuyền từ sau biến cố Ai Cập mà điểm kết thúc sẽ là Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Sở dĩ sự chiến thắng của cuộc Cách mạng Hoa Sen ở Ai Cập đã được các nhà quan sát và bình luận quốc tế chú tâm đến và phân tích một cách sôi nổi là vì nó mở ra một triển vọng là nhân loại sẽ bước vào một kỷ nguyên mới trong đó bản đồ chính trị của thế giới sẽ được vẽ lại và một trật tự thế giới mới sẽ thành hình. Vì thế nó được đặt ngang hàng với sự sụp đổ cách đây 32 năm của Bức Tường Berlin mở đầu cho sự sụp đổ ngay sau đó của toàn khối Xô Viết.

Khi nhìn trên màn ảnh truyền hình cảnh tượng hàng trăm ngàn người Ai Cập đổ ra đường phố hát ca, nhảy múa, reo mừng chiến thắng của cách mạng, chúng tôi không thể không nghĩ đến đất nước Việt Nam của chúng ta và bỗng cảm thấy dâng lên trong chúng tôi một niềm tin mạnh mẽ rằng những gì đã xảy ra ở quê hương xa xôi trên bờ sông Nile ấy rồi cũng sẽ xảy ra ở quê hương chúng ta, nơi đang hội đủ những điều kiện tương tự cho một cuộc tổng nổi dậy của toàn dân Việt Nam đồng loạt đứng lên đạp đổ bạo quyền cộng sản.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, cũng như ở Ai Cập, trận đánh quyết định cuối cùng của cuộc Cách mạng Trúc trong tương lai ở Việt Nam sẽ diễn ra tại một quảng trường.

Một ngày nào đó, Quảng trường Ba Đình sẽ là sự lặp lại với một sắc thái Việt Nam - có thể là đẫm máu - của Quảng trường Tahrir - Quảng trường Giải phóng: một cái tên tiền định - tử địa của băng đảng đỏ.

Ngày đó, ngày của sự phẫn nộ với hàng hàng lớp người dân đồng loạt xuống đường đập tan xiềng xích của chuyên chế đạo tặc, tham tàn, phi nhân, bán nước.

Ngày đó, những người lính xuất thân từ và là bạn của nhân dân sẽ rời bỏ quân ngũ để sang nhập vào biển người biểu tình ùn ùn khí thế, với nòng súng của mình chĩa thẳng về phía công an và nhả đạn.

Ngày đó, đống than hồng âm ỉ tích tụ từ lâu sẽ bùng thành một đại hỏa tai inferno thiêu rụi những hang ổ đầu não của tặc quyền: Trụ sở Đảng, Bộ Công an, Phủ Thủ tướng, Phủ Chủ tịch, Nhà Quốc hội, Tổng cục 2, Tổng cục Tình báo Yết Kiêu và cái lăng ô nhục ấy cùng với cái xác chết nằm trong nó.

Ngày đó, ngày chấm dứt một nghịch lý của lịch sử.

Ngày đó, ngày phán xét cuối cùng. Ngày của công lý được phục hồi dựa trên nguyên tắc sự trừng phạt phải tương đương vói mức độ của tội ác phạm phải. Kể từ ngày thành lập cho đến nay, Cộng Sản đã phạm phải không biết bao nhiêu tội ác tầy trời chống dân tộc và chống nhân loại. Một toà án quốc gia và một toà án quốc tế đặc nhiệm sẽ được thành lập để thẩm định và xét xử công minh những tội ác này (xem bài “Tám Mươi Năm Tội ác của Cộng sản và Hoà giải Dân tộc” của Đỗ Ngọc Uyển hiện còn lưu trữ trên một số websites).

Ngày đó, ngày của vong linh hàng triệu người bị cộng sản giết hại được giải oan. Đó cũng là ngày hội lớn của toàn dân đổ ra đường phố reo mừng sự chiến thắng của cuộc Cách mạng Trúc.

Ngày đó, ngày khởi sự của một lên đường phấn chấn chứa chan đi xây dựng lại quê hương. Nền cộng hoà thứ ba, sự kế tục của dòng lịch sử chính thống, sẽ ra đời với sứ mệnh được giao phó là kiện toàn và phát huy nền tảng dân chủ mà hai nền cộng hoà trước đã để lại cho quê hương. Dựa trên tinh thần của nền văn hoá chính trị hậu hiện đại, một không gian chính trị cởi mở, phóng khoáng, đa nguyên, hài hoà, nhân bản sẽ được xây dựng làm nền cho Đệ tam Việt Nam Cộng hoà. Và, Việt Nam sẽ ra nhập trở lại cộng đồng các quốc gia dân chủ tiến bộ văn minh trên thế giới, và sẽ là một thành viên tích cực của cộng đồng này.

Cung Trầm Tưởng

8 thg 4, 2011

Trung Quốc không ngờ bị vạ lây do Libya đầy bất trắc

Trung Quốc là một trong những nước bị vạ lây trong cuộc cánh mạng tại Libya. Vào lúc ngành an ninh đề phòng ảnh hưởng "cách mạng Hoa lài" lan sang lãnh thổ Trung Quốc, thì đài truyền hình nhà nước tường thuật rộng rãi với phỏng vấn và hình ảnh của hàng ngàn lao động xuất khẩu từ Libya khẩn cấp hồi hương.

Tập đoàn dầu khí nhà nước Trung Quốc CNPC cho biết nhiều cơ sở của họ tại Libya bị tấn công. Ban giám đốc không cho biết chi tiết và thiệt hại nhưng đây là lần đầu tiên các tập đoàn Trung Quốc đầu tư tại Châu Phi nếm mùi "rủi ro chính trị", bỏ của chạy lấy mình. Từ Bắc Kinh, thông tín viên Stephane Lagarde phân tích :

"Trung Quốc đầu tư, Trung Quốc trợ giúp cho phát triển, nhưng Bắc Kinh không dính dáng đến chính trị của các nước sở tại. Cho đến trước cuộc khủng hoảng Libya hiện nay, đây là nguyên tắc được các lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc tuyên bố mỗi khi họ công du châu Phi.

Nhưng giờ đây, mọi thứ đã thay đổi. Giới doanh nghiệp sẽ phải có những phản ứng mạnh. Theo một chuyên gia kinh tế Trung Quốc, thuộc Đại học Bắc Kinh, từ trước đến giờ các doanh nghiệp Trung Quốc chỉ quan tâm đến những bất trắc về mặt thương mại, như khả năng trả nợ của các đối tác, mà không chú ý đến các bất trắc về chính trị.

Các công trường bị đánh cắp, xe cộ bị đốt cháy, những địa điểm khai thác dầu bị tấn công … Theo Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc, khoảng 30 địa điểm và doanh nghiệp của Trung Quốc tại Libya đã bị cướp phá. Theo kênh truyền hình chính thức của Trung Quốc CCTV, có ít nhất 30.000 kiều dân Trung Quốc làm việc tại Libya. Phần lớn người Trung Quốc làm việc trong lĩnh vực dầu mỏ, thông tin, đường sắt, nhất là trên tuyến đường Bắc-Nam nối liền Địa Trung Hải với vùng sa mạc của nước này.

Cũng theo giảng viên kinh tế Trung Quốc kể trên, Châu Phi có một lịch sử lâu đời và sẽ tiếp tục là một thị trường đầy hứa hẹn. Điều đó cũng có nghĩa là, các doanh nghiệp cần phải đầu tư vào đó, đồng thời phải xem xét đầy đủ các mối rủi ro bất trắc trên mọi phương diện.

Năm 2009, Trung Quốc đã trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Châu Phi. Trao đổi thương mại giữa hai chính quyền Tripoli và Bắc Kinh đã đạt đến 4,8 tỷ euro vào năm ngoái, và lượng dầu mỏ nhập từ Libya chiếm 3% dầu nhập khẩu của Trung Quốc". Trung Quốc không ngờ bị vạ lây do Libya đầy bất trắc

7 thg 4, 2011

Thời nào dân Việt sướng nhất



Thời nào dân Việt sướng nhất
Nguyễn Hội

Lúc còn bé tôi thường được nghe các vị tiền bối nói rằng:… “thời Đệ Nhất Cộng Hoà ai cũng được sung túc, ngủ không phải đóng cửa…”. Câu nói trên tôi hiểu được khi trưởng thành, khi đã biết nghĩ đến hưng thịnh của quốc gia, hạnh phúc của người dân.

Hôm nay ngày cuối tuần, đi lang thang ngoài phố chợt nhớ đến những ngày này trước đây 46 năm nhóm tướng lãnh đã bạo động giết chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng người em là Ngô Đình Nhu, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Câu nói trên của các vị tiền bối lại trở về xâm chiếm tâm tư tôi… tôi quyết định ghé vào thư viện trường đại học kiếm sách đọc cho rõ vấn đề.

Là người thực tế nên tôi kiếm sách viết về nền kính tế và đời sống của người dân thời bấy giờ. Sau hơn 2 tiếng đồng hồ lục lọi tôi chỉ kiếm được 1 quyển sách về phát triển kinh tế tại Miền Nam Việt Nam từ 1955 đến 1975 do Douglas C. Dacy của đại học Austin (Texas) viết vào năm 1986.

Ở Việt Nam công nhân và người dân lao động là thành phần chiếm đa số trong xã hội nên mức sống của họ có thể là cán cân đo lường sự chăm lo cho dân của chính phủ đang cai trị quốc gia. Với mục đích đó tôi kính cùng Quí Vị quan sát những điểm sau đây:
- Lương công nhân từ 1956 đến 1974 và lương công nhân năm 2006
- Giá gạo của các năm 1956 đến 1974, cùng giá gạo của năm 2006
- chỉ số giá tiêu thụ của công nhân từ 1956-1974
- so sánh lương công nhân và chỉ số giá tiêu thụ từ 1956-1974
- Lương công nhân tính ra kg gạo

Năm 2006 được chọn để so sánh vì năm 2006 là một trong những năm phát triển mạnh nhất của Việt Nam cộng sản.

Lương Công nhân lao động
Lương của người lao động được phân biệt có nghề hay không có nghề chuyên môn. Sự chêch lệch giữa lương của người có nghề và không có nghề rõ ràng nhất vào năm 1956 với 76%:


Lương của người lao động vào năm 2006 được tính dựa vào dữ kiện của trang báo Tuổi trẻ

Qua bài này lương tháng công nhân là 800.000đ và lương của nhân viên bảo dưỡng sửa chữa trung bình 1.350.000đ (từ 1.200.000đ – 1.500.000đ). Công nhân làm việc 6 ngày một tuần, mỗi tháng làm việc ít nhất 25 ngày, vì thế lương ngày của công nhân là 32000 = 800.000/25 và cho công nhân có tay nghề là 54000. Giá gạo cho năm 2006 được tính theo giá trung bình từ cách tỉnh miền Tây Cần Thơ, Kiên Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long lấy từ bài của Vietbao.vn.

Chỉ số giá tiêu thụ của người lao động được tính dựa trên phát triển giá cả những sản phẩm mà giới này thường dùng và dựa trên căn bản giá của năm 1962. Chỉ số giá tiêu thụ cho năm 2006 dựa trên căn bản giá năm 1962 cần nhiều dữ kiện nên rất tiếc không thể thực hiện được trong phạm vi bài viết ngắn này.

Lương của người lao động không có nghề tăng 50% trong vòng 6 năm từ 1956 đến năm 1962 trong khi đó vật giá chỉ tăng tổng cộng 3,6% trong thời gian này. Nghĩa là đời sống của người dân tăng rất cao, ít nhất 46% trong vòng 6 năm trời. Đặc biệt vật giá giảm hơn 4,4% vào năm 1957 và giảm gần 2% trong năm 1958 trong khi lương thợ tăng hơn 23% trong năm này.



Biểu thị trên đây so sánh chỉ số lương người lao động không có nghề và chỉ số giá tiêu thụ trên tiêu chuẩn của năm 1962. Đường xanh biểu thị cho chỉ số lương thợ, đường đen cho chỉ số giá tiêu thụ. Nếu đường xanh nằm bên dưới đường đen có nghĩa là đời sống của người thợ thấp hơn năm 1962. Năm 1963 đường xanh nằm dưới đường đen, vật gía tăng cao hơn lương, đời sống nguời lao động thấp hơn năm 1962. Điều này có thể giải thích rằng, sự biến loạn trong năm 1963 đã làm vật giá tăng nhảy vọt.

Mỗi ngày người lao động làm được bao nhiêu kí gạo?

Phương pháp so sánh lương người lao động giữa các thời đại tại Việt Nam hữu hiệu nhất là so sánh đồng lương tính ra bằng sản phẩm tiêu dùng hàng ngày như phần trên chúng ta đã so sánh với những năm từ 1956 đến 1974. Để có thể so sánh với năm 2006 cụ thể và đon giản nhất chúng ta là tính ra bằng gạo. Sự so sánh này có tính cách tương đối, bởi vì người lao động và gia đình của họ tiêu thụ những sản phẩm khác ngoài gạo hàng ngày, đồng thời giá cả sản phẩm nông nghiệp giảm mạnh do cải tiến kỹ thuật trong ngành nông nghiệp :

Mặc dù báo chí trong nước cũng như một số các báo chí Tây phương khen ngợi sự phát triển kinh tế gần đây của Việt Nam và mặc dù bỏ qua sự kiện giảm giá của sản phẩm nông nghiệp, nhưng theo bảng tính trên, người lao động Việt Nam có lương cao nhất trong những năm thời Đệ Nhất Cộng Hoà, trước đây nửa thế kỷ, và thấp nhất trong năm 2006 trong thời XHCN.

Lương của người lao động trong năm 2006 tính ra được 5,1 kg gạo một ngày trong khi năm 1960 họ làm được 18,1 kg.

Thế giới mỗi ngày mỗi phát triển, đời sống con người mãi cải thiện, thăng tiến. Tại sao đời sống người dân Việt Nam mãi đi thoái lui?

Nguyễn Hội
01.11.2009
để tưởng niệm cố TT Ngô Đình Diệm

Những câu nói cuối đời của ông Diệm đáng cho mọi người suy ngẫm.

« Tôi là Tổng Tư Lệnh quân đội. Tôi lại ra lệnh cho quân đội đánh quân đội à ? Tôi còn mặt mũi thấy quân đội nữa không ? Có chi thì ngồi giải quyết, chứ quân đội là để chống Cộng, sao lại đem đánh nhau ? »
TT Ngô Đình Diệm mắng ông Cao Xuân Vỹ lúc 16 :30 ngày 1/11/1963

« Bảo Duệ đừng nóng, Lữ đoàn chỉ cần bảo vệ thành Cộng Hoà và Dinh Gia Long, cố gắng tránh đừng để anh em binh sĩ phải đổ máu. Đánh vào Bộ Tổng Tham Mưu sẽ đổ vỡ sự thống nhất quân đội, mất tiềm năng chống cộng. Để Tổng Thống thu xếp với các Tướng lãnh. »
TT Ngô Đình Diệm chỉ thị cho TT Duệ qua Đại Úy Đỗ Thọ ngày 1/11/1963

Chú thích (1)
Xin phép thêm với ông Nguyễn Hội:

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, lương thấp nhất là công nhân vệ sinh đường phố, làm 6 ngày 1 tuần, một tháng lãnh 1.200 đồng.
Lương công chức công nhật thấp nhất 2.100 đồng một tháng. Làm việc 5 ngày rưỡi. ( thứ bẩy làm nửa ngày)
Lương Công nhân vệ sinh thời Đệ Nhất Cộng Hoà mua được 4 tạ gạo
Luơng công chức thấp nhất thời Đệ Nhất Cộng Hoà mua được 7 tạ gạo

Giá gạo thời Đệ nhất cộng hòa 300 đồng 1 tạ. Giá vàng 280 đồng 1 chỉ.

Hiện nay năm 2009 tại Việt Nam cộng sản, lương giáo viên Cấp 2 ( trung học đệ nhất cấp xưa), 2 triệu 2 một tháng. Gạo loại thường 1 triệu đồng 1 tạ. Gạo ngon 1 triệu 8 một tạ. Vàng có ngày lên 2 triệu 4 một chỉ.

Lương giáo viên cấp 2 thời cộng sản hiện nay 2009 mua đuợc 2 tạ gạo loại thường.
Trích Đôi Dòng Nhìn Lại Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm -

6 thg 4, 2011

Các “thượng đế” tại Nhật rất an toàn!

Viết bài này, tôi không hề có ý định nói về cuộc sống của người Việt Nam nói chung tại Nhật. Tôi chỉ nêu nhận xét chủ quan của riêng tôi đối với những điều tai nghe mắt thấy tác động trực tiếp đến cuộc sống của cá nhân và gia đình tôi tại Tokyo. Vì thế nếu các ý kiến của tôi khiến một số quý vị không đồng tình, mong các quý vị bỏ quá.

Trước khi tới xứ sở của hoa anh đào, tôi đã sống 18 năm thời niên thiếu của mình rồi sau này làm việc vài năm tại Việt Nam, 11 năm tại Liên Xô cũ, một thời gian tại châu Âu, và thăm một số trường đại học tại Hoa Kỳ. Cuộc sống ở nhiều nước đã giúp tôi kiểm chứng trong một chừng mực nhất định độ tin cậy của câu ngạn ngữ tôi thường nghe thời còn là sinh viên tại Nga:
Ba năm đi Pháp bằng một giáp đi Nga.
Năm năm ở Tây bằng một giây ở Nhật.


Theo tôi, cái “may mắn” lớn nhất của thần dân xứ Phù Tang có lẽ là nước Nhật đã thua trong Đại chiến thứ Hai. Về mặt tâm lý, thất bại đó khiến người Nhật cảm thấy nhục nhã, và quyết tâm đưa dân tộc mình vươn lên về mọi mặt để “rửa hận”. Thất bại đó cũng khiến dân tộc Nhật trở nên khiêm tốn, nhún nhường hơn trong giao tiếp vì có lẽ họ không có “chiến thắng oanh liệt” nào để họ có thể “vênh váo” với thế giới, và quá khứ thê thảm của Đệ Nhị Thế Chiến không để lại gì để họ có thể trở thành “ăn mày dĩ vãng” [1]. Về chính trị, thất bại đó khiến nước Nhật ngay sau chiến tranh “bị” đặt dưới sự kiểm soát của Hoa Kỳ. Từ đó Nhật bản được Hoa Kỳ giúp đỡ về mọi mặt và trở thành đồng minh chặt chẽ của Hoa Kỳ. Bản Hiến pháp của Nhật sau Đại chiến thứ Hai là do người Mỹ viết năm 1946 [2]. Đó là một bản hiến pháp hết sức dân chủ. Người Nhật, từ ông thủ tướng (và gia đình, họ hàng ông ta) đến cậu học sinh tiểu học, tất cả đều rất tôn trọng pháp luật và thực hiện đúng Hiến pháp. Đó là điều mấu chốt đưa đến những ưu điểm dưới đây.

Cuộc sống ở Nhật rất an toàn

Hồi còn đi học, tôi đọc sách thấy nói mô hình của xã hội giàu có thanh bình là thời vua Nghiêu vua Thuấn bên Tàu, tiền rơi ngoài đường không có ai thèm nhặt. Lúc đó tôi đã tự hỏi không biết bao giờ và ở đâu mới lại có được một xã hội như vậy. Nhật Bản là câu trả lời khẳng định cho tôi. Ở đây nếu đi tàu mà bạn vô tình quên túi (trong đó có thể có tiền, máy ảnh, điện thoại di động v.v…) trên tàu, bạn chỉ cần báo cho nhân viên nhà ga. Sau đó họ sẽ gọi điện nhắn bạn đến nhận vì thông thường là họ sẽ tìm thấy đồ bạn để quên, do không có ai đụng đến nó cả. Một lần chúng tôi đi tàu ra sân bay. Sau khi chúng tôi lên tàu rồi, trong lúc chờ tàu khởi hành, bỗng một nhân viên nhà ga xuất hiện, tay dơ cao một cái túi và nói to đủ để tất cả hành khách đều nghe thấy: “Cái túi này của ai đây?”. Vợ tôi giật mình nhận ra đó chính là túi của mình để quên trên ghế phòng đợi tàu, vội chạy tới nhận, chỉ vài giây trước khi tàu chuyển bánh. Một lần khác, vợ tôi đi chợ và đánh rơi ví. Trong ví có tiền, giấy căn cước, chìa khóa nhà v.v... Hai hôm sau, người gác cửa báo xuống nhận. Người nhặt được ví và mang đến trả tận nơi là một sinh viên. Con trai tôi có lần đi chơi cũng đánh rơi ví trong đó có thẻ học sinh và chìa khoá vào nhà. Mấy hôm sau, những thứ cháu đánh rơi đã được ai đó tìm thấy và gửi đến địa chỉ nhà tôi mà không đề địa chỉ người gửi. Năm 1999 chúng tôi tổ chức một hội thảo quốc tế tại viện nghiên cứu vật lý hóa học Nhật Bản (gọi tắt là viện RIKEN) – nơi tôi làm việc từ 1995 tới nay. Một nhà vật lý Italia đại biểu hội nghị, trong khi đi chơi ở Tokyo, đã đánh rơi hộ chiếu của mình. Anh ta hết sức hốt hoảng vì chỉ sau hai ngày anh ta sẽ phải bay về nước. Chúng tôi nói anh cứ yên trí, gọi điện báo cho Đại sứ quán Italia, rồi ngồi chờ. Quả nhiên ngày hôm sau, Đại sứ quán Italia gọi điện nói có người đã nhặt được hộ chiếu của anh và gửi đến Đại sứ quán, anh chỉ việc đến nhận lại hộ chiếu. Anh ta thốt lên: “Thật là không thể tin được!”. Anh đã lên đường về nước đúng như lịch trình!

Mặc dù đôi khi đọc báo hay xem TV tôi cũng thấy tin nói về các vụ kẻ trộm đột nhập nhà ở, kẻ cướp cướp nhà băng, kẻ cắp móc túi người say rượu trên các chuyến tàu vắng khách về khuya, nhưng tôi chưa hề bị hoặc chứng kiến bất cứ một vụ ăn cắp vặt nào ở nơi công cộng tại Nhật, kể cả trên những chuyến tàu chật cứng người vào giờ đi làm sáng sớm. Mới đến Nhật người ta có thể lấy làm lạ là mọi người ra đường để đồ đạc của mình rất hớ hênh: ví tiền bỏ túi sau không cài, nhô cả ra ngoài, điện thoại di động nhét túi sau với cả một đám dây trang trí như mời gọi kẻ móc túi, vào tiệm ăn thì vứt túi lên ghế rồi bỏ đấy đi nhà vệ sinh, mà không hề sợ là túi sẽ “bốc hơi” lúc mình vắng mặt. Sau khi đã sống ở Nhật một thời gian, người ta hiểu rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra với những “sơ ý” đó, vì xã hội ở đây rất an toàn. Hầu như không có ai động đến sở hữu của người khác. Đi chơi ban đêm mà bị trấn lột là chuyện khó xảy ra ở Tokyo.

Người Nhật không ồn ào, không nói chuyện oang oang hoặc gọi nhau í ới ngoài phố, và tất nhiên là tôn trọng luật đi đường. Nếu họ chẳng may đụng phải nhau, thì cả hai cùng cúi xuống xin lỗi nhau với một thái độ thực sự thành khẩn. Xe cộ rất nhiều nhưng hầu như không nghe thấy tiếng còi xe hơi. Nếu xe hơi hay xe máy quệt phải nhau thi họ cũng từ tốn dàn xếp hoặc chờ cảnh sát tới. Tôi có lần chứng kiến một xe hơi đi từ *** ra đường lớn, chẳng may đụng phải một thanh niên đang phóng xe máy phân khối lớn. May thay anh ta không việc gì, vì nhảy vọt được ra khỏi xe, như trong phim Holywood vậy. Chỉ có xe máy là bẹp. Người lái xe hơi chắc chắn là sai. Ngay cả khi đó, anh thanh niên, trông rất “ngầu”, cũng không hề to tiếng. Cả hai bên để nguyên hiện trường chờ cảnh sát tới giải quyết.

Quan chức hành chính và cảnh sát thực sự là các đầy tớ của nhân dân

Điều 15 trong Hiến pháp của Nhật quy định “tất cả các quan chức và nhân viên hành chính là đầy tớ của toàn thể cộng đồng” [2]. Bộ máy hành chính của Nhật cũng khá cồng kềnh, và mọi việc giấy tờ không phải khi nào cũng nhanh. Tuy nhiên, những quan chức và nhân viên hành chính bao giờ cũng cố gắng giải quyết công việc một cách tốt nhất cho dân, với một thái độ rất lịch sự, niềm nở, kể cả khi “dân” là một cậu bé kém họ hai ba chục tuổi. Nếu không giải quyết được ngay ngày hôm đó, thì họ bao giờ cũng hẹn chính xác ngày có kết quả, và không bao giờ sai hẹn. Họ hiểu rất rõ là họ làm việc để phục vụ nhân dân. Lương của họ là do dân đóng thuế mà có. Bất cứ người dân nào cũng có thể phát đơn kiện nếu họ phục vụ kém, và họ sẽ bị thải hồi ngay. Bất lịch sự, cửa quyền, sai hẹn, chứ chưa nói “ăn hối lộ”, là điều xa lạ đối với hệ thống hành chính cơ sở ở đây. Không bao giờ có hiện tượng nhân viên hành chính lại dám “lên lớp” cho người dân.

Con trai tôi có lần thốt lên: “Công an ở Nhật hiền thật, bố nhỉ!”. Đấy là sau cái lần cháu đi chơi đánh mất chìa khoá xe đạp. Vì lúc đó đã muộn, các hiệu chữa xe đạp đã nghỉ, nên cháu phải bê xe đến đồn cảnh sát gần đấy cầu cứu các chú cảnh sát. Họ phải dùng kìm cộng lực cắt khóa để cháu đạp xe về nhà. Nói chung, tôi chưa gặp trường hợp nào cảnh sát giao thông chặn người xét hỏi vô cớ giữa đường, huống hồ là hành hung người dân. Họ luôn từ tốn, lịch sự chỉ đường kỹ càng khi được hỏi, vì các đồn cảnh sát thông thường là nơi người đi đường vào hỏi đường. Họ có đầy đủ bản đồ chi tiết của khu vực họ. Chuyện cảnh sát tìm cách chặn xe để phạt tiền là chuyện không có ở Nhật. Người lái xe bị phạt nếu họ thật sự phạm luật, gây tai nạn, v.v. Cảnh sát Nhật không được phép dùng vũ khí nóng (như súng) để uy hiếp dân chúng. Trong những cuộc dẹp rối loạn trật tự công cộng, họ chỉ được dùng quá lắm là gậy bằng gỗ.

Khách hàng thực sự là vua

Ở Nhật người bán hàng hết sức lễ phép và thực sự chiều chuộng khách hàng, cho dù khách hàng chỉ xem, không mua gì, hoặc giá trị của thứ mua chỉ vài trăm yên (vài USD). Không bao giờ người bán hàng nhận xét, bình phẩm về sự lựa chọn của khách hàng. Sau khi khách hàng mua, trả tiền xong, họ đều gói ghém hết sức cẩn thận trước khi trao hàng cho khách, sau đó chắp hai tay trước bụng cúi chào cung kính, mắt nhìn xuống. Nếu những người bán hàng đó đi mua hàng (đi siêu thị chẳng hạn), họ cũng là khách hàng như bạn và cũng được những người bán hàng khác phục vụ tử tế như vậy.

Ít lâu sau khi tôi vừa đến Nhật, một lần tôi ghé hiệu Yamano Music - một hiệu bán nhạc cụ nổi tiếng ở khu Ginza – Tokyo. Tại hiệu này có bán các đàn đại dương cầm Yamaha, Steinway, Bersnstein giá hàng trăm ngàn US dollars. Nhưng thứ mà tôi mua chỉ là một miếng dạ đỏ để phủ phím đàn piano. Giá miếng dạ đó là 600 yen (khoảng 6 USD). Tôi gọi người bán hàng. Ông ta dạ ran chạy đến. Tôi lại không có tiền lẻ, nên tôi đưa ông ta 10,000 yen (khoảng 100 USD). Ông ta cúi người, hai tay đỡ lấy tờ tiền, nói: “Xin quý khách đợi cho một lát”, sau đó chạy nhanh vào phía trong. Một khoảnh khắc sau, ông ta quay lại, hai tay cầm một cái đĩa sứ nhỏ trên để miếng dạ đã được gói cẩn thận, hoá đơn thanh toán, tiền thừa. Rồi ông ta lại cung kính cúi mình hai tay nâng cái đĩa lên ngang mặt để tôi dễ lấy. Sau đó, ông ta lại cúi rạp xuống một lần nữa, miệng nói to: “Xin cảm tạ quý khách!”

Rất ấn tượng về điều này, tôi kể chuyện đó với một giáo sư Nhật. Ông ta nói: “Đấy là tiêu chuẩn phục vụ thông thường ở đây, nhất là tại các cửa hàng nổi tiếng như Yamano Music. Anh trả tiền và anh có quyền được hưởng sự phục vụ tốt nhất”. Sau này tôi thấy đó là trình độ phục vụ rất chuyên nghiệp của xã hội Nhật Bản, vượt xa tất cả các nước khác mà tôi đã đến (là Việt Nam quê hương tôi, Trung Hoa, Nga Xô, Ấn độ, Pháp, Đức, Hà Lan, Italia, Hy Lạp, Tây Ban Nha, và Hoa Kỳ).

Miếng dạ là thứ nhỏ. Bây giờ tôi kể đến thứ to hơn một chút. Cách đây vài năm tôi mua một cái đàn đại dương cầm (grand piano) ghép kỹ thuật số gọi là GranTouch của hãng Yamaha, giá ngót nghét 6,000 USD (kể cả ghế ngồi). Sau khi đàn được vận chuyển đến nhà, tôi chơi vài hôm và phát hiện ra một trục trặc nhỏ là khi chơi một hợp âm nhiều nốt, độ vang của một hai nốt thỉnh thoảng bị cắt sớm hơn các nốt khác. Tôi gọi điện phàn nàn với cửa hàng. Sau vài hôm, hãng Yamaha cử chuyên gia tới nhà tôi dùng máy để kiểm tra, vì hiện tượng này rất khó phát hiện, và không phải lúc nào cũng xảy ra. Sau khi xác nhận là có trục trặc thật, họ vận chuyển một cái đàn khác, cũng mới tinh đến, để cạnh cái đàn kia để tôi chơi cả hai để so sánh. Sau một hồi đắn đo, tôi đã chọn cái đàn họ mới mang đến. Họ lại vui vẻ đem cái đàn kia đi. Mỗi lần vận chuyển như vậy xe cần trục phải trục cả cái đàn to tướng lơ lửng qua bao-lơn nhà (balcony). Một tốp gồm ba người đàn ông lực lưỡng, và một chuyên gia kỹ thuật cùng làm việc. Tôi không phải trả thêm bất cứ một yen nào. Thấy họ lao động vất vả, tôi mời họ uống nước giải khát. Họ lễ phép từ chối với lý do là họ đang làm công vụ.

Vợ tôi luôn cảm kích mỗi khi nhớ lại lần phải nằm bệnh viện nhà nuớc (công) ở Nhật. Tất cả mọi người - từ bác sĩ, y tá, hộ lý, đến nhân viên phục vụ, quét dọn - đều rất lịch sự, dịu dàng, quan tâm chăm sóc như thể cả bệnh viện chỉ có mỗi một mình vợ tôi là bệnh nhân vậy, khiến vợ tôi nói: “Mình thật sự cảm thấy mình là một con người với ý nghĩa đầy đủ của nó.” Máy móc ở bệnh viện đều rất tối tân. Phần lớn các bác sĩ nói được tiếng Anh. Một số bác sĩ trẻ nói tiếng Anh giỏi. Mấy người bạn Việt Nam khác ở đây, từng vào bệnh viện Nhật, cũng đồng ý với chúng tôi như vậy. Đến khi vợ tôi kể chuyện này với một người bạn Nhật, bà này chẳng tỏ vẻ gì là ngạc nhiên cả. Bà ta cho điều đó là tất nhiên. Bà ta bảo: “Người bệnh là người ốm yếu, đầy lo lắng ưu tư, nên bác sĩ, y tá phải có nhiệm vụ làm dịu đi sự băn khoăn đó”. Nghe nói bệnh viện tư nhân phục vụ còn tốt hơn thế

Thay cho lời kết: Chuyện phục vụ tốt trên mặt đất ở Nhật kể không hết. Phục vụ trên trời cũng “siêu” không kém. Ai đã bay Japan Air Lines (JAL) có thể dễ dàng nhận thấy điều đó. Các cô chiêu đãi viên của Nhật bao giờ cũng hết sức nhã nhặn, lịch sự, nói như rót mật vào tai. Có lần tôi đang ngồi trên một chuyến bay của JAL từ Tokyo sang châu Âu, thì... một con muỗi từ đâu đó xuất hiện vo ve trước mặt tôi. Tôi đành vỗ hai bàn tay... đập chết con muỗi. Ngay lúc đó một cô chiêu đãi viên xinh đẹp tình cờ đi ngang qua nhìn thấy. Cô ta lập tức cúi xuống, miệng mỉm cười, bàn tay trắng muốt xòe ra để... đỡ lấy cái xác con muỗi đem vứt đi... :) Đúng là người Nhật !

Tokyo, tháng 8 - 2004
Nguoivienxu NGUYỄN ĐÌNH ĐĂNG

5 thg 4, 2011

Nhìn lại: Quân lực Việt Nam Cộng Hoà


Bài của nhà nghiên cứu về Việt Nam Bill Laurie (II)

Sau cùng, cần phải nhìn nhận rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã bị đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: đó là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi hịêp định Paris gian lận được ký kết và bị vi phạm lập tức. Cuối tháng 11 năm 1973 một lực lượng đặc nhiệm Việt Nam Cộng Hoà đã đánh đuổi sư đoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ Thất Sơn, gây tổn thất nặng tới nỗi sư đoàn 1 này của Bắc Việt phải giải thể, số quân sống sót phải gia nhập các đơn vị khác. Ít tháng sau sư đoàn 7 Việt Nam Cộng Hoà tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn vị Bắc Việt khỏi mặt khu Tri Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Định Tường - Kiến tường - Kiến Phong, gây tổn thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ bị xâm phạm trong suôt cuộc chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí phòng thủ kiên cố; cuộc thất trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền cộng sản cảnh cáo các cấp là phải dấu sự thất bại đừng để bộ đội của họ biết, sợ bộ đội xuống tinh thần. Các phái đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy ban liên hiệp quân sự bốn bên bất lực, chỉ là gián điệp cho cộng sản Hà Nội. Nhưng một trong những báo cáo của họ năm 1973 xác định là không có đơn vị Việt cộng nào ngang sức với Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và cả những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được với các đon vị Nhảy Dù và Thuỷ quân Lục chiến của Việt Nam Cộng Hoà.

***
Tuy nhiên đến giữa 1974 thì việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ siết cổ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và đạo quân này chỉ còn nước xuống dốc dần dần từ khi ấy. Đến 1975 cấp số cung ứng có sẵn (Available Supply Rate- ASR) dành cho đạn đại bác đã giảm nhanh tới mức không thể chấp nhận, như theo bảng dưới đây, cho mỗi khẩu đội bắn trong một ngày : năm 1972 năm 1975 tỉ lệ giảm Đạn 105 ly 180 viên 10 viên 94% Đạn 155 ly 150 viên 5 viên 97% Đạn 175 ly 30 viên 3 viên 90% Mọi thứ bị cắt đến tận xương, rồi tận tuỷ. Nhìêu binh sĩ bộ binh được cấp số đạn căn bản là 60 viên M-16 cho một TUẦN LỄ. Nhiều đơn vị cấm binh sĩ bắn M-16 liên thanh, chỉ được bắn phát một. Các đơn vị chạm địch có khi bị giới hạn chỉ còn được bắn yểm trợ hai trái đạn đại bác, ngoại trừ khi bị tràn ngập. Thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, tàu giang tuần, máy bay... nằm ụ chờ rỉ sét (“cho mối mọt ăn”). Tệ hơn nữa, binh sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và gia đình họ phải chịu thiếu thốn khi nền kinh tế bị lạm phát 50%, và 25% thất nghiệp. Một bản nghiên cứu của cơ quan D.A.O thực hiện năm 1974 tiết lộ 82% binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia đình. Đói kém và suy dinh dưỡng làm xuống tinh thần cùng khả năng chiến đấu. Tình hình những tháng sau đó càng xuống dốc, và người ta đau lòng chứng kiến một cái chết chắc chắn sẽ đến vì hàng ngàn vết thương. Một năm sau, khi chính phủ Việt Nam cuối cùng sụp đổ, và, theo như những sách gọi là sách sử, thì nhiều người Mỹ ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mọi thứ có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Lẽ ra câu hỏi đáng chú ý hơn phải là tại sao Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã có thể chiến đấu dài lâu sau thời gian giữa năm 1974, với sự thiếu thốn về vũ khí, trang bị, đạn dược, nhiên liệu, thuốc men, với những cái bụng lép kẹp, và gia đình cũng đói khát không kém ?. Khi bắt đầu sự đổ vỡ tan hoang, và đám đông hỗn độn theo lệnh ông Thiệu rút khỏi vùng cao nguyên, thì khủng hoảng và kinh hoàng xảy đến, phần nào tăng thêm vì những lệnh lạc trái ngược phát xuất từ dinh Tổng Thống. Nhưng trong sự sụp đổ nhục nhã sau cùng, vẫn có không ít những trận “Alamo” nhỏ của những người lính Việt Nam Cộng Hoà chiến đấu đến phút cuối.

Sư đoàn 18 đứng vững ở Xuân Lộc là một trận anh hùng ca, nhưng sự có mặt và vai trò của của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù trong trận này không hề được biết đến. Khi quân khu II đổ vỡ và kết cuộc đã gần, sư đoàn 7 Việt Nam Cộng Hoà vẫn đánh bại một nỗ lực của quân Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 14, con đường quốc lộ duy nhất nối vùng châu thổ Cửu Long vói Sài Gòn. Vào ngày cuối, gọi là “ ngày quốc hận ” ( tác giả viết bằng tiếng Việt ), một máy bay AC-119 trang bị liên thanh sáu nòng do các trung uý Thanh và Trần Văn Hiền (hay Thành, Hiển?) còn bay quanh Sài Gòn yểm trợ hoả lực cho những đơn vị Việt Nam Cộng Hoà lâm chiến sau cùng. Hết xăng, hết đạn, họ đáp xuống đổ xăng và lấy thêm đạn, sĩ quan hành quân biểu họ không cần cất cánh nữa, tất cả đã mất hết rồi. Nhưng các trung uý Thanh và Hiền vẫn vững chí, nhận nhiên liệu và đạn dược, và được hai chiếc A1H-Skyraider tháp tùng do thiếu tá Trương Phụng và đại uý Phúc lái, họ tiếp tục lại một trận chiến tuyệt vọng. Sau cùng chỉ còn đại uý Phúc sống sót, oanh kích đến khi hềt đạn. Hai trung uý Thanh, Hiền và thiếu tá Trương Phùng đều bị SA-7 bắn rơi, tử trận. Họ đã chiến đấu đến mãi tận giây phút cuối cùng !

Một cách tổng quát, cứ bị đói như Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã bị thì không một quân đội nào có thể chống lại cuộc tấn công cuồng bạo của quân đội Bắc Việt, vói thừa ứ những khẩu pháo, xe tăng, vũ khí, nhiên liệu, xe tải quân, đạn dược, do khối cộng sản cung cấp. Truớc một đạo quân Việt Nam Cộng Hoà bị rút ruột vì cắt vịện trợ như vậy, quân đội Bắc Việt đã phải tung ra tất cả những gì họ có. Chừng 400.000 quân cộng sản, gần 90% là bộ đội miền Bắc, được đưa ra trận để đánh bại Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà . Hà Nội chưa bao giờ từng tung ra một lực lượng khổng lồ và hiện đại như họ đã ném vào trận chiến năm 1975. Hà Nội chưa từng rút ra tất cả các đơn vị từ Lào, Cambodia . Về lượng, quân số 400.000 là gần gấp Năm số quân Việt cộng và Bắc Việt lâm chiến hồi tết 1968, trong khi về phẩm, còn có hằng trăm đại bác tầm xa, hằng trăm xe tăng, hằng ngàn xe tải, và nguyên một kho vũ khí hiện đại, Đoàn quân viễn chinh năm 1975 có hơn gấp năm lần khả năng chiến đấu của lực lượng cộng sản hồi tết Mậu thân 1968.

Xem xét sự việc từ một khía cạnh khác, có thể phán đoán mà không sợ sai lầm rằng giả sử quân đội Bắc Việt bị yếu đi vì cắt giảm mức cung ứng như Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã gánh chịu, thì họ không bao giờ có thể tung ra một cuộc tổng công kích sau cùng, mà hẳn đã yếu kém hơn thế nhiều. Ưu thế hoả lực quyết định chiến trường, chẳng phải là điều gì mới lạ trong lịch sử quân sự. Vào lúc cuối, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chịu sự tổn thất khoảng 275.000 tử trận, không kể con số bị ám sát, trong một quốc gia mà dân số trung bình khoảng 17 trịêu. Nước Mỹ với dân số 200 trịêu , nếu chịu tổn thất với tỉ lệ tương đương trong cùng khoảng thời gian ấy, con số tử vong sẽ là 3 triệu 200.000, cần dựng thêm 56 bức tường đá đen nữa mới đủ ghi tên tử sĩ. Điều này không lọt qua mắt của một số nhà quan sát. Sir Robert Thompson, tuy biết rõ những nhược điểm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cũng kết luận :

“ Quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng Hoà vượt qua những cuộc khủng hỏang quốc gia và cá nhân mà có thể đã nghiền nát hầu hết mọi người, và mặc dù mức tổn thất có thể gây kinh ngạc và làm sụp đổ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà vẫn duy trì được một trịêu quân dưới cờ sau hơn 10 năm chiến tranh. Vương quốc Anh cũng làm được như thế, theo tỉ lệ tương đương, trong năm 1917, sau ba năm chiến tranh, nhưng không bao giờ làm được nữa. Hoa Kỳ chưa bao giờ làm được điều này ” ( được nhấn mạnh và thêm vào ).

Ký giả Peter Kann, sáng suốt hơn rất nhiều so vói những đồng nghiệp, cũng nhập cuộc, sau khi Sài Gòn thất thủ:

“ Nam Việt Nam quả đã phấn đấu để kháng chiến trong nhiều năm ròng rã, không phải lúc nào cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ dồi dào. Ít có quốc gia hay xã hội nào mà tôi cho là có thể chíên đấu được lâu dài đến thế ”

***
Kế hoạch Việt Nam hoá có hiệu quả không ? Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có trưởng thành nên một lực lượng chiến đấu có khả năng ? Có thể biện luận rằng kế hoạch Việt Nam Hoá có hiệu quả, nhưng lại bị moi ruột vì cắt giảm viện trợ chí tử. Năm 1974 có cuộc thăm dò các tướng lãnh Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam, nhằm tìm hiểu chương trình Việt Nam hoá thành công tới mức nào. Các câu hỏi và trả lời như sau:


1. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà là lực lượng chiến đấu rất đáng chấp nhận ? : 8% đồng ý .

2. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà xứng đáng và cơ may hơn 50% đứng vững trong tương lai : 57% đồng ý .

3. Có nghi ngờ khả năng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có thể đẩy lui một cuộc tấn công mạnh của lực lượng Việt cộng - Bắc Việt trong tương laỉ : 25% nghi ngờ .

4. Ý kiến khác và không ý kiến : 10% .

Như vậy 65% các tứong lãnh chỉ huy của Hoa Kỳ dành cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tỉ lệ phiếu thuận, tuy nhiên những câu trả lời này có thể đã mang khuynh hướng lệch theo chiều xuống. Không biết bao nhiêu vị tướng phục vụ trong khoảng 1966-1967, trước khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà thực hiện những đổi thay to lớn nhất. Chức vụ mà các sĩ quan này đảm trách là gì, họ làm việc với ai, và họ quen thuộc với quân đội Việt Nam Cộng Hoà ở mức độ nào, sự tăng tiến hiệu năng của lực lượng Địa phương quân, Nghĩa quân vân vân... cũng không được tiết lộ. Câu hỏi cũng không hỏi : ” Nếu quân đội Mỹ cũng bị cắt giảm cung ứng như Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vào năm 1974-1975 thì còn đứng vững được bao lâu ”

Điều có thể nói chắc chắn, là Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà từ 1968 trở đi đã hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp hơn nhiều so với những gì được biết đến một cách chung chung, rằng các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã thi triển tài năng để có thể đứng vững và đánh bại quân xâm luợc Bắc Việt trong năm 1972, thuờng là không cần tới sự yểm trợ hoả lực ồ ạt của pháo binh và không quân chiến thuật, như trong trường hợp của Nghĩa quân và Địa phương quân. Điều có thể nói chắc chắn nữa là sự hiểu biết của người Mỹ về việc này thấp kém đến kinh tởm, thấp tít mù xa như vực thẳm không đáy.

Một yếu tố rất quan trọng nữa mà nhiều nhà bình luận bỏ qua và tới nay vẫn không biết gì hơn, là thế hệ các sĩ quan, hạ sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trẻ trung hơn, hềt lòng hết dạ vì mục tiêu một nước Việt Nam không cộng sản. Họ cởi mở, ngay thật, biết lẽ phải, trong sạch, biết nhìn nhận phải trái, ví dụ như họ cho là người Thượng không nên được đối xử thấp kém hơn, rằng tham nhũng cần bị công kích, rằng một quốc gia Việt Nam mới cần được tạo thành, bung ra khỏi mọi xích xiềng quá khứ. Nhiều người trong số này có thể có vị trí tốt để tránh quân dịch hay giữ một chỗ an toàn, không ra trận; nhưng họ không cần cả hai thứ đó, đã có mặt trong hàng ngũ phục vụ tại những vị trí chiến đấu đầy nguy hiểm, với tư cách những người tình nguyện. Thái độ của họ được một sĩ quan trẻ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bày tỏ :

“ Những người ở cỡ tuổi tôi vào quân đội vì chúng tôi có một lý tưởng, chúng tôi hiểu được cuộc sống trong một thế giới tự do ra sao, và sống trong thế giới cộng sản ra sao. Không phải như người ta nói, rằng những ai vào quân đội thì chỉ vì đến tuổi lính và không có lý tuởng gì riêng cho mình. Nhưng người Mỹ không bao giờ có vẻ hiểu ra điều đó ”

Trần Quốc Bửu là chủ tịch Liên Đoàn Lao công Nam Việt Nam, tương đương với AFL - CIO của Hoa Kỳ. Ông có ảnh huởng và có thể xếp đặt cho con trai ông tìm một chỗ an toàn, an toàn hơn nhiều so với vị trí của anh này là một sĩ quan bộ binh Việt Nam Cộng Hoà. Trong những tuần lễ sau cuối của Việt Nam Cộng Hoà, lúc bị Bắc Việt dập pháo tơi bời, tuyệt vọng trong cảnh thiếu đạn, con ông Bửu viết cho ông một lá thư :

“ Ba phải giải thích cho người Mỹ hiểu sự nghiêm trọng của tình hình chúng ta... Họ phải cung cấp vịên trợ quân sự và kỹ thuật như họ đã hứa. Con xin ba, ba à, hãy can thiệp với họ. Nếu không, chúng ta sẽ bị đè bẹp và thất trận. Tụi con không hèn nhát. Tụi con không sợ chết... Trong mọi tình húông, con sẽ giữ vững vị trí và không rút lui ”

Con ông Bửu hy sinh tại chiến trường.

Bác sĩ Phan Quang Đán là quốc vụ khanh về định cư và tị nạn, một cựu đối lập với ông Ngô Đình Diệm, nổi tíêng nhờ trong sạch. Ông có đủ quyền lực và ảnh hưởng để giữ con trai là Phan Quang Tuấn khỏi bị nguy hiểm. Cả hai cha con đều không chọn điều đó, và Tuấn tình nguyện lái A-1E Skyraider, chỉ dùng để yểm trợ chiến thuật gần cho các dơn vị dưới đất. Sau khi tiêu diệt 7 xe tăng quân Bắc Việt tại khu vực ngưng chiến, trong trận tấn công 1972 của Hà Nội, đại úy Tuấn bị hoả lực phòng không địch bắn rơi, tử trận. Những cá nhân ấy không phải là duy nhất. Người viềt bài này hằng ngày gặp những phi công trực thăng võ trang trẻ tuổi, những sĩ quan trẻ trong Biệt động quân, Thuỷ quân lục chiến, Nhảy dù, tất cả đều tình nguyện lãnh nhiệm vụ tác chiến nguy hiểm, bị “luỡng đầu thọ địch”, với hệ tư tưởng về một nước Việt Nam cộng sản, và với nạn tham nhũng trở thành thông lệ hằng ngày ở Sài Gòn. Một trong những tấm gương gây xúc động hơn nữa về lòng tận tuỵ với chính nghĩa quốc gia, là cảnh các sinh viên sĩ quan truờng Võ Bị quốc gia Đà Lạt chuẩn bị cho trận đánh sau cùng của họ, mà ký giả Pháp Raoul Coutard chứng kiến, vào lúc họ tiến ra để chặn các đơn vị quân đội Bắc Việt đang tiến tới:


- Anh sắp bị giết đó !

- Vâng. Một sinh viên sĩ quan trả lời .

- Sao vậy ? . Đã kết thúc rồi mà !

- " Tại vì chúng tôi không ưa cộng sản ” .Và, lòng đầy can đảm, những sinh viên trẻ tuổi trong bộ quân phục mới toanh, tuyệt đẹp, giày bóng loáng, tiến ra để chờ chết ”


Trường Thiếu Sinh quân ở Vũng Tàu, là trường nội trú, trong học trình có dạy quân sự cho các thiếu niên Việt Nam có cha tử trận. Khi đến lúc cuối, những em trai 12-13 tuổi đuổi các em thiếu sinh quân nhỏ hơn về nhà, lập chướng ngại vật bảo vệ trường và đối đầu với các đơn vị quân Bắc Việt:

“ Họ tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả mọi người khác đã đầu hàng !... Nhiều người trong số họ bị giết. Và khi quân cộng sản tiến vào, các thiều sinh quân đánh trả. Cộng sản không vào được ngôi trường ngay lúc đó ”. Những con người tương tự (lúc đó) đang gia tăng trong mọi cấp bực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và nhu cầu cấp bách của tình hình buộc sự thăng thưởng phải dựa trên khả năng, không dựa trên quan hệ chính trị hay quan hệ gia đình.

Giới truyền thông Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam, thua bại hoàn toàn và thê thảm hơn nhiều so với các lực lượng quân sự của Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ và các đồng minh. Họ thường lên án bằng những lối can thiệp đầy tự phụ và tự mãn. Một cuộc thăm dò 9,604 chương trình truyền hình của NBC , CBS và ABC từ 1963 đến 1977 cho thấy rõ những sự thiều sót của những cái gọi là bài tường thuật truyền hình. 0,7% chưong trình nói về việc huấn luyện Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà .

0,8% về bình định. 2,7% về chính quyền hay quân lực Việt Nam Cộng Hoà hay Cambodia . Tổng cộng chỉ có 392 chương trình, tức 2,7% toàn bộ các chương trình tin tức truyền hình Mỹ, tường trình về Việt Nam . Không có một lời nào về hơn 200.000 hồi chánh viên, không một lời về Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà thiện chiến. Không có gì về những phi công Ong Chúa lừng danh của trực thăng Việt Nam cứu mạng cho những toán lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ chạm địch dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Hầu hết người Mỹ, nếu không phải là tất cả, đều nhớ hình ảnh bi hùng của một người Trung Hoa đứng trước đoàn xe tăng ở quảng trường Thiên An Môn, nhưng không ai biết trung sĩ thuỷ quân lục chiến Việt Nam Huỳnh Văn Lượm đứng trên cầu Đông Hà chặn đứng đoàn xe tăng Bắc Việt, tác xạ bằng khẩu súng chống tăng LAW của anh :

“ Cảnh tượng anh lính Thuỷ Quân Lục Chiến nặng có 95 cân Anh trụ ngay trên đường tiến của 40 xe tăng không có ý nào muốn dừng lại, trên một khía cạnh thì là dại dột một cách khó tin. Trên khía cạnh khác, quan trọng hơn, hình ảnh này mang đầy niềm phấn khích đối với một lực lượng phòng thủ mỏng manh đến thê thảm, và với nhiều người tỵ nạn, ít ai trong số đó từng chứng kiến một hành động thách đố dũng cảm đến thế... Sự anh dũng lạ thường của người lính thuỷ quân lục chiến Nam Việt Nam này đã khiến đợt tấn công bằng xe tăng, tới lúc đó chừng như chắc chắn phải thắng lợi, đã bị mất đà tấn kích ”

Trong một khoảnh khắc mà giới truyền thông mang tật cận thị lên tiếng, thì phóng viên Donald Kirk tuyệt đối không tỏ ra sự quan tâm nào khi đến thăm sư đoàn 7 bộ binh Việt Nam Cộng Hoà, nơi đã trở nên một đơn vị có hiệu năng cao tuyệt dưới tài lãnh đạo của tướng Nguyễn Khoa Nam . Quân nhân trong sư đoàn nhận thức rõ giá trị những nông trại của sư đoàn do tướng Nam thiết lập để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho binh sĩ của sư đoàn 7. Nhưng khi Kirk và các phóng viên khác bị giữ lại ở một điểm chắn đường của quân đội Bắc Việt rồi được thả ra sau đó, thì Kirk lại thất vọng vì anh ta không có cơ hội để nói chuyện với bộ đội Bắc Việt :

“ Tôi cứ nghĩ mãi về việc trông họ như vừa bước ra khỏi cuốn phim. ... Họ có vẻ là những tay chính quy, vậy đó. Tôi chỉ mong sao chúng tôi đã có thể ở lại thêm và nói chuyện với họ lâu hơn ”. Ông Kirk có thể yên tâm rằng quân sĩ sư đoàn 7 đều là “những tay chính quy ”, rất đáng để nói chuyện, và học hỏi nơi họ. Anh chàng này, cũng như đông đảo trong giới truyền thông làm tin tức, đã không để ý gì đến việc đó, cho nên không có gì kỳ bí về nguyên nhân vì sao hầu hết những người Mỹ từng phục vụ tại Đông Nam Á đều nhìn cái giới truyền thông tin tức này với sự khinh miệt gay gắt .

Phải chi giới này chịu khó quan hệ với quân dân Việt Nam mà họ gặp gỡ, như tôi đã làm nhiều lần, thì đám ký giả hẳn đã biết trong mắt những người Việt ấy chủ nghĩa cộng sản của Hà Nội là điều đáng khinh bỉ và kinh tởm, như một loại phản bội văn hoá và truyền thống Việt Nam. Không phải những người Việt này chiến đấu và hy sinh để bảo vệ “chế độ tham nhũng của Thiệu”, mà là để gìn giữ một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân, cho con cái, và cho đất nước của họ. Một thuỷ quân lục chiến Việt Nam diễn giải và lột tả chân xác nhất về điều này, khi anh ta nói với tôi rằng sau khi quân đội Việt Nam Cộng Hoà giải quyết xong với quân đội miền Bắc, họ sẽ quay súng lại chống đám tham nhũng ở Sài Gòn. Những sự kiện thảm thiết bi thương sau năm 1975 đã chứng thực tính thuận lý và giá trị của điều quyết tâm ấy.

***

Giới truyền thông giải trí và giới giáo dục ở Hoa Kỳ cũng chẳng khá gì hơn, mà còn mãn nguyện khi lặp lại, nếu không phải là thêm mắm thêm muối vào cái chuyện thần thoại do truyền thông dựng lên. Một cuốn sách sử trung học được sử dụng rộng rãi ở Mỹ có chương sử về Việt Nam không hề nói đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà , chỉ viết rằng : ” Việt Nam hoá thất bại ”, ngoài ra còn gom góp hơn 200 điều khẳng định có thể được chứng minh là sai trái và mang hoàn toàn tính chất dẫn dắt lạc hướng, trong 13 trang bài học. Có nói đến vụ tấn công sang Cambodia, nhưng không nói gì về việc quân Việt Nam Cộng Hoà tham dự đông đảo hơn lực lượng Hoa Kỳ, 29 ngàn quân so với 19,300 quân Mỹ tham chiến. Sách cũng không nói lên rằng trước khi chính thức mở chiến dịch, quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã tấn công trước vào các vị trí phòng thủ của quân đội Bắc Việt ở Cambodia . Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã hoàn toàn vô hình, như một đề tài sẽ được trình bày nơi đây (trong cuộc hội thảo).

Phim ảnh và truyền hình lại càng tệ hơn, mặc dù có được một số phim tài lịêu lịch sử. Cả cuốn phim “Bat 21”, nhằm miêu tả cuộc tìm cứu trung tá Iceal Hambleton năm 1972, không thể hiểu được tại sao đã loại hẳn sự kiện là một chiến sĩ Người Nhái Việt Nam, Nguyễn Văn Kiệt, người cùng thi hành công tác tìm cứu đó với người nhái Hoa Kỳ Tom Norris, được tặng thưởng huy chương US Navy Cross do sự dũng cảm và anh hùng của Kiệt. Làm sao công chúng có thể trông mong được biết bất kỳ điều gì khi mà chề độ “kiểm duyệt” trên thực tế đã bôi xoá tất cả và từng dấu vết của sự hoạt động gương mẫu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà ?

***

Sau cùng, cần phải nhìn nhận rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã bị đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: đó là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ.

Một hội nghị chuyên đề toàn diện nên được tổ chức về đề tài này, và cần phải có hội nghị đó. Những chiến luợc giả hiệu phát xuất từ Washington, về bản chất, phải bị coi là cẩu thả mang tính cách tội ác. Không một hành động nào được tung ra để chặn và giữ đường mòn Hồ Chí Minh. Không có con đường này thì cuộc chiến tranh của Hà Nội đã không thể nào tiến hành được. Không một việc gì được thi hành để giao chiến với chiến tranh thông tin tuyên truyền-phản tuyên truyền dưới hình thức gọi là địch vận, một trong những chiến lược quan trọng của Hà Nội, được thi hành với những sự lừa gạt quỷ quyệt xuất chúng. Không làm một việc gì mãi đến khi cơ quan C.O.R.D.S được thành lập để ra kế hoạch và phối hợp những hoạt động quân sự và bình định về mặt tình báo. Không làm một việc gì để khai triển một liên minh rộng lớn như một chiến trường chung của người Việt, người Lào, người Cambodia và Thái lan, chống lại kẻ thù chung, trong khi Hà Nội đã làm y như vậy: thiết lập một cấu trúc chỉ huy chiến trường Đông Dương nhằm kết hợp mọi yếu tố vào một chiến lược gắn bó cho toàn khu vực. Lý cớ về lãnh đạo của Hoa Kỳ là mù loà , lần mò vụng dại như con heo trên tảng băng, như một con cóc vàng, rất giàu có nhưng cũng rất ngu độn. ( những chữ in đậm là những chữ tác giả viết bằng tiếng Việt ) .Những kế hoạch, những đề nghị đi ngược giòng lịch sử khó có thể được chứng minh hoàn toàn chăc chắn, và có thể chiến tranh ( Việt Nam đã qua ) là một cuộc chiến không thể nào thắng được.

Có thể như vậy. Tuy nhiên những người Mỹ, người Úc đã phục vụ sát cánh những chiến hữu của họ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, “ những chiến hữu, bạn bè, giống như anh em ruột ” ( viết tiếng Việt trong nguyên bản ) mang trong lòng họ nỗi buồn sâu xa vì đã thua cuộc, hay đã mất biết bao bạn bè tận tuỵ, mất cả niềm vinh dự lớn lao cho việc đã cố gắng đạt cho kỳ được một thế giới tốt đẹp hơn cho những người dân thường của Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan. Họ không bị thúc đẩy vì những quan niệm tinh vi về địa lý chính trị thế giới, nhưng đúng hơn, là do sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với nhiều người Đông Nam Á đã biềt yêu quý xứ sở, những con người đã “ thề bảo vệ giang sơn quê hương ”.

Nhiều trang lịch sử còn chưa được lật ra, phản ảnh sự tiếp nối cái khuynh hướng của Hoa Kỳ chỉ toàn nhìn qua con mắt người Mỹ, bị lọc qua định kiến của người Mỹ. Một số sách vở nói đến Việt Nam như một “giai đoạn thử thách đầy khổ đau của Hoa Kỳ,” mà chưa từng một lần hỏi xem người Đông Nam Á đã trải qua loại thử thách khổ đau nào. Đầy rẫy những dữ kiện lịch sử quý giá và những nét quan sát sắc sảo nằm trong những cuốn sách được viết do người Việt Nam (và cả người Lào) Thiếu những sách đó, không thể nào có được sự hiểu biết toàn diện. Những tác phẩm của Lý Tòng Bá, Hà Mai Việt, Phạm Huấn, Phan Nhật Nam, Trần Văn Nhựt, và nhiều người khác, đang kêu gào đòi được dịch thuật, cũng như hằng chục bài phổ biến hằng năm trên sách báo tạp chí quân sự và các ấn bản khác. Nhiều bài trong đó mô tả những trận đánh, những diễn tiến và những nhân cách, không hề được các sử gia Hoa Kỳ biết đến. Không tham khảo những nguồn đó thì chắc chắn là chiến tranh Việt Nam, cũng là chiến tranh Đông Dương của Hà Nội, sẽ mãi là những bí ẩn không thể giải đoán, và lịch sử chân thực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà sẽ mãi bị chôn vùi dưới tầng lớp này qua tầng lớp nọ của những chuyện hoang đường, của sự không thông hiểu, và của sự giả định vô căn cứ.


Bill Laurie - March 18, 2006.
Nguyễn Tiến Việt dịch thuật

12 THÁNG ANH ĐI