29 thg 11, 2012

Hồn ma trên đất thần kinh

Phạm Thành Châu

Cuối năm 1972, tốt nghiệp ngạch đốc sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, hắn được bổ về làm phó quận hành chánh quận Phong Điền tỉnh Thừa Thiên. Thời đó, chiến sự vùng hỏa tuyến rất sôi động, nhưng chỉ trên dãy Trường Sơn, các quận dưới đồng bằng đều yên tĩnh, nhưng là sự yên tĩnh đáng ngờ. Từ Trường Sơn xuống đồng bằng, Việt cộng chỉ đi mấy tiếng đồng hồ là đến nơi.

Quận Phong Điền cách thành phố Huế độ ba mươi cây số. Từ Huế đón xe đò Huế - Phong Điền, theo quốc lộ Một ra hướng bắc, khoảng ba mươi cây số là đến Phong Điền. Ngày đầu tiên đi nhận nhiệm sở, hắn lên xe đò từ sáng sớm, đến trưa mới đến nơi.

Xe đò là những xe quân đội (thường là xe "Đốt Cách" Dodge 4x4) từ thời đệ nhị thế chiến phế thải ra. Xe chạy hết bốn tiếng đồng hồ trên quãng đường chưa đến ba mươi cây số. Xe chạy rất chậm lại còn ngừng dọc đường đón khách, đa số là những người buôn bán.

Họ đem nông sản về Huế bán rồi mua hàng hóa về các chợ thôn quê. Hắn ngồi ghế trước, cạnh tài xế để tiện hỏi đường và ngắm phong cảnh. Quốc lộ Một chạy qua những thôn làng, những cánh đồng. Bên trái là đồi núi, bên phải là ruộng hoặc nhà đồng bào. Càng ra hướng bắc, đất đai càng cằn cỗi, toàn cây dại mọc trên cát đá.

Xe chạy quá quận đường một quãng thì ngừng lại cho hắn xuống.

Khi được báo tin, thiếu tá quận trưởng, từ văn phòng, bước ra, cười hề hề, đưa tay ra bắt.

- Ông phó đây hả?

- Vâng, chào thiếu tá. Tôi tên Lân.

- Mời ông vào.

Hắn theo quận trưởng vào văn phòng. Đó là một căn phòng rộng, có một cái bàn cũng rộng, trên để giấy tờ, công văn. Trước bàn có đặt một cái bàn nhỏ, để tiếp khách, với bốn cái ghế xa lông đóng bằng gỗ tạp, lấy từ những thùng gỗ đựng đạn đại bác. Chẳng có trà nước tiếp khách gì cả. Biết hắn mới ra trường, tay quận trưởng trình bày tỉ mỉ tình trạng của quận.

- Bây giờ tôi sẽ cho mời mấy sĩ quan bên chi khu và bên cảnh sát cùng ra quán uống cà phê, để giới thiệu ông phó mới với họ. Thứ hai tuần sau có họp xã ấp tại quận, tôi sẽ giới thiệu ông với cán bộ xã ấp để tiện làm việc.

Thời buổi chiến tranh, chẳng có lễ lạc bàn giao thêm phiền, vả lại quận không có ngân sách riêng, tài sản chỉ có bàn ghế, văn phòng phẩm linh tinh, ông phó ký biên bản bàn giao nhiệm vụ là xong. Đối với đồng bào, chính phủ không thu thuế điền thổ (ruộng vườn) nên xã ấp nhờ vào ngân sách tỉnh yểm trợ.

Lương hướng cán bộ chẳng bao nhiêu. Khi có thì giờ, họ cày cấy, trồng trọt, ban đêm theo nghĩa quân, nhân dân tự vệ canh gát, bảo vệ an ninh cho đồng bào. Ông phó trước đi nhận nhiệm sở mới, mấy tháng nay mà chưa có người về thay, nay có ông giúp tôi về hành chánh thì tôi cũng được rãnh tay mà lo việc khác.

Về sinh hoạt, ông phó ăn uống với tôi, một nghĩa quân sẽ lo việc đi chợ nấu nướng. Buổi tối, có một căn phòng ngay sau văn phòng ông phó, dùng làm phòng ngủ. Phòng nầy được chất bao cát chung quanh và trên trần để chống pháo kích. Vấn đề bây giờ là phải tìm phương tiện cho ông đi về các xã ấp.

Mấy ông phó trước có xe gắn máy, tôi biết ông mới ra trường, chưa giành giụm được để mua xe gắn máy. Mà độc thân như mấy ông, lương hướng chỉ đủ về Huế trả tiền nhà trọ, đi xem phim, mua sách báo, ăn uống, cà phê cà pháo với bạn bè. Ông nào có vợ mới biết tiết kiệm.

Về Huế mỗi cuối tuần, mà ông đi xe đò thì coi như hết một ngày rồi. Hiện nay quận có một chiếc xe jeep hư cũ, có lẽ từ ông tri huyện mấy đời trước để lại, để tôi gọi ông thợ sửa máy cày dưới chợ đến xem có giúp sửa chữa được gì không? Ông thợ nầy rất giỏi mà lấy công lại rẻ nữa.

Lần đầu đi nhận nhiệm vụ mà được một tay quận trưởng tốt bụng giúp đỡ thì hắn cũng thấy yên tâm. Về công việc hành chánh, nhân viên các ban ngành, tuy trình độ pháp lý kém nhưng kinh nghiệm thì nhiều. Họ biết rõ từng xã ấp trong quận, từ vấn đề an ninh, nhân sự đến các tập tục, các giòng họ, các lề thói mỗi thôn xã riêng.

Câu phép vua thua lệ làng, ở nông thôn miền Trung vẫn còn là điều cần lưu ý. Ông xã trưởng, ấp trưởng được dân bầu lên, có chính quyền, luật lệnh qui định, nhưng các ông trưởng tộc, các ông phụ lão trong làng mới là những người có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt cộng đồng thôn xã.

Một "quận hành chánh" phải phụ trách mọi việc liên quan đến giấy tờ, điều hành các ngành chuyên môn, xã, ấp mà chỉ có năm ba nhân viên với vài cái máy đánh chữ và một ông tống văn thư đi xe đạp...Vậy mà mọi việc trong quận chạy đều, hiệu quả, chính xác, khiến hắn ngạc nhiên.

Vì thế mà các tổ chức nghiên cứu quốc tế đánh giá Việt Nam Cộng Hòa thời đó có một nền hành chánh công quyền hiệu năng nhất Đông Nam Á. Có lẽ tình trạng chiến tranh khiến cho công chức, cán bộ địa phương phải làm việc theo kiểu quân đội. Lúc nào cũng phải nắm vững tình hình, có lệnh là thi hành ngay.

Về chiếc "công xa" cho ông phó quận, không ngờ được giải quyết nhanh chóng. Đó là nhờ vào tài nghệ của anh thợ sửa máy cày.

Chiếc xe cũ kỹ đến độ mỗi con ốc phải dùng đục, búa gõ cả buổi mới ra. Chỉ một tuần sau, chiếc xe nổ máy, tuy tiếng kêu cũng không thua chiếc máy cày Kubota bao nhiêu. Bốn cái bánh được thay bằng bánh xe nhà binh phế thải mà tay quận trưởng phải lên quân vận xin mới có, nhưng cái trần xe thì không có tiền mua.

Thế nên phải giữ lại cái trần xe với một lỗ trống hoác phía trên, người ngồi trong xe, nếu mặc áo đi mưa khi trời mưa thì cũng không sao.

Nhờ có phương tiện di chuyển, hắn về Huế, lò dò đến Tổng Hội Sinh Viên Huế, Hội Hồng Thập Tự Thừa Thiên Huế, Caritas (cứu trợ Công Giáo), xin đoàn công tác ra các xã ấp, khi thì khám bịnh, phát thuốc, khi thì tặng quà, gạo, bột dinh dưỡng, áo quần, mùng mền, khi thì đắp đường, sửa nhà cho đồng bào nghèo, bày trò chơi, tập hát cho lũ trẻ...

Ông phó quận (là hắn) lái xe về xã ấp hội họp, dự lễ cúng đình, cúng làng, coi thật long trọng. Hơn nữa khi một chiếc xe hơi chạy trong làng, trên đường quê là một hiện tượng đáng cho trẻ con chạy theo sau xe, reo hò, đáng để cho người đang làm việc đồng áng nghỉ tay ít phút đứng nhìn giải trí.

Ông phó dừng xe, bước xuống xe trông oai hơn, tư cách hơn các ông phó trước đây đi xe gắn máy. Nhưng mỗi cuối tuần, hắn lái chiếc xe cà tàng đó về Huế thì cả thành phố để ý ngay.

Chiếc xe bạc màu, "trầy vi, tróc vảy" lại thêm cái trần thủng với tiếng máy nổ toan toác (bể ống bô), chỉ chạy một vòng lên xuống đường Trần Hưng Đạo (đường phố chính), là ai thấy đều ngạc nhiên, hỏi nhau về nguồn gốc chiếc xe và người lái nó.

Đó là điều hắn không ngờ. Khi hắn đi bộ, mấy bà bán hàng đều liếc xem, tên khùng nào dám lái chiếc xe như thế trong một thành phố cổ kính, với người dân ưa bình luận chuyện thiên hạ và sĩ diện hão.

Một buổi tối thứ bảy, hắn đi xem phim. Vì phim quá dở, hắn bỏ đi ra, lên xe, lái về nhà trọ trong thành nội, nhưng khi xe chạy đến khoảng trước cửa Thượng Tứ thì hắn thấy một cô gái mặc đồ trắng, đội nón đứng bên đường ngoắc tay ra dấu với hắn. Hắn tấp xe vào.

- Cô gọi tôi phải không?

- Dạ phải.

- Cô cần gì tôi?

- Em xin anh cho quá giang về nhà.

- Nhà cô ở đâu?

- Dạ, trên Kim Long.

- Mời cô lên xe.

Hắn vẫn chưa cho xe chạy.

- Tôi hỏi cô điều nầy. Con gái Huế giờ nầy mà dám đón xe quá giang một người lạ. Sao cô không đón xích lô mà đi?

- Em đứng đón xích lô đó chứ. Mạ em sai em đi công chuyện, nhưng lâu quá, sợ về trễ mạ la, thấy xe anh, em xin quá giang.

- Cô biết tôi là ai mà cô dám đón xe tôi?

Cô gái nhìn hắn cười, hai con mắt sáng lên vẻ ngây thơ nhưng tự tin, không hề sợ ai.

- Anh lái chiếc xe nầy, ai mà không biết anh. Anh tên Lân, phó quận Phong Điền, quận trưởng là thiếu tá Tôn Thất Bá. Ông ta là em của mạ em, cậu tụi em. Mấy lần anh đi với cậu Bá trên đường Trần Hưng Đạo, em ngồi trong tiệm thấy, nên biết anh.

Hắn nhìn cô gái, tuy cô đội nón và ánh đèn đường tù mù nhưng hắn cũng thấy cô gái đẹp một cách rất Huế.

Mặt trái xoan, tóc dài, hiền lành, đoan trang nhưng giọng nói và đôi mắt như có chút tinh nghịch.

- Cậu em khen anh đàng hoàng.

- Cám ơn cô. Vậy là cô biết hết về tôi, nhưng cô tưởng tôi đàng hoàng là cô lầm to!

- Tôi vẫn không hiểu, vì sao chưa quen biết mà cô dám đón xe tôi để quá giang. Không cô gái Huế nào dám làm như vậy cả.

- Anh nói chi lạ rứa? Em đón xe xích lô đâu cần quen biết với ông đạp xích lô. Anh dám âm mưu gì với em không?

- Tôi chịu thua cô. Xin lỗi. Cô đừng giận tôi.

Cô bật cười, giọng người lớn.

- Tha cho đó!

Hắn cởi áo đi mưa đang mặc trao cho cô gái.

- Cô mặc vô. Khi tôi chạy xe, mưa tạt ướt hết.

- Bộ anh không sợ mưa sao? Mưa ướt lạnh chết!

- Nếu tôi không nhường áo cho cô, chắc chắn là cô khinh tôi là thằng con trai bần tiện, ích kỷ ngay.

- Đúng rồi! Anh mà làm vậy em thất vọng về anh nhiều lắm.

Hắn cho xe chạy. Trong lúc trò chuyện, cô cho biết đang học đệ nhất trường Đồng Khánh.

Hắn hỏi cô có mấy anh chị em? Cô bảo chỉ có hai chị em thôi. Cô tên Khánh Trang, cô em tên Hiển Nhơn, đang học đệ nhị.

Hắn nói mấy câu tán tỉnh, đại ý, gặp một người đẹp như cô mà không làm quen là dại, cô chỉ cười mà không nói gì.

Xe qua cầu Bạch Hổ, chạy thêm gần nửa cây số thì cô gái ra dấu dừng lại.

- Nhà em ở đây.

Cô định cởi trả áo đi mưa nhưng hắn bảo.

- Cô cứ mặc, kẻo ướt, vô nhà mạ la. Tôi mà nhận lại ngay bây giờ, thì uổng công tôi quá!

Cô gái xuống xe, nhìn hắn, nhờ ánh đèn xe, hắn thấy cô cười.

- Sáng mai anh ghé nhà em lấy áo đi mưa, em sẽ chờ anh. Cám ơn anh.

- Cô nói câu đó là cô biết âm mưu của tôi rồi. Tôi cám ơn cô mới đúng.

- Chào anh. Nhớ sáng mai, em chờ.

- Tôi xin đến lúc chín giờ sáng mai. Được không cô?

- Dạ được!

Khi cô bước khuất vào cổng nhà, hắn vẫn còn dừng xe, để nhận diện cái cổng nhà đồ sộ, kiểu cổ, đen xỉn vì thời gian. Hắn đoán gia đình cô thuộc danh gia vọng tộc ngày xưa nên mới có ngôi nhà với chiếc cổng lớn như thế.

Khi chạy tới để kiếm cách trở đầu xe, hắn mới biết rằng, có nhiều ngôi nhà cũng với chiếc cổng đồ sộ tương tự. Một bên đường là vách tường chạy dài, một bên là sông Hương gió thổi với mưa phùn lạnh cóng. Khi lên đến chùa Thiên Mụ, hắn mới tìm được chỗ quay xe lại.

Sáng hôm sau, vào ngày chủ nhật, hắn diện áo quần tươm tất, chải đầu soi gương rồi lên xe đến nhà người đẹp. Hắn dừng đúng chiếc cổng khi hôm, nhưng để chắc ăn, hắn xuống xe, chờ một người đàn bà đi tới và hỏi.

- Phải nhà nầy có hai cô gái đẹp. Phải không chị?

Chị đàn bà vui vẻ.

- Đúng rồi. Anh vô đi. Qua khỏi cái bình phong là anh thấy nhà. Anh vô gặp cô Hiển Nhơn phải không?

- Tôi vô thăm cô chị.

Chị đàn bà trợn mắt lên, kinh ngạc.

- Anh đi thăm cô Khánh Trang? Anh cứ vô đi thì biết. Nhưng nhớ gõ cửa nhà ngang mới có người. Anh mà gõ cửa nhà giữa...Thôi anh vô đi.

Hắn bước qua cổng thì có một bình phong lớn ngăn lại, khiến hắn phải theo lối mòn phía bên trái, có hàng rào bằng cây chè tàu hai bên. Đi một quãng nữa, hiện ra một ngôi nhà ngói dài, xây trên một nền nhà cao bằng đá, mái nhà thấp tè, rêu phong, cửa gỗ, đóng im ỉm.

Theo lời chỉ dẫn của chị đàn bà, hắn bước đến nhà ngang. Căn nhà nầy cao ráo, xây theo kiểu mới. Hắn gõ cửa. Cánh cửa hé ra. Một người đàn bà, tuổi trên năm mươi, gương mặt thanh tú nhưng nghiêm trang, hỏi hắn.

- Cậu hỏi ai?

- Xin lỗi có phải đây là nhà cô Khánh Trang không ạ?

Người đàn bà ngạc nhiên nhưng cũng mở cửa.

- Vâng, mời cậu vô nhà.

- Cám ơn bác.

- Mời cậu ngồi. Cậu hỏi Khánh Trang có chuyện chi không?

- Dạ, cháu quen với Khánh Trang. Cháu chỉ đến thăm thôi.

- Cậu quen với Khánh Trang bao lâu rồi?

- Dạ, chỉ mới khi hôm. Cháu cho Khánh Trang mượn chiếc áo đi mưa, Khánh Trang có dặn sáng nay đến nhận lại.

Người đàn bà rót trà mời hắn.

- Mời cậu dùng trà. Tôi vừa pha trà cúng Phật. Cậu quen với Khánh Trang trong trường hợp nào. Áo đi mưa của cậu màu gì?

Nghe mấy câu hạch sách, mà không được người đẹp đón tiếp, hắn phát nản, định trả lời vài câu qua loa rồi rút lui.

- Dạ, lúc tối, cháu gặp Khánh Trang trước cửa Thượng Tứ. Khánh Trang nhờ cháu đưa về đây. Cháu có cho cô ấy muợn chiếc áo đi mưa màu đen, cô ấy hẹn sáng nay đến nhà, cô sẽ trả lại.

- Sáng nay tôi không thấy chiếc áo đi mưa nào khác cả. Lúc nãy con Hiển Nhơn ra tiệm vẫn mặc chiếc màu trắng. Chẳng phải tôi khó khăn gì với cậu mà không cho cậu gặp Khánh Trang, nhưng xin cậu kể tỉ mỉ chuyện cậu gặp nó như thế nào, hai người đối đáp ra sao?

Khánh Trang nói chuyện gì với cậu? Nó mượn áo đi mưa ra sao? Xin cậu bình tĩnh. Cậu kể ra tôi mới biết chắc là cậu có gặp Khánh Trang. Vì có thể là người khác xưng là Khánh Trang để chọc ghẹo cậu cũng nên.

Hắn đành ngồi nán lại và kể tỉ mỉ từ đầu đến cuối câu chuyện. Người đàn bà nghe xong, đứng lên, bảo hắn.

- Cậu theo tôi. Tôi chỉ cho cậu xem, có phải người cậu gặp lúc tối, đúng là Khánh Trang không?

Người đàn bà bước xuống thềm, đi vòng ra sau nhà, hắn đi theo, không hiểu đi đâu? Sân trước đã âm u, sau vườn thì như một khu rừng. Cây cối rậm rạp, um tùm, toàn là cây ăn trái.

Ổi, mãng cầu, mít, mận...Tuy có một lối mòn, nhưng hai người nhiều lúc phải cúi xuống dưới một cành cây hay dùng tay rẽ lá mới bước đi được. Một tia nắng mai lẻ loi chợt sáng lên, mấy giọt nước mưa còn đọng trên lá long lanh khiến khu vườn vừa nên thơ vừa bí ẩn.

Hắn nghĩ đến chuyện Liêu Trai. Một ngôi nhà cổ bỏ hoang, một khu vườn rậm, đầy cỏ dại...Có một bầy hồ ly tinh kéo đến ở. Chúng biến thành những cô gái rất đẹp để dụ dỗ một cậu học trò trọ học nhà bên cạnh.

Hắn thấy có gì bất thường đây. Nếu không phải cô Khánh Trang thì là ai? Có thể là cô em?

- Tối qua bác có sai cô Hiển Nhơn đi đâu không?

- Không. Khi hôm con Hiển Nhơn đi ngủ sớm. Tôi không sai nó đi đâu cả. Mà nó có đi đâu thì dùng xe gắn máy trong nhà, đâu cần phải đi xích lô hay quá giang xe cậu.

Người đàn bà dừng lại, hắn cũng dừng bước. Trước mặt hắn, có mấy ngôi mộ ở một góc vườn. Toàn là những ngôi mộ cũ kỹ, rêu phong, chỉ một ngôi rất mới, xây theo kiểu tân thời, có mái che, có tường thấp vây quanh. Người đàn bà bước đến ngôi mộ đó, hắn bước theo.

- Đây rồi. Áo đi mưa của cậu đây. Tôi đoán đúng mà!

Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống hắn. Áo đi mưa màu đen của hắn phủ lên ngôi mộ, trông giống như chiếc mền đang đắp cho một người nằm ngủ.

- Cậu nhìn thử hình trên mộ bia, có giống người cậu gặp tối qua không?

Hắn sợ đến nghẹn thở, nhưng cũng gắng bước đến nhìn vào tấm hình in trên mộ bia.

- Dạ đúng rồi. Đúng cô nầy đây. Cháu thấy gương mặt, mái tóc, đôi mắt...đúng y như cô lúc tối.

Người đàn bà cúi xuống cầm lấy chiếc áo đi mưa, trao cho hắn.

- Cậu nhận lại áo...

- Thôi, cháu không dám đem về. Cháu ngán quá! Cứ để cho cô ấy dùng, khỏi phải đón đường mượn áo người khác. Khi hôm cháu có tán tỉnh cô ấy mấy câu. Có sao không bác?

Người đàn bà cười.

- Không sao đâu. Nó chỉ chọc ghẹo người ta thôi chứ không hại ai cả. Khi còn sinh thời, Khánh Trang hiền lành và nghiêm trang lắm. Sau khi mất, nó lại hoang nghịch hơn cả con em nó nữa.

Cậu biết, thỉnh thoảng, buổi tối Khánh Trang thường hiện lên trước cổng, đi hỏng hai chân, có khi bay từ ngọn cây nầy sang ngọn cây khác. Người đi đường sợ lắm, nhưng chẳng ai bị gì cả. Để tôi đốt nhang, cậu khấn vái mấy câu thì nó sẽ không cho cậu gặp nữa. Cậu yên tâm.

Người đàn bà đốt nhang, đưa cho hắn.

- Cậu đứng trước mộ bia khấn đi.

- Cháu phải khấn làm sao?

- Thì cậu nói là xin cô sống khôn thác thiêng, đừng chọc ghẹo tôi nữa.

Hắn làm y lời, cắm nhang vào bát nhang và vội vã nói.

- Xin phép bác, cháu về.

- Mời cậu vào nhà. Cậu sợ hả? Nãy giờ tôi không biết rõ cậu là ai? Có phải cậu từ trong Nam ra làm việc, đi công tác hay du lịch?

- Cháu làm ngoài quận Phong Điền. Nhờ cô Khánh Trang cho biết, thiếu tá Tôn Thất Bá, quận trưởng, là em của bác. Lúc tối, cháu nhân chỗ quen biết, nói mấy câu không được đứng đắn với cô Khánh Trang, lúc nãy cháu khấn mà quên xin lỗi cô ta!

- Cậu đừng bận tâm. Nó không bắt hồn cậu đâu mà sợ. Tôi có cửa hàng trên đường Trần Hưng Đạo, thỉnh thoảng cậu ghé thăm, dù sao cũng thành chỗ quen biết nhau rồi.

- Cám ơn bác, cháu sẽ ghé thăm bác khi có dịp.

Hôm sau, thứ hai, ra quận làm việc, nhân lúc trò chuyện, hắn hỏi dò tay quận trưởng.

- Thiếu tá có bà chị trên Kim Long phải không? Có cửa hàng trên đường Trần Hưng Đạo...

- Rồi, ông phó trồng cây si cô cháu tôi, con Hiển Nhơn phải không? Ra đây có mấy tuần mà làm quen được người đẹp kín cổng cao tường, cũng giỏi lắm!

- Không có đâu. Tôi chưa gặp cô Hiển Nhơn, nhưng tôi gặp cô Khánh Trang.

- Tiêu ông rồi, ông phó ơi. Ông gặp con Khánh Trang là ông gặp ma. Con Khánh Trang chết đã được hai năm nay rồi. Tôi có nghe nó thường hiện ra nhác người đi đường. Ông đi đâu lên đó mà gặp nó?

- Tôi gặp cô ta trước cửa Thượng Tứ. Tối thứ bảy vừa rồi. Tôi chở cô ta lên nhà. Hôm sau, sáng chủ nhật, tôi lên đòi lại áo đi mưa, bà cụ dẫn ra mộ cô ta, thấy áo đi mưa của tôi đắp trên mộ. Thời đại nguyên tử mà còn có ma quái, tôi không tin chút nào. Nhưng cũng ớn xương sống. Tôi hỏi thiếu tá để biết chắc là cô Khánh Trang đã chết.

- Tôi cũng không tin ma quỉ, nhưng con Khánh Trang thì cũng đáng ngờ, nghe nói nó bay từ ngọn cây nầy sang ngọn cây khác. Người giả làm ma thì không thể leo lên ngọn cây về ban đêm được.

Có khùng mới làm chuyện đó. Để chủ nhật tới, tôi rủ thêm mấy sĩ quan chi khu về Huế coi ciné, chúng ta sẽ ghé cửa hàng của bà chị tôi cho ông phó làm quen. Chị tôi còn có con Hiển Nhơn, em con Khánh Trang, nó đẹp, dễ thương nhưng tính tình như con trai, nghịch ngợm lắm, trong khi mẹ nó lại khó tính.

Cũng có nhiều tên nhào vô nhưng bị nó chê. Không ưa ai thì nó bảo "cù lần", hễ ghét thì nó bảo "Đồ cù lần lửa" Nó tăng thêm một bậc mà còn lần khân tán tỉnh thì nó mắng cho, mất mặt nam nhi. Con gái Huế mà như nó thì chỉ có một.

Chủ nhật sau, hắn theo tay quận trưởng và mấy sĩ quan về Huế xem phim. Khi đi trên đường Trần Hưng Đạo, cả bọn ghé vào một cửa hàng. Một người đàn bà và một cô gái, hắn đoán là cô Hiển Nhơn, em cô Kháng Trang, đang chuyện trò với nhau. Tay quận trưởng kêu lên với bà chủ.

- Có khách đến thăm.

Hắn nhận ra ngay người đàn bà, mẹ cô Khánh Trang. Bà ta nhìn ra và cười.

- Chào các cậu. Mời các cậu vào. Chịu khó đứng nghe. Không có ghế cho khách đâu. Nhơn! qua bên kia lấy nước về uống, con.

- Khỏi. Tụi em đi ngay bây giờ. Đây là ông phó hành chánh, mới ra trường, giới thiệu với chị để làm quen.

- Chào cậu. Tôi có biết cậu ta rồi.

Hắn chào.

- Chào bác. Chào cô Hiển Nhơn.

Cô gái nhìn lên rồi cúi xuống ngay. Hắn thấy cô chỉ khác người chị, Khánh Trang, ở mái tóc cắt ngắn và đôi má hồng tự nhiên, có lẽ cô mắc cỡ. Mấy cậu sĩ quan kêu lên.

- Vậy là tụi nầy bị ông phó loại khỏi vòng chiến rồi.

Hắn vừa bước thụt lùi vừa nói.

- Tôi chuẩn bị rút lui đây.

- Sao vậy?

- Cô không thèm nhìn tôi nên tôi chỉ chờ cô ban thêm hai tiếng "cù lần" là tôi đã ở ngoài đường rồi.

Mọi người cười ồ. Tay quận trưởng lên tiếng.

- Cháu đừng nói hai tiếng đó, tội nghiệp ông phó, nghe Hiển Nhơn.

Cô ngước lên nhìn hắn và cười. Mặt cô sáng như trăng rằm, nụ cười thật tươi, ánh mắt thân ái, dịu dàng.

- Cháu có nói chi mô!

- Vậy là ông yên tâm ở lại đây trò chuyện với người đẹp. Tụi nầy đi xem phim, xong sẽ quay lại đón.

- Tôi đi với mấy ông. Một mình tôi ở đây, chưa quen, biết chuyện chi mà nói!? Để lần sau xin phép bác và cô được đến thăm.

Cô lại ngước nhìn hắn.

- Nghe nói anh tán tỉnh chị Khánh Trang dữ lắm mà!

Hắn đứng ngoài đường nói vô.

- Cô ra mộ chị Khánh Trang, thắp nhang và xin lỗi chị Khánh Trang giùm.. thằng em rể.

Cô cũng không vừa.

- Vừa tán tỉnh chị, bây giờ lại tán tỉnh em. Lại còn đòi làm em rể chị Khánh Trang?! Để đó! Anh sẽ biết tay em.

Khi ra đường, tay quận trưởng bảo.

- Ông tán cũng khá đấy. Con nhỏ đó đẹp nhưng dữ lắm, ăn nói đốp chát với bọn con trai, đứa nào cũng ngán. Nếu nó dịu dàng với ông là coi như nó chịu ông rồi.

Có một điều ông phải nhớ là không nên tán tỉnh qua đường. Con gái ở đây mà chuyện trò với đứa con trai nào rồi thì coi như khó mà lấy chồng ngoại trừ thằng con trai đó. Ông phải suy nghĩ cho kỹ nghe! Đừng để tôi bị vạ lây.

- Ông yên chí lớn! Mới gặp mà tôi đã muốn xưng cháu chính thức với cậu rồi. Ăn thua là nhờ ông nói vô mấy tiếng. Có nội tuyến mà thất bại, chắc tôi thành Trương Chi quá!

Vậy là từ đó, mỗi thứ bảy, chủ nhật, đi ngang qua cửa hàng, hễ thấy người đẹp là hắn sà vào. Lúc đầu chỉ ghé năm mười phút, sau thời gian tăng dần đến nửa giờ...có khi cả buổi mà hai cô cậu nói chuyện không chán. Khi có hắn, cô gái chả giúp bà mẹ được gì trong việc bán buôn.

Bà mẹ thì lúc nào cũng nghiêm trang nhưng không tỏ vẻ khó chịu khi thấy hắn lò dò đến cửa hàng ngồi đồng suốt buổi. Chuyện trò cũng chỉ nói về sách vở, học hành. Hắn thì nhắc lại thời còn đi học, cô gái thì nói về bài vở, về bạn học, cô thầy giáo.

Đôi khi hắn mánh mánh đến chuyện tình cảm thì cô gái liếc mắt về phía mẹ, coi như báo động. Bà mẹ nói chuyện với khách chứ hai tai không bỏ sót câu nào giữa con gái mình với thằng con trai mà bà chưa nắm vững gia phả. Có lẽ bà có dạy dỗ con gái sao đó nên cô rất cảnh giác trong khi trò chuyện.

Nhưng với hắn, được ngắm cô đủ thích lắm rồi. Cô gái Huế đã đẹp giọng nói lại dịu dàng, nhỏ nhẹ dễ hớp hồn bọn con trai. Cái thú rất hạnh phúc của hắn là hai đứa nhìn vào mắt nhau. Mắt cô sáng long lanh, đôi môi mỉm cười và hai má hồng tự nhiên. Hắn như thấy rõ những những mạch máu hồng li ti trên gò má cô...

Làm quen được ít lâu, hắn nghĩ ra một cách tán tỉnh mà bà cụ không biết, là hễ bà cụ quay lưng nói chuyện với khách hàng là hắn mấp máy môi (không thành tiếng) với cô "Em đẹp lắm!", cô mỉm cười gật đầu, lần khác thì "Anh nhớ em", cô lắc đầu cười, nhưng đôi mắt sáng lên, trả lời bằng cách nhọn đôi môi "Anh xạo!".

Trò chơi đó cứ lập lại mãi mà cả hai vẫn thấy thích. Một lần, hắn đâm liều, nói thầm với cô "Anh yêu em. Anh nhớ em!" Lúc đầu cô không hiểu, nhíu mày lại, vẻ suy nghĩ. Hắn nhắc lại. Cô đỏ mặt lên, mím môi, làm thinh cúi xuống rồi lại ngẩn lên cười.

Một buổi sáng thứ bảy, hắn tình cờ gặp cô trên đường Phan Bội Châu. Hai đứa đứng lại chuyện trò, rồi đi lên đi xuống cũng chỉ con đường đó.

- Anh mời Hiển Nhơn đi ăn bánh bèo Vĩ Dạ, đi ăn chè Cồn, được không?

- Em mà đi, người khác thấy được, mét mạ thì em chết.

- Hay là mình đi xem phim. Hiển Nhơn vô trước, anh vô sau, không ai thấy.

- Rứa lại càng mau chết nữa. Ở đây, ai làm gì cũng biết hết. Thôi em về kẻo mạ la.

- Có cách nào cho anh được đi chơi với Hiển Nhơn không?

- Anh hỏi người lớn, họ chỉ cách cho.

Cái cách mà hắn về vấn kế tay quận trưởng là chỉ việc mời cha mẹ ra xin làm đám hỏi, sau đó có thể đến nhà thăm, đưa em đi dạo phố, coi ciné. Hắn nhờ tay quận trưởng làm ông mai dong.

Ít lâu sau, hắn được trả lời là chờ cho cô Hiển Nhơn học xong trung học sẽ tính. Nghĩa là chờ hơn một năm nữa. Tay quận trưởng bình luận rằng con gái Huế lấy chồng khi còn đi học, người ta sẽ dị nghị rằng, chắc có chuyện gì không hay xảy ra cho cô ta mới lo giải quyết sớm, hơn nữa nhà gái cần phải biết rõ bên nhà trai mới trả lời.

Như vậy, trong lúc chờ nhà gái tìm hiểu về gia đình hắn, bà cụ coi bộ giảm bớt tình trạng "giới nghiêm", thỉnh thoảng lại đi đâu đấy cho hai đứa được tự do trò chuyện.

Tết năm đó đối phương tuyên bố ngưng chiến, nhưng trò Mậu Thân đó không hi vọng tái diễn. Lịnh cấm trại được ban ra. Tại quận, quân, cán, chính đã sẵn sàng. Đêm cuối năm, hắn ở lại quận để sáng hôm sau chào cờ đầu năm như thông lệ, sau đó sẽ đi đến các xã, ấp thăm, chúc Tết đồng bào.

Buổi tối, mưa gió miền Trung lạnh buốt, nhưng nằm trong chăn ấm lại là một cái thú và dễ đi vào giấc ngủ. Hắn ngủ trong phòng, ngay sau văn phòng phó quận của hắn.

Vào khoảng một giờ sáng, đang ngủ say, hắn giật mình tỉnh dậy khi cảm thấy như có người nào đó kéo chân. Chung quanh tối mò, bỗng hắn nghe văng vẳng, như từ rất xa, vọng lại "Dậy mau, chúng vào giết chết!". Hắn nín thở, ngồi im, cố tìm xem tiếng nói phát ra từ hướng nào?

Nhưng rồi không nghe gì nữa. Hắn nằm xuống, đắp mền, ngủ tiếp. Một lúc sau, hắn lại bị kéo chân và hắn nghe, lần nầy, giọng nói như hối hả, lo lắng "Dậy mau, dậy mau! Chúng vào giết chết!".

Tiếng nói như ngay trong phòng, nhưng hắn không xác định được hướng nào? Hắn mở đèn pin, rọi khắp nơi, kể cả dưới gậm giường. Căn phòng nhỏ, đã được gài chốt cửa. Như vậy ai đó chỉ có thể đứng ngoài cửa nói vọng vào. Hắn mở cửa, quét một vòng ánh đèn pin ra ngoài sân. Tiếng một nghĩa quân, gác trước phòng quận trưởng, hỏi.

- Ông phó chưa ngủ hả?

- Chưa. Nãy giờ có ai chuyện trò gì ngoài nầy không?

- Không, ông phó. Khuya quá rồi, ai cũng ngủ cả.

- Anh kéo kẽm gai để tôi xuống phòng thiếu tá được không?

- Dạ được. Để em.

Có tiếng của tay quận trưởng hỏi vọng ra.

- Ông phó chưa ngủ sao?

- Ngủ được một giấc rồi, nhưng có chuyện cần gặp thiếu tá.

Hắn vào phòng quận trưởng, kể lại giấc mộng và nói.

- Tôi không rõ chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng biết chắc, tiếng kêu đó là có thật. Tôi nghe đến hai lần, giọng một cô gái, lại còn bị kéo chân, khiến tôi thức giấc.

- Bây giờ ông phó và tôi xuống hầm truyền tin. Có thể địch đánh quận, có thể không, nhưng tôi sẽ cho báo động, coi như thực tập.

Trong lúc quận trưởng lên máy truyền tin liên lạc các nơi thì các sỹ quan trong bộ chỉ huy chi khu đã có mặt. Hắn nghe loáng thoáng những lời quận trưởng ban lệnh.

- Cho thay lịch lên phiên gác đêm nay, đưa bốn cậu lính đang gác tuyến phòng thủ qua bên an ninh quân đội, hỏi xem có gì đáng nghi không. Gài thêm lựu đạn vào kẽm gai trong sân quận chi khu. Tăng cường cho tuyến phòng thủ bên cảnh sát.

Cho tất cả em út vào tuyến. Khi bị tràn ngập thì rút vô hầm để tránh pháo chụp lên đầu, dùng lựu đạn để khỏi lộ mục tiêu. Đại úy chi khu phó lưu ý tuyến phía sau chi khu, chúng sẽ vào ngã đó. Các vị về vị trí theo như kế hoạch đã định.

Đây chỉ là thực tập báo động, nhưng nếu chúng đánh quận thật thì coi như chúng ta đã sẵn sàng. Nhắc nhở em út bình tỉnh. Các đơn vị bạn, pháo binh, không yểm...đã sẵn sàng. Yếu tố bất ngờ là ở phía ta chứ không phải từ phía địch. Có ai thắc mắc gì không? Nếu không thì quí vị về vị trí.

Khi mọi người đã rời hầm truyền tin, không khí yên lặng lại bao trùm trong đêm mưa rả rích. Hầm truyền tin chỉ có ba người. Ngọn đèn nhỏ thắp bằng pin lung lay trên nóc hầm. Hắn ngồi nhìn tay quận trưởng lên máy gọi các đơn vị bạn, các tiền đồn.

Tiếng đối đáp trên máy lao xao, hắn phải đoán mới hiểu lờ mờ như nghe tiếng lóng. Nào là cột điện, số nhà, gà gáy, thẩm quyền rồi Thanh Thúy, Thúy Nga...Gọi máy một lúc tay quận trưởng quay về phía hắn, cười.

- Ông phó có thùng lựu đạn đằng kia và một khẩu súng. Hễ ông nghe tiếng nổ toát toát của súng AK rất gần thì coi như chúng đã vào trong sân quận chi khu rồi. Lúc đó ông ném lựu đạn ra ngoài kia, thỉnh thoảng ném một quả. Nhớ rút chốt kẻo chúng cười.

Hắn đội nón sắt lên đầu, cầm khẩu súng ra cửa hầm truyền tin, ngồi xuống bên thùng lựu đạn sau dãy bao cát. Đang tìm chỗ dựa thì bỗng nhiên người hắn bị nẩy tung lên vì hàng mấy chục quả đạn pháo như cùng nổ một lượt. Địch pháo kích khắp nơi.

Trên mái nhà, trong sân, trên nóc hầm. Tiếng nổ chát chúa, mãnh đạn, ngói vỡ rơi rào rào, đất cát văng cả vào chỗ hắn núp. Mùi thuốc súng khét nghẹt. Tiếng đạn pháo chen lẫn với tiếng súng nhỏ, rồi tiếng hô xung phong, tiếng hò hét rộ lên, mỗi lúc như gần hơn. Hắn ôm đầu nép sát vào mấy bao cát, người run lập cập như lên cơn sốt rét, nhưng mấy phút sau, hắn lấy lại bình tĩnh, tựa súng lên bao cát chờ đợi.

Hỏa châu bỗng vụt sáng lên, tiếng đạn pháo đã giảm nhưng tiếng súng nhỏ lại nổ rộn lên như ngày Tết người ta đốt pháo cúng Giao Thừa. Hắn nhìn ra ngoài, ánh hỏa châu lung linh, chiếu rõ mặt đất vắng hoe. Mọi người như chui cả xuống đất. Tiếng hò hét, tiếng hô xung phong vẫn tiếp tục vang vọng từ ngoài hàng rào phòng thủ.

Rồi bỗng nhiên đạn pháo lại nổ, tiếng nổ như ngay trên đầu, chát chúa, khủng khiếp hơn trước. Mãnh đạn văng lảng cảng, rào rào như ném đá. Đúng là địa ngục trần gian. Hắn nép sát người vào dãy bao cát, mò mẩm một trái lựa đạn, rút chốt, ném ra ngoài sân, lắng nghe nhưng có lẽ tiếng nổ quá nhỏ, lẫn vào tiếng đạn pháo nên hắn chỉ thấy ánh chớp mà thôi.

Hắn quay nhìn, thấy tay quận trưởng chộp ống liên hợp nầy la hét, xong chôp ống khác la hét tiếp như cố nói lớn tiếng hơn tiếng súng đạn. Người lính truyền tin cũng bận rộn đối đáp trên máy. Hắn quay lại với thùng lựu đạn, lại rút chốt và ném ra ngoài. Thình lình hắn cảm tưởng như mình bay bỗng lên rồi không biết gì nữa.

Hắn tỉnh dậy thì thấy mình nằm trên giường. Nhìn quanh, thấy hai dãy giường với người nằm, đa số bị băng bó trắng hếu, hắn biết mình đang ở trong quân y viện. Hắn không bị băng bó gì nhưng cánh tay có chuyền nước biển.

Hắn cục cựa chân tay và lắng nghe thân thể có chỗ nào đau không? Nhưng hắn chỉ thấy hơi mệt mỏi, choáng váng một chút thôi. Từ ngoài cửa, tay quận trưởng đi vào, miệng vẫn cười hề hề.

- Tỉnh rồi hả? Thấy trong người ra sao? Có thấy đau chỗ nào không?

- Quận mình có sao không thiếu tá? Có ai bị gì không?

- Hễ đánh nhau, không sứt tay thì gãy gọng. Cũng may mình biết trước, cho rút hết xuống hầm nằm chờ, chúng vào là gọi pháo binh chụp xuống. Rồi phi cơ nhào đến dội bom...Hiện mình đang hành quân truy kích.

- Tôi bị gì mà đưa vào đây?

- Một quả đạn pháo nổ phía ngoài bao cát chỗ ông ngồi. Hơi ép đẩy ông và mấy bao cát văng vô trong hầm. Ông bất tỉnh, trực thăng đưa vô đây, bác sĩ nói chả sao cả, một lát nữa sẽ tỉnh dậy. Tôi vừa đi một vòng thăm em út bị thương. Tôi báo cho ông một tin mà ông không khoái thì thôi.

- Tin gì mà có vẻ long trọng vậy?

- Người đẹp vô thăm. Thấy ông nằm im lìm, người đẹp cầm tay ông khóc quá trời. Bác sĩ bảo đảm là ông chỉ bị sức ép bất tỉnh, không sao đâu, nàng mới yên tâm ra về. Có lẽ nàng sẽ vào thăm lần nữa. Bây giờ tôi phải ra quận ngay.

- Tôi nhờ thiếu tá một việc.

- Việc gì?

- Nhờ ông nói với bà cụ và Hiển Nhơn, xin cho ba mẹ tôi được ra thăm và xin làm lễ hỏi. Ông cố giúp, được không?

- Để tôi nói cho. Người đẹp mà chịu thì bà già phải nghe theo. Ông yên tâm.

Đến đây thì có thể kết thúc một chuyện tình có hậu. Nhưng khi hắn cưới nàng, rước về căn nhà nhỏ mướn trong thành nội chứ nhất định không ở bên nhà vợ, dù một đêm, là ngôi nhà có cái cổng đồ sộ và có ngôi mộ của cô Khánh Trang phía sau vườn. Hắn ngán hồn ma cô Khánh Trang. Đến nhà mẹ vợ, ăn uống, chuyện trò gì đó, thấy trời chiều là hắn rút lui. Vợ hắn cười vào mũi hắn.

- Thanh niên gì, mặt mũi sáng sủa, cao ráo mà sợ ma!

- Mặc kệ tui! Chê bai gì cũng được miễn đừng ở lại nhà đó buổi tối hoặc ra sau mộ Khánh Trang là được.

- Anh tin có ma thật à?

- Sao không?

- Nếu em bảo, chính em giả làm chị Khánh Trang nhác ma người ta thì anh có tin không?

- Anh nhớ rõ ràng bữa đó Khánh Trang tóc dài, còn em thì tóc ngắn. Làm sao giả được?

- Sáng hôm sau em cắt tóc ngắn liền.

- Nhưng mạ nói, tối đó em đi ngủ sớm?

- Em làm bộ đi ngủ sớm rồi trốn đi chơi với con bạn. Nó đem xe gắn máy lên đón em.

- Sao nó không chở em về mà để em đón xe anh?

- Nó vừa đẩy xe ra cửa là em thấy xe anh từ rạp Hưng Đạo chạy đến, em vơ vội cái nón rồi chạy ra đón xe anh.

- Anh vẫn không hiểu sao em bạo dạn quá vậy?

- Em nói anh không được cười. Thấy anh đi ngoài phố, mặt ngơ ngáo...dễ thương. Em để ý... Con gái là rứa đó. Mấy đứa kia thương ai thì để bụng chứ em thương anh thì em phải cho anh biết.

- Em không sợ anh sao?

- Em mà sợ ai? Em là đệ tử thầy Suzuki ở võ đường Võ Tánh. Đai đen Karaté, đai nâu Judo. Em chọc ghẹo người ta được chứ ai dám chọc ghẹo em. Đứa nào cũng ngán em. Mà tính em ngang ngược lắm. Không có anh, chắc em ế chồng.

- Nhưng sao em không nói thực mình là Hiển Nhơn, lại giả hồn ma chị Khánh Trang?

- Nhác ma anh cho vui. Hơn nữa nếu anh biết thực là em, anh coi thường em thì sao?

- Chuyện bay từ cây nầy sang cây kia cũng là em?

- Em lấy cái áo đi mưa vào cột vào cây sào hái nhãn, cầm sào chạy một vòng quanh hàng rào. Em chỉ làm một lần thôi, người ta thêm thắt vô thành rùng rợn. Bây giờ hết tin ma quỉ chưa? Anh phải thăm mộ chị Khánh Trang kẻo mạ giận.

- Anh vẫn tin là có linh hồn. Người chết chưa phải là hết. Hôm Tết, nhờ người khuất mặt báo tin Việt Cộng đánh quận, nếu không anh tiêu bữa đó rồi.

- Người khuất mặt nào báo tin? Sao không nghe cậu Bá em kể?

- Thực tâm, anh và cậu Bá tin chuyện đó, nhưng không kể ra, sợ người ta cười mình mê tín. Nó như thế nầy. Khuya đêm ba mươi Tết, anh ngủ ngoài quận, khoảng một giờ, anh đang ngủ thì có ai kéo chân anh hai ba lần còn gọi "Dậy mau, chúng vào giết chết!"

Vợ hắn tái mặt, đến bên hắn, nép vào chồng như sợ hãi điều gì.

- Để em kể chuyện nầy anh nghe. Tết vừa rồi, sau khi mạ và em cúng Giao Thừa xong, em vào phòng nằm ngủ. Trong giấc ngủ, em mơ thấy chị khánh Trang đi vào, kéo tay em đi đến một nơi rất lạ, tối thui, nhưng em lại thấy có nhà cửa, chung quanh là hàng rào.

Ngoài hàng rào, em thấy rất nhiều người, mặt mũi dữ tợn, đang bò vào. Họ ôm súng có gắn lưỡi lê. Chị Khánh Trang kéo em vào một căn phòng nhỏ, thấy anh nằm ngủ trên giường. Hai chị em cố lôi chân anh và la to "Dậy mau, chúng vào giết chết!" Vậy mà anh ngồi dậy rồi lại nằm xuống ngủ tiếp.

Hai chị em kêu mãi...Em không nhớ sau đó thì sao, nhưng khi tỉnh dậy em còn khóc vì sợ cho anh. Từ đó đến sáng, em không ngủ được. Mới sáng sớm thì có người nhà cậu Bá đến báo Việt Cộng đánh quận, cậu và anh được đưa vô quân y viện Nguyễn Tri Phương, em chạy vô, thấy anh nằm im, em tưởng anh chết rồi, em khóc quá, sau bác sĩ bảo anh không sao cả, em mới yên tâm.

Hắn nói:

- Bây giờ mình lên nhà mạ, anh sẽ ra mộ chị Khánh Trang, thắp nhang cám ơn chị đã cứu anh, đúng hơn cứu cả quận Phong Điền.

23 thg 11, 2012

Lợi dục và dối trá

Huy Phương

“Lợi dục không có phương châm nhất định, nó tùy phương hướng mà thay đổi, nó tùy thời buổi mà đổi thay, tùy công việc mà châm chước.” - (J. B. Bossuet 1627-1704)

Phó chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Western Union khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, bà Drina Yue đã cho biết, Việt Nam là một trong mười sáu thị trường nhận tiền nước ngoài lớn nhất thế giới, vì Việt Nam hiện nay có khoảng bốn triệu người, trong đó có khoảng bốn trăm nghìn người lao động đang làm việc, sinh sống ở trên một trăm quốc gia trên thế giới. Năm 2010, kiều hối đã tăng lên 8.26 tỷ USD và năm 2011 đến con số đạt 9 tỷ USD. Con số này cao hơn mười lần con số tám mươi triệu mà Quốc Hội Mỹ làm ngơ không cứu VNCH năm 1975, nhưng hiện nay đồng bào hải ngoại, phần lớn đã bỏ nước ra đi vì cộng sản, mong một ngày về với đất nước không cộng sản, nhưng chính họ lại tiếp tay chắt bóp để nuôi cộng sản. Bạn có biết là số ngoại tệ này đã giúp Việt Nam ổn định, bù đắp thiếu hụt cán cân thanh toán vãng lai, mà cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có chính sách căn bản về việc này.
Vậy thì ai giúp Cộng Sản Việt Nam nhiều nhất? Câu trả lời là chính cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản.

Ai nói người Việt hải ngoại nuôi dưỡng hận thù, không yêu quê hương dân tộc?

Nếu nuôi dưỡng hận thù thì sẽ không có các tổ chức thiện nguyện mỗi năm đem tiền về nuôi kẻ khốn khó, mù lòa, nuôi trẻ mồ côi bất hạnh, lo cho các cụ già neo đơn hay người cùi bất hạnh, giúp thiên tai bão lụt, mà đúng ra những việc này phải do các cơ quan y tế, xã hội của Cộng Sản Việt Nam đảm trách. Nhưng mười tỷ, hay hai mươi tỷ cũng chỉ là hạt muối bỏ biển trong cái khổ đau, thiếu thốn của cả một dân tộc khi những tên được mệnh danh là đầy tớ của dân chỉ là bọn tham ô, xem dân như cỏ rác.

Nếu người Việt hải ngoại không yêu quê hương dân tộc thì sẽ không có những con số đồng bào mỗi năm tìm cách trở lại quê hương thăm mồ mả ông cha, giúp đỡ những người nghèo khó, đi từ Nam ra Bắc, rót hết đồng tiền dành dụm cho những chuyến đi.

Năm ngoái Bộ Ngoại Giao CSVN loan báo số lượng “Việt kiều” về ăn Tết lên đến 500,000 người. Như vậy, ngoài tiền máy bay ra, mỗi Việt Kiều rủng rỉnh, hạng chót cũng mang theo $3,000, rót về cho Việt Nam 1.2 tỉ đô la, không kể đến số tiền gửi hằng năm. Chúng ta đòi hỏi nước Mỹ ngưng chuyện giao thương, buôn bán với Việt Nam trong khi chúng ta đổ tiền về Việt Nam không điều kiện. Chúng ta đòi hỏi Việt Nam tôn trọng nhân quyền, trong khi bao nhiêu người trẻ tuổi tranh đấu cho lẽ phải, sự sống của người dân và chống ngoại xâm phải ngồi tù, thì “thương nữ” hải ngoại về cống hiến những đêm vui cho bọn cường quyền và ru ngủ đám thị dân quên chuyện đất nước lầm than.

Ðể biện minh cho chuyện trở lại quê hương, ông Trần Văn Thủy của “Chuyện Tử Tế,” đã bày ra câu chuyện “Nếu Ði Hết Biển,” kể chuyện bà thím nhà quê của ông khi trả lời câu hỏi của đứa cháu: “Ði hết làng ta thì đến làng nào hả thím?” Bà trả lời rành rẽ hết làng này sẽ đến làng kia, hết làng kia sẽ gặp làng nọ, sau ngôi làng cuối cùng, sẽ gặp biển.

“Thế đi hết biển thì đến đâu hả thím?” Bà thím này không trả lời được. Lớn lên ông Trần Văn Thủy mới tìm ra chân lý: “Ði hết biển, qua hết các đại dương, qua hết các châu lục, thì cuối cùng lại trở về làng xưa!” Quê hương là cái gì đẹp thật, thân yêu thật, nhưng nếu làng xưa là cái rọ, đi hết biển cuối cùng sẽ chui về cái rọ ngày xưa.

Nhiều cái cột đèn đã ra đi, nhưng không lẽ cột đèn lại trở về chôn chân mình vào cái lỗ cũ?

Bây giờ lại có người dạy chuyện đạo lý, cho chuyện trở về nơi mình đã ra đi “là ước mơ chung của tất cả những người được gọi là người...” Lẽ cố nhiên ước mơ trở lại quê hương là điều chính đáng của mọi người, nhưng liêm sỉ và đạo lý có hay không của chuyện trở về của những người này hay người kia, mới là chuyện đáng nói.

Chẳng lẽ ba vị đoạt giải khôi nguyên Nobel Văn Chương là thi sĩ Josept Brodsky (1987), văn hào Aleksander I. Solzhenitsyn (1970), nhà văn Cao Hành Kiện (2000), lưu vong vì chế độ cộng sản, chỉ trở về khi chế độ ấy mệnh chung, đều chẳng phải là người hay sao?

Tư lợi làm cho người ta ngụy biện và nói dối một cách thản nhiên.

Kẻ nói dối mà đỏ mặt chưa phải là kẻ nói dối, kẻ nói dối mà bình thản, ấy mới đáng sợ!

Ngày nay, bọn “theo chân Ðế Quốc Mỹ kiếm bơ thừa sữa cặn” mà năm 1975, cộng sản đã rêu rao, đã trở thành “khúc ruột ngàn dặm.” Ngày nay, bọn “ma cô, đĩ điếm” mà chúng đã không tiếc lời nguyền rủa, trở thành những người yêu nước, là khách mời để “thể hiện chính sách cởi mở của Nhà nước, tạo điều kiện cho những nghệ sĩ nay muốn hướng về Tổ quốc!”

Chuyện “Về-Ði” trong nhiều năm nay đã gây nhiều tranh luận, lời qua tiếng lại trong cộng đồng người Việt, và đã gây ra không ít chia rẽ. Những người về cộng tác với chính quyền trong nước, đương nhiên phải kể đến những việc giải trí, ca hát, ấn hành tác phẩm, đã tạo lợi thế cho chính quyền trong nước hân hoan khẳng định rằng: “Ðây cũng là bằng chứng hùng hồn của chính sách đại đoàn kết dân tộc!” Những hiện tượng này, kẻ chiến thắng coi như là những dấu hiệu hòa giải, quên đi quá khứ, hướng đến tương lai.

Trong khi đó cái khối người gọi là “dân tộc” trong nước lại chẳng thấy có tí nào đoàn kết. Hằng ngày ở nông thôn cho đến thành thị luôn luôn có sự đối đầu giữa hai thế lực, không cân xứng, một bên là cường quyền có công an vũ trang, súng đạn, chó săn, roi điện, một bên là người dân không tấc sắt trong tay, cơm đùm gạo bới đến cửa quan, vì phẫn nộ bởi chuyện mất đất mất nhà, mất quyền làm người, mà phải đứng lên tranh đấu, và nhận lãnh phần thiệt thòi nhất với đánh đập, tù đày.

Chứng bệnh Alzheimer làm cho người ta quên hết chuyện bây giờ mà nhớ những chuyện xưa, người đời lại mắc phải căn bệnh quên hết chuyện ngày xưa mà chỉ nhớ những chuyện trước mắt bây giờ. Do vậy có người đã quên cả chính mình, quên mình đã nói gì, hành động ra sao, nên soi gương thấy mặt mình dị dạng, thay đổi mà không biết hổ thẹn.

Tôi xin nhắc lại một câu danh ngôn về lợi dục đã có lần được ghi lại trên trang báo này: “Lợi dục không có phương châm nhất định, nó tùy phương hướng mà thay đổi, nó tùy thời buổi mà đổi thay, tùy công việc mà châm chước!”

Vậy con người, vì lợi dục mà phải ngụy biện, dối trá, hay lên mặt đạo đức thì cũng là chuyện thường tình!

Nguồn:http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=157933&zoneid=97#.ULBDVmdIjJI

21 thg 9, 2012

Mỹ, Đức còn đi sau Việt cộng hàng cả chục năm.

Có một du học sinh gọi điện thoại về VN kể cho bố nghe là – Bố ơi nước Mỹ và Đức vừa đi một bước đi mới, họ đã làm một việc trong lịch sử chưa hề có.
 Lần đầu tiên nước Mỹ có một Tổng thống da màu, cha của ông ấy là một người phi châu, cha, mẹ của ông ấy đã ly dị từ lâu, ông ấy sống với bà ngoại từ nhỏ.
 Nước Đức còn đi một bước dài hơn nước Mỹ, họ vừa bầu lên một phó thủ tướng là một người VN được 2 vợ chồng Đức nhận làm con nuôi, một đứa trẻ bị bỏ rơi trở thành phó thủ tướng. Người bố ở VN bực mình trả lời cậu con 
– Mày cứ binh cho người ngoài hạ thấp người VN chúng ta, 2 cái chuyện này là bọn Mỹ và Đức bắt chước VN cả, nước VN đã làm chuyện này lâu rồi.
 Này nhé ông Nông Đức Mạnh là con của một bà dân tộc thiểu số là Nông Thị Xuân, cha của Nông Đức Mạnh là ai đéo biết, Obama đã tốt nghiệp Đại Học Harvard còn NĐM không có tốt nghiệp đại học nào hết vậy mà vẫn được làm tổng bí thư. Đấy mày thấy chưa VN tiến bộ hơn Mỹ nhiều, đừng có khen Mỹ nữa nhé. Còn nước Đức có thủ tướng là con nuôi thì đâu có gì lạ.
 Nguyễn Tấn Dũng của VN cũng đâu có cha. Mặc dù là con nuôi nhưng Phó thủ tướng Đức phải tốt nghiệp đại học rồi mới làm chính trị, còn NTD chỉ có bằng Y Tá thôi mà được làm thủ tướng, VN hay hơn Đức nhiều đừng có khen Đức Nữa nhé!

15 thg 9, 2012

Cưỡng chế ngôn ngữ


Nguyễn Hưng Quốc

Ở Việt Nam, mấy năm gần đây, có một chữ khá thịnh hành và thường gây xôn xao dư luận: “cưỡng chế đất đai”. Nhưng việc cưỡng chế ấy không phải chỉ giới hạn ở chuyện đất đai. Từ lâu, chính quyền đã có một hình thức khác: cưỡng chế ngôn ngữ. Hình thức cưỡng chế ấy có nhiều biểu hiện.

Thứ nhất, nhà cầm quyền cộng sản sử dụng ngôn ngữ như những nhãn hiệu để phạm trù hóa kẻ thù. Ngày xưa, thời kháng chiến chống Pháp, đó là những chữ “thực dân”, “Việt gian”, “địa chủ”, “cường hào” và “tư sản”; sau, thời chiến tranh Nam Bắc, đó là những chữ “đế quốc”, “chủ nghĩa thực dân mới”, “Mỹ ngụy”, “bù nhìn”, “tay sai”, “ác ôn”, “phản quốc” và “phản động”; sau năm 1975, “chủ nghĩa bá quyền”, “chủ nghĩa bành trướng”, “tư sản mại bản”, “tàn dư của chủ nghĩa thực dân” và “phản động”; gần đây, thêm hai khái niệm mới: “diễn tiến hòa bình” và “âm mưu của các thế lực thù địch quốc tế”. Đi đôi với các từ ngữ ấy ấy là vô số các ẩn dụ nhằm phi nhân hóa kẻ thù: “sài lang”, “lang sói”, “ác thú”, “quỷ dữ”, v.v.

Những nhãn hiệu ấy có ba chức năng chính: một, để chụp mũ bất cứ người nào đi ngược lại chủ trương của họ; hai, để phi nhân hóa kẻ thù: kẻ thù tồn tại không phải như những con người mà là như những khái niệm, do đó, việc tiêu diệt kẻ thù không còn nằm trong phạm trù đạo đức thông thường nữa; và ba, để dựng lên những con ngáo ộp hầu một mặt, dù dọa dân chúng; mặt khác, biện minh cho những chính sách cứng rắn, thậm chí, có tính chất khủng bố của họ. Chức năng thứ ba là thuộc tính của mọi chế độ độc tài: Họ luôn luôn cần kẻ thù, cần văn hóa chiến tranh. Nếu không có kẻ thù thì họ thêu dệt ra kẻ thù. Bóng ma của kẻ thù là một cách để vừa tập trung quyền lực vừa đánh lạc hướng dư luận. Đối diện với cái bóng ma đầy đe dọa ấy, dân chúng nói chung dễ dàng gác bỏ mọi sự hoài nghi hay ý hướng phản kháng.

Thứ hai, đặc biệt suốt cả hai cuộc chiến tranh, 1946-54 và 1954-75, là quân sự hóa các hoạt động ngôn ngữ trong đời thường. Văn học nghệ thuật biến thành hoặc “chiến trường” hoặc “mặt trận” hoặc “trận tuyến”; tác phẩm là “vũ khí”; viết lách là “tiến công”; “nhà thơ cũng phải biết xung phong”; “viết bài thơ trên báng súng”; “vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy / bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”; giới cầm bút biến thành “đội ngũ”, hình thành nên cái gọi là “đội quân văn nghệ” hay “lực lượng sáng tác”, ở đó mọi người đều là những “chiến sĩ cầm bút” và đều tuân theo một “cương lĩnh chiến đấu” và cùng nhau “hiệp đồng chiến đấu”. Thơ trào phúng được xem là một “binh chủng đặc biệt” trong khi các bài ký sự hôi hổi sức nóng của đời sống thực được xem là một “mũi xung kích” hoặc “mũi nhọn tiến công” của nền văn học mới. Một nhà thơ hay một nhà văn trung thành với một vùng sáng tác nào đó thì được gọi là “bám trụ”; đi tiên phong trong một lãnh vực nào đó thì biến thành “ngọn cờ”; tập trung vào việc đả kích địch thì được ví với việc “nổ súng”; thường xuyên phê phán địch thì được biểu dương là “nắm thắt lưng địch mà đánh”. Trong thơ, có những “bài thơ rực lửa chiến đấu”; trong âm nhạc, có “tiếng hát át tiếng bom”.

Vượt ra ngoài phạm vi văn học, ở các lãnh vực khác, cũng thế. Một đám đông, dù chẳng liên quan gì đến quân sự, cũng được gọi là “đội quân”: “đội quân thất nghiệp”. Làm quang đất đai thì gọi là “giải phóng mặt bằng”. Một chương trình có nhiều người tham gia và được nhà nước cổ vũ thì được gọi là “chiến dịch” (ví dụ: “chiến dịch làm sạch đường phố”). Ngày mở đầu của những chiến dịch như vậy thường được gọi là “ra quân” (“Hà Nội ra quân chống ùn tắc giao thông”). Trấn giữ một địa điểm nào đó để làm nhiệm vụ, cho dù chỉ là nhiệm vụ phòng chống lũ lụt, cũng được gọi là “đóng chốt” hay “trực chiến” (“Chính quyền, các cơ quan chủ quản đã cử người đóng chốt, trực chiến tại những địa điểm nhiều nguy cơ lũ tràn về”) (1). Cách thức ăn uống đặc biệt cho một loại người nào đó trở thành “chế độ” ăn uống. Tự mình dằn vặt suy nghĩ để đi đến một quyết định quan trọng nào đó thì được gọi là “đấu tranh tư tưởng”. Tố Hữu có hai câu thơ tả một cánh đồng hợp tác xã ở miền Bắc: “Hãy xem! Đồng ruộng cũng chỉnh tề thế trận / Lúa đứng thẳng hàng quyết tâm năm tấn.” Một nhà thơ nào đó, hình như là Trinh Đường, có câu thơ tả tình yêu: “Tình yêu anh, em ạ, cũng lên nòng.”

Thứ bahành chính hóa ngôn ngữ. Ở xã hội nào cũng có lớp từ vựng hành chính riêng. Xưa, có các từ sớ, tấu, chiếu, chỉ, bẩm, báo, trình, với những “quan”, những “cụ”, những “thầy” các loại. Xã hội ngày nay cũng vậy. Cũng có “cán bộ”, có “đồng chí”, có “báo cáo”, có “phương án giải quyết”, có “đăng ký” và “quản lý”, v.v. Chỉ có vấn đề là, khác với các nơi và thời khác, dưới chế độ cộng sản, lớp từ hành chính ấy cứ tràn ra đời sống hàng ngày. Ở mọi nơi. Kể cả những nơi quan hệ giữa người và người không có chút hành chính gì cả.

Cũng có khi đó là chủ trương chung của nhà cầm quyền: Để xây dựng một xã hội mới với những con người mới, và đặc biệt, những quan hệ mới, người ta cổ vũ việc sử dụng lớp từ hành chính trong mọi trường hợp. Bạn bè là “đồng chí” của nhau. Những người “đồng chí” ấy không chuyện trò với nhau: Họ “trao đổi” hoặc “báo cáo” cho nhau, rồi “tự phê” và “phê bình” nhau. Sau những “báo cáo” và những “phê bình” ấy, người ta không cần hiểu rõ: Người ta chỉ cần “quán triệt”. Nếu một người còn hoang mang, người khác sẽ tiếp tục giúp “đả thông tư tưởng”. Con trai và con gái không gặp nhau: họ “phát hiện” ra nhau; họ không yêu nhau: họ có “quan hệ tình cảm” với nhau; họ không làm đám cưới với nhau, họ chỉ “đăng ký kết hôn”. Ngày xưa, chỉ có các nhà tư tưởng mới “tư duy” (Tôi tư duy vậy tôi hiện hữu, “Cogito ergo sum”, Descartes), bây giờ, trong quần chúng, ai cũng “tư duy” nên mặt mày ai cũng “khẩn trương” và cũng đầy “bức xúc”, nhất là khi gặp một “sự cố” gì đó mà người ta chưa có “phương án giải quyết”.

Việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy làm xóa mờ ranh giới giữa cái riêng và cái chung, tính chất cá nhân và tính chất tập thể, kích thước xã hội và kích thước chính trị trong đời sống con người. Từ cái nhìn bên ngoài, chúng ta dễ thấy việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy là một sự hài hước, thậm chí, lố bịch, do đó, nó trở thành đề tài của các truyện cười nhạo báng chế độ, kiểu nói chuyện với bố mẹ hay anh em bạn bè mà dùng chữ “báo cáo”; xin kết hôn mà dùng những chữ to tát như “đăng ký” hay “quản lý đời em”; hối thúc một người nào đó mà dùng chữ “hãy khẩn trương lên”… Tuy nhiên, từ cái nhìn trong cuộc, với việc phổ cập của lớp từ vựng hành chính trong đời sống hàng ngày như vậy, nhà cầm quyền đã thành công trong việc nhồi sọ quần chúng, biến mọi người thành một thứ công cụ như được đúc ra từ một cái khuôn duy nhất: người ta không còn sự riêng tư và sự độc đáo nữa.

Thứ tưtạo nên những từ mới hoặc áp đặt lên các từ cũ một nội dung mới hoàn toàn trái ngược hẳn với hiện thực vốn có. Ví dụ cho loại này nhiều vô cùng: thay cho chữ “trại tù”, họ gọi là “trại học tập” hay “trung tâm phục hồi nhân phẩm”; thay cho chữ “nhồi sọ”, họ gọi là “cải tạo tư tưởng”; thay vì gọi thẳng là tịch thu đất đai của địa chủ, họ dùng chữ “cải cách ruộng đất”; thay vì gọi thẳng tịch thu tài sản của người giàu, họ gọi là “đánh tư sản”; thay cho chữ “làm quan”, họ tự xưng là “đầy tớ nhân dân”; thay cho chữ “độc tài”, họ lại gọi là “làm chủ tập thể”; cán bộ đồi trụy, thay vì nói đồi trụy, họ dùng chữ “hủ hóa”; đối với hiện tượng tham nhũng hay thoái hóa của đảng viên, thay vì dùng chữ “nhiều”, họ dùng chữ “không ít” hoặc “một bộ phận”; thay vì thừa nhận thất bại trước các thử thách, họ dùng cách nói “từng bước khắc phục”; thay vì “bắt lính”, họ gọi là “đi nghĩa vụ quân sự”; thay vì nói đánh chiếm Campuchia, họ nói họ đang làm “nghĩa vụ quốc tế”; thay vì nói “bế tắc”, họ dùng chữ “hạn chế tất yếu”; những gì họ thích thì họ gọi là “bản chất” và “khách quan”; những gì không thích thì họ gọi là “hiện tượng” và “chủ quan”.

Gọi như thế, người ta bất chấp cả sự thật. Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới và những mặt trái của nó đã được vạch trần và đã trở thành hiển nhiên với mọi người, họ vẫn tiếp tục gọi nó là “tiến bộ”, là “đỉnh cao”, là “ưu việt” và là “quy luật phát triển” của lịch sử. Không có tự do bầu cử và cũng không có bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý nào, người ta vẫn khăng khăng nhân danh “ý nguyện của toàn dân” để duy trì sự độc quyền lãnh đạo của mình. Suy nghĩ cũ mèm mà vẫn cứ ba hoa là “đổi mới tư duy”. Gần đây, họ gọi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội và Sài Gòn là các cuộc “tụ tập tự phát” của quần chúng; tàu Trung Quốc đâm nát tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam ngoài Biển Đông được gọi là “tàu lạ”; những vấn đề nhà cầm quyền không muốn nghe thì gọi là “nhạy cảm”, v.v.

Có thể nói, với những cách dùng từ hoặc định nghĩa từ ngang ngược như vậy, người ta tiến hành một cách quy mô, kiên trì và có hệ thống một cuộc cưỡng chế trong lãnh vực ngôn ngữ. Hậu quả là nó làm thay đổi hẳn ý nghĩa của rất nhiều từ quen thuộc hoặc làm cho chúng trở thành rỗng tuếch, không còn mang một ý nghĩa gì cả. Những chữ như “cách mạng”, “giải phóng”, “công bằng”, “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tiến bộ”, “phát triển”, “đỉnh cao trí tuệ”, “làm chủ tập thể”, “quần chúng”, “nhân dân”, thậm chí, cả chữ “yêu nước”… đều nằm trong trường hợp như thế. Ngay cả những chữ đơn giản như “đúng” và “sai”, “thật” và “giả”, “tiến bộ” và “lạc hậu”, “tốt” và “xấu”… cũng không còn nguyên nghĩa của chúng nữa. Trong các cặp đối lập ấy, khái niệm thứ nhất bao giờ cũng được sử dụng cho đảng, hoặc rộng hơn chút, cho “phe ta”; còn khái niệm sau bao giờ cũng thuộc về phe địch. Không có ngoại lệ. Đã là địch thì phải sai, phải giả, phải xấu và phải lạc hậu. “Ta” thì, ngược lại.

Trong cuốn phim tài liệu Chuyện tử tế, Trần Văn Thủy đi hỏi ý nghĩa hai chữ “tử tế” và “vĩ đại”, hầu như ai cũng lúng túng. Bây giờ thử hỏi những người Việt Nam bình thường những từ như “tình hữu nghị” hay “láng giềng tốt” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thực sự có nghĩa là gì, hẳn ai cũng thấy hoang mang. Khi những người yêu nước, vì công phẫn trước những thái độ uy hiếp ngang ngược và trắng trợn của Trung Quốc xuống đường biểu tình, bị chính quyền, cũng nhân danh lòng yêu nước, trấn áp, đánh đập, bắt bớ, sỉ nhục và bị xem như một “thế lực thù địch”, người ta không còn thấy đâu là ranh giới giữa yêu nước và bán nước nữa. Bài thơ “Lẫn lộn lung tung” của Bùi Giáng, làm trước năm 1975, có giá trị như một sự tiên tri:

Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi người sương phụ gái thơ ngây.

***
Chú thích:

1. Ví dụ này và ví dụ trên được dẫn lại từ bài “Dấu vết chiến tranh trong tiếng Việt” của Nguyễn Đức Dân trên báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 2.9.2012

http://www.voatiengviet.com/content/cuong-che-ngon-ngu/1506742.html

12 thg 9, 2012

Một Bài Thơ Không Đề Tựa (đọc dễ chảy nước mắt )


Phạm Đức Nhì

Tự Do như muối
Hạnh Phúc như đường
Khi còn đang ăn đủ miếng ngọt miếng ngon
Khó thấy giá trị của hạt đường hạt muối

tôi sống ở miền Nam
nhìn dòng đời trôi nổi
nở lại tàn
bao nhiêu mùa hoa
hai nền Cộng Hoà
một cuộc chiến tranh dài đẫm máu
tôi đã dốc lòng chiến đấu
bảo vệ tự do
dưới lá cờ
nền vàng ba sọc đỏ

tiếc thay trong đội ngũ
chúng tôi có ít những Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam
mà lại khá nhiều Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn
nên lính mất niềm tin
dân chán nản
những kẻ có lòng
lắc đầu ngao ngán
rồi nước Mỹ đồng minh, xưa là bạn
nay trở mặt lọc lừa
quên lời hứa năm xưa
bỏ mặc « tiền đồn của thế giới tự do »
thất thủ

kẻ thù đưa tôi lưu đày biệt xứ
rồi khua chiêng gióng trống ăn mừng
đám trí thức, sinh viên, học sinh
xưa trốn vô bưng
mơ một thiên đường trên trái đất
nay ngồi trên khán đài nghếch mặt
« Thiên đường đang ở trong tầm tay »
Má Hai
xưa đào hầm nuôi cán bộ
nay hớn hở
« Tụi nó dzià mình chắc có tương lai »
bà Tám con chết trận Đồng Xoài
hãnh diện lãnh bằng gia đình liệt sĩ
những nhà văn, nhà thơ, xưa chống « cuộc chiến tranh phi lý »
(đâm sau lưng người lính Cộng Hoà )
nay chìa bút ra
xin viết bài ngợi ca chế độ mới
đám thanh niên xưa trốn chui trốn nhủi
ở hậu phương
xanh mặt khi nghe nhắc tới chiến trường
nay tự nhận đã yêu thầm cách mạng
những người dân bình thường
xưa gặp lính khi ghét khi thương
lúc buồn ngồi chửi đổng
« Tao chửi cả thằng Tổng Thống
xá gì lính tráng tụi bay »
nay cũng ngập ngừng vỗ tay
nhưng mắt nhìn quanh lấm lét
họ chưa có câu trả lời dứt khoát
muốn đợi một thời gian

sau vài năm
cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật
đã đầy nước mắt
và những tiếng nấc nghẹn ngào
đám trí thức vô bưng năm nào
tức giận thấy mình bị bội phản
buông lời phản kháng
kẻ vô khám Chí Hoà
người bị quản thúc tại gia
đưổi gà cho vợ
thiên đường ước mơ sụp đổ

má Hai
đã quen dần với bo bo, với sắn với khoai
như người dân miền Bắc
những cán bộ xưa má nuôi trong hầm bí mật
đã ra lệnh bắt má mấy lần
má không đủ ăn
lấy đâu đóng thuế

bà Tám ôm tấm bằng Gia Đình Liệt Sĩ
bụng đói meo
làng trên xóm dưới ai cũng nghèo
tình người hiếm hơn hồi đó
bà ra mộ con ngồi nhổ cỏ
khóc thầm

những văn nhân
một thời phản chiến
« ngộ biến tòng quyền »
cố bẻ cong ngòi bút
nhưng với văn thơ, với nhạc
quen phóng túng tự do
sao chịu nổi gông xiềng
lại tiếc những ngày trời rộng thênh thang
muá bút

đám thanh niên hèn, khoác lác
tưởng được chế độ mới tin dùng
bị đi lao động quốc phòng
thanh niên xung phong
làm việc không công nơi rừng sâu nước độc
cháy da vàng mắt
đói lòng

những người dân
xưa chửi vung chửi vít
nay im thin thít
chẳng dám hé môi
một số kẻ lỡ lời
bị đi « tù không án »
khi cán bộ xưng tụng bác Hồ, ca ngợi Đảng
họ cao giọng hoan hô
vỗ tay thật to
nhưng bụng thầm ao ước được sống lại những ngày xưa cũ

sau ba mươi tháng tư, đớn đau tủi hổ
là gia đình người lính Cộng Hoà
kể bị cướp nhà
người bị cướp đất
con bị đuổi học
vợ mất sở làm
chồng đi tù biệt tăm
đi họp, cán bộ Cộng Sản mỉa mai nhiếc móc
ra đường bị lườm dọc nguýt ngang

đến khi ruộng vô tập đoàn
gạo vải sữa đường bán theo tiêu chuẩn
nhà máy công ty hãng xưởng
trờ thành quốc doanh
công an khu vực đầy quyền hành
thực thi chính sách nhân hộ khẩu
người dân chịu đời không thấu
mà chẳng dám than vãn kêu ca
bấy giờ gia đình người lính Cộng Hoà
mới nhận được những tia nhìn thiện cảm
nghĩ đến con, đến chồng, đến cha
trong nhà tù Cộng Sản
họ hãnh diện ngẩng đầu

hôm nay giữa trời cao
được thấy lá Vàng Ba Sọc Đỏ
phất phới bay trong gió
tôi muốn khóc thật to
tôi muốn hét lên
« Đây Hạnh Phúc ! Đây Tự Do ! »
Mà thuở nào tôi đã buông tay đánh mất
để phải chôn tháng năm tươi đẹp nhất
của cuộc đời
trong các trại tù rải rác khắp nơi
trên đất nước
họ hàng tôi, đồng bào tôi
những ai không đi được
mấy chục năm trường
gánh chịu đau thương
uất hận tủi hờn
nhìn quê hương tan nát
mẹ Việt Nam ơi ! Những đứa con lưu lạc
đã nhận rõ lỗi lầm
đang đấu tranh âm thầm
cho một ngày quang phục

sẽ còn nhiều khó nhọc
để dành lại giang san
từ tay bọn Cộng Sản tham tàn
nhưng kìa ! Phất phới bay trong gió
vẫn như ngày nào
lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ
mà sao hôm nay chính nghĩa sáng ngời
chẳng cần một lời luận bàn lý giải

tôi đứng lặng nhìn, lòng khoan khoái
lá cờ vẫn còn đây
thì quê hương ơi ! Sẽ có một ngày.

Phạm Đức Nhì
Viết tại San Leon sau một lần dự lễ dựng kỳ đài tại Houston

10 thg 9, 2012

Thủ tướng Singapore nêu chuyện biển Đông tại Trung Quốc

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có ý kiến với các lãnh đạo Trung Quốc rằng hình ảnh quốc tế của nước này quan trọng hơn những lợi ích ở biển Đông.


Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (phải) đón Thủ tướng Lý Hiển Long tại Bắc Kinh - Ảnh: AFP

Ông Lý vừa có chuyến thăm Trung Quốc kéo dài 6 ngày, kết thúc hôm 7.9. Ngoài các cuộc gặp gỡ với những lãnh đạo cao cấp nhất ở Bắc Kinh - trừ Phó chủ tịch Tập Cận Bình - ông Lý cũng đi thăm nhiều dự án lớn của Singapore ở các tỉnh khác. Tại Bắc Kinh ngày 6.9, ông có cuộc đối thoại ở Trường Trung ương Đảng với khoảng 300 quan chức cấp cao nước chủ nhà. Ông Lý đã phát biểu bằng tiếng quan thoại đến 40 phút, theo sau là phần hỏi đáp mà ông trả lời bằng tiếng Anh.

Lập trường của Singapore

Về quan hệ với Trung Quốc, ông Lý nói thẳng: “Đa số dân Singapore là người Hoa. Nhưng bao quanh chúng tôi là những quốc gia mà người Hoa chiếm thiểu số và vị trí của họ là một vấn đề chính trị tế nhị. Vì vậy, chính sách ngoại giao của chúng tôi là hành động độc lập dựa trên các lợi ích quốc gia của mình. Chúng tôi trân trọng quan hệ gần gũi với Trung Quốc và với các nước khác”.
Đứng trên lập trường đó, ông Lý nhìn nhận quan hệ Trung Quốc - Mỹ là quan hệ quan trọng nhất đối với mỗi bên và cả thế giới. “Toàn bộ khu vực chúng ta sẽ bị ảnh hưởng tùy thuộc vào sự phát triển của quan hệ này”, ông nói. Giữa lúc xuất hiện nhiều ý kiến về sự yếu đi của Mỹ, Thủ tướng Singapore chỉ ra rằng: “Mỹ không phải là quốc gia đang đi xuống. Mỹ sẽ tiếp tục là siêu cường trong một tương lai có thể dự đoán được”. Lý do, theo ông, là nước Mỹ có sức bật và sức sáng tạo tuyệt vời nhờ những người nhập cư. “Tất cả 8 người gốc Hoa từng đoạt giải Nobel đều là công dân hoặc cuối cùng cũng trở thành công dân Mỹ”, ông nhắc nhở.

Bất chấp vị trí khách mời ở Bắc Kinh, Thủ tướng Singapore nói: “Mỹ có những lợi ích chính đáng ở châu Á và có một vai trò ở đây mà không nước nào có được”. Vai trò đó, theo ông, không chỉ nhờ sức mạnh quân sự và kinh tế, mà còn vì những lý do lịch sử. “Đó là lý do nhiều quốc gia châu Á - Thái Bình Dương hy vọng Mỹ tiếp tục đóng góp vào hòa bình và ổn định của khu vực, và Singapore tin tưởng như vậy”, ông nói.

Giữ gìn hình ảnh

Ông Lý cũng thẳng thắn bày tỏ lo lắng rằng những diễn biến phức tạp gần đây trên biển Đông sẽ ảnh hưởng đến an ninh khu vực cũng như nền kinh tế, hoạt động giao thương đường biển của Singapore. “Singapore có lập trường rõ ràng và nhất quán trong vấn đề biển Đông. Chúng tôi không phải là quốc gia có tuyên bố chủ quyền nên không đứng về bên nào. Nhưng chúng tôi có những lợi ích sống còn ở đó”, ông phát biểu.

Ông đề nghị: “Tranh chấp chủ quyền và quyền khai thác các nguồn lợi ở biển Đông cần được giải quyết một cách hòa bình theo công pháp quốc tế, gồm Công ước LHQ về luật Biển”. Ông cũng kêu gọi ASEAN đoàn kết và thống nhất để tránh tình trạng các thành viên bị buộc phải chọn theo một thế lực nào đó. Bằng không, “Đông Nam Á sẽ trở thành đấu trường mà chẳng ai chiến thắng cả”, ông cảnh báo. “Biển Đông là trái tim của ASEAN. Vì vậy, nếu ASEAN không giải quyết được vấn đề tranh chấp thì uy tín của khối sẽ bị hủy hoại”. Bản tuyên bố lập trường 6 điểm của ASEAN về biển Đông vào ngày 20.7 là một tiến bộ, và “chúng tôi hy vọng Trung Quốc sẽ cùng ASEAN sớm đối thoại về Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông”, ông Lý nói.

Trong phần trao đổi với các quan chức nước chủ nhà, ông Lý cũng chỉ ra rằng những hành động của Trung Quốc ở biển Đông sẽ được các nước lấy làm cơ sở đánh giá ý nghĩa thực chất của việc nước này đang mạnh lên. Vì vậy, ông kỳ vọng Bắc Kinh sẽ “kéo dài giai đoạn trỗi dậy” bằng cách góp phần tạo dựng hòa bình và thịnh vượng cho chính mình, châu Á và cả thế giới, thay vì gây quan ngại như cách họ đang làm. “Các bãi cạn là quan trọng, các giếng dầu là quan trọng, các mỏ khí dưới lòng biển Đông cũng quan trọng. Nhưng hình ảnh dài lâu của Trung Quốc, không chỉ đối với ASEAN mà với cả thế giới, là cực kỳ quan trọng", ông Lý nhắc nhở.

Thục Minh
(VP Singapore)

2 thg 9, 2012

Sáu mươi bảy năm và bi kịch to lớn của cả dân tộc

Song Chi/Người Việt

Cứ vào ngày 2 Tháng Chín hàng năm, nhà cầm quyền Việt Nam lại long trọng tổ chức lễ kỷ niệm.
Báo chí nhà nước, nhất là những tờ đậm tính đảng như Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng... sẽ lại có những bài tổng kết, nhai lại những luận điệu cũ. Chẳng hạn như Việt Nam qua chặng đường dài hơn 6 thập kỷ “dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản đã liên tiếp đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” ra sao.

Mối quan tâm của hàng triệu người Việt Nam hiện nay là kiếm miếng ăn hàng ngày. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Truyền hình sẽ lại chiếu những hình ảnh về cái ngày 2 Tháng Chín năm 1945, những bộ phim tài liệu so sánh đất nước hồi đó và bây giờ đã phát triển vượt bực như thế nào. Các lãnh đạo lại xuất hiện, với những bài diễn thuyết hùng hồn về ý nghĩa của ngày độc lập, về hạnh phúc của dân tộc Việt Nam được có sự dìu dắt lãnh đạo của đảng...

Và cuối cùng chốt lại, “...Nhân dân Việt Nam cương quyết tiếp tục đi theo con đường đã chọn lựa là tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng của học thuyết Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường. Kiên quyết đập tan mọi âm mưu chống phá, diễn biến hòa bình đòi đa nguyên đa đảng của các thế lực thù địch trong ngoài” vân và vân.

Chỉ có điều, càng ngày dường như người dân càng ít quan tâm đến ý nghĩa thật sự của những dịp “lễ, giỗ chính trị” và những bài thuyết giáo hùng hồn của các ông lãnh đạo.

Với đa số người dân bình thường, ngày 2 Tháng Chín chỉ còn là một ngày mà người ta vui mừng vì được nghỉ làm, ai có tiền thì đi chơi, không có tiền thì nằm nhà nghỉ cho khỏe.

Với đa số người dân bình thường ở Việt Nam bây giờ, cuộc sống là một cuộc chạy đua vất vả với cơm áo gạo tiền hàng ngày.

Một cuộc đua mà trong đó người dân luôn luôn bị hụt hơi vì vật giá cứ chạy đằng trước họ một quãng xa. Trong khi hành trang của họ thì bị oằn xuống bởi gánh nặng thuế má chất chồng, do phải trả những món nợ khổng lồ gây ra bởi sự tham nhũng, lãng phí và làm ăn kém cỏi của nhà nước.

Cái gánh ấy còn nặng thêm bởi muôn ngàn nỗi lo nỗi sợ do trót phải sống trong một cái xã hội mà sự bình an trong tâm hồn, sự an toàn cho bản thân hay những khái niệm về tự do dân chủ là điều xa xỉ còn sinh mạng con người thì rẻ như bèo.

Với một gánh nặng như vậy, con người chỉ còn có thể chúi mũi đuổi theo cái vòng cơm áo hàng ngày. Chẳng hơi đâu mà nghĩ đến giấc mơ xã hội chủ nghĩa hay kịp hoàn hồn để vui sướng với “những thành tựu rực rỡ nhờ ơn đảng và nhà nước”!

Trong khi đó, những ai quan tâm đến vận nước, theo thời gian, ngày 2 Tháng Chín trở thành nỗi xót xa day dứt.

Theo thời gian, những luận điệu tuyên truyền kiểu như “dù sao đảng cộng sản cũng có công lao lớn đối với đất nước, dân tộc là đã giành được độc lập, đánh thắng hai đế quốc to Pháp, Mỹ, thống nhất đất nước, giữ vững sự hòa bình ổn định chính trị và đưa Việt Nam phát triển như ngày hôm nay...” dần dần không còn thiêng nữa.

Những thông tin từng một thời bị bưng bít, những tư liệu lịch sử... đã được tiết lộ khá nhiều với những ai muốn tìm biết sự thật.

Ðã từng có những câu hỏi nếu đảng cộng sản không giành được chính quyền, nếu như không có cái ngày 2 Tháng Chín năm 1945, nếu Việt Nam không đi theo con đường do đảng cộng sản lãnh đạo... số phận đất nước và dân tộc Việt Nam sẽ như thế nào.

Tất nhiên, sẽ không có cuộc chiến tranh với Pháp, không có vụ Cải Cách Ruộng Ðất, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, miền Bắc không phải đói nghèo đến thế do hậu quả của nền kinh tế bao cấp.

Ðất nước sẽ không bị chia cắt 2 miền. Không có cuộc chiến tranh Nam Bắc với Mỹ là đồng minh hỗ trợ cho miền Nam và Liên Xô, Trung Quốc cùng toàn bộ phe xã hội chủ nghĩa hỗ trợ, tiếp tế cho miền Bắc. Không có cái giá thống nhất phải trả bằng mấy triệu người ngã xuống và một đất nước hoang tàn.

Không có những chính sách sai lầm về kinh tế sau chiến tranh dẫn đến việc hàng triệu người bỏ nước ra đi, hàng triệu người khác nằm lại mãi mãi dưới lòng biển sâu. Kinh tế miền Nam bị đánh sập lùi lại hàng chục năm và cả nước suýt đứng bên bờ vực chết đói trước khi mở cửa về kinh tế.

Không có cuộc chiến Tây Nam với Campuchia và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc; Hoàng Sa, Trường Sa, thác Bản Giốc, hàng trăm kilomet lãnh thổ dọc biên giới phía Bắc và hàng trăm dặm lãnh hải không bị mất.

Việt Nam không bị tụt hậu hàng chục, thậm chí hàng trăm năm so với các nước láng giềng. Quan trọng nhất, Việt Nam không bị trói chặt, lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc từ chính trị cho đến kinh tế, và đứng trước nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược như hiện nay...

Nếu và nếu...

Không ai có thể quay ngược thời gian, quay ngược bánh xe lịch sử. Cũng chẳng có ích gì để nhắc mãi những chữ “nếu.”

Chỉ là để những người lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam, những kẻ bồi bút, cũng như những ai còn tin vào những gì nhà cầm quyền nói, hiểu rằng có phải nếu không có đảng thì dân tộc Việt Nam không có được ngày hôm nay hay ngược lại.

67 năm kể từ ngày đảng cộng sản tuyên bố nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, tức nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bây giờ, chỉ mong sao người dân ngày càng hiểu ra nhiều vấn đề.

Mong những ai đã có dịp đi du lịch sang các nước có mô hình thể chế tự do dân chủ, có thể so sánh người Việt Nam đang sống như thế nào và Việt Nam hiện đang tụt hậu về mọi mặt ra sao so với nước khác.

Mong những ai chưa từng đi du lịch bất cứ đâu, nhưng chỉ cần tìm hiểu qua các kênh thông tin bên ngoài, cũng nhận ra bi kịch của đất nước và sự thiệt thòi của dân tộc Việt Nam. Và nguy cơ tụt hậu càng xa lẫn nguy cơ mất nước khi còn tiếp tục đi theo mô hình thể chế chính trị hiện tại do đảng cộng sản lãnh đạo.

Ngay cả những ai không có cả thì giờ, điều kiện tìm hiểu thông tin bên ngoài, thì thực tế cuộc sống hàng ngày đã là những câu trả lời sinh động nhất.

Dân tộc này đã đổ máu quá nhiều, đã hy sinh vài thế hệ cho tham vọng cướp và giữ chính quyền của đảng cộng sản, nhưng cho đến ngày hôm nay, những ai thực sự được lợi từ cái giá quá đắt này?

Là những ông quan to quan nhỏ, tầng lớp tư bản đỏ, những kẻ tiếp tục thay thế tầng lớp phong kiến địa chủ cường hào ác bá ngày xưa để ngồi lên đầu lên cổ nhân dân, với mức độ còn tệ hại hơn. Người nông dân, công nhân, dân nghèo thành thị, công nhân viên chức, trí thức văn nghệ sĩ... tiếp tục bị bóc lột, bị khinh rẻ, chà đạp.

Ðất nước chưa bao giờ bị tàn phá đến vậy bởi một hệ thống chính quyền đã tạo ra và dung dưỡng, bao che cho bọn tham nhũng, bọn cướp ngày ngang nhiên vơ vét, bán tháo tất cả từ tài nguyên thiên nhiên, tài sản, lãnh thổ lãnh hải của đất nước. Cho đến từng đồng tiền đóng thuế, tiền gửi tiết kiệm... mồ hôi xương máu của nhân dân.

Ðất nước tiếp tục bị tàn phá bởi những kẻ bất tài, ngu dốt và tham lam, phá nát từ thiên nhiên, môi trường, đạo đức xã hội, văn hóa cho đến cái đẹp, cái thiện, thế giới tâm linh, nhân tính trong từng con người.

Chỉ cần nhìn từ cuộc sống trong xã hội Việt Nam hàng ngày cũng có thể nhận ra cái bi kịch hiện tại vô cùng to lớn của cả dân tộc.

Ðể hiểu rằng chỉ có người Việt Nam tự cứu lấy mình, cứu lấy dân tộc và đất nước.

Trước khi quá trình tàn phá được thực hiện trọn vẹn, để lại cho tương lai một đất nước tan hoang, rỗng ruột và những gánh nợ khổng lồ.

Trước khi quá trình xâm lược dần dần không tốn một viên đạn của nhà cầm quyền Trung Quốc cộng với sự tự nguyện cam tâm làm tay sai của nhà cầm quyền Việt Nam hoàn tất. Và người Việt Nam một buổi sáng thức dậy bàng hoàng nhận ra một chu kỳ Bắc thuộc mới lại bắt đầu!

12 THÁNG ANH ĐI