21 thg 4, 2015

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA VNCH

Nam Nguyên/RFA
Bốn mươi năm trước, vào ngày 30/4/1975, cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 2 thập niên đã kết thúc. Cuộc chiến quốc-cộng đã làm 2 triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc bỏ mạng cùng sự hy sinh của hơn 58 ngàn người thuộc lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh.

Nam Việt Nam lúc đó đã kết thúc sứ mệnh "tiền đồn của thế giới tự do" một cách nhanh chóng và cay đắng. Những ngày cuối cùng của VNCH đã diễn ra như thế nào?

Vỡ trận
Tháng 3/1975 trước thực tế tiềm lực quân sự suy yếu, đạn dược chỉ còn đủ dùng trong 30 ngày, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định tái phối trí lực lượng. Tuy vậy quyết định triệt thoái khỏi cao nguyên Trung phần tức Quân khu II và cách thức mà các tư lệnh chiến trường thực hiện nó là một sai lầm lịch sử. Sự hỗn loạn dẫn tới việc mất luôn cả khu vực Quân khu I ở phía Bắc Việt Nam Cộng Hòa, Huế rồi Đà Nẵng thất thủ và sự sụp đổ dây chuyền kéo dài tới quê hương của Tổng thống Thiệu là Phan Rang.

Trước áp lực từ nhiều phía, ngày 21/4/1975 Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định từ chức và rời khỏi Việt Nam hai ngày sau đó.

"Thưa đồng bào, anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức tổng thống và theo Hiến pháp, Phó Tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức Tổng thống..."

Khi nhà giáo Trần Văn Hương trở thành vị Tổng thống thứ ba của chế độ VNCH, thì cũng là lúc mặt trận Xuân Lộc tuyến phòng thủ cuối cùng của Saigon đã vỡ, các lực lượng của VNCH can trường chịu thiệt hại nặng và giữ vững được 12 ngày đêm.

Bàn giao - Diễn văn lịch sử

Giữ chức Tổng thống VNCH được 5 ngày và bất lực trước tình hình sụp đổ nhanh chóng, ngày 26/4/1975 Tổng thống Trần Văn Hương yêu cầu Quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hòa bình hòa giải dân tộc. Quốc hội VNCH ra nghị quyết chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh vào chức vụ Tổng thống. Trên thực tế Hiến pháp VNCH đã không còn được thi hành từ thời điểm này.

Chiều 28/4/1975 lễ bàn giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập. Nam Nguyên của ban Việt ngữ RFA lúc đó là Đặc phái viên của Hệ thống Truyền thanh Quốc gia đã thực hiện cuộc Trực tiếp Truyền thanh cuối cùng của mình từ Dinh Độc Lập. Đoạn ghi âm lịch sử mà quí thính giả sắp nghe là những lời của Tổng thống Trần Văn Hương đan xen với tường thuật của Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến thuộc Hệ thống Truyền thanh Việt Nam:

Tổng thống Trần Văn Hương: "...Làm thế nào cho dân được sống yên...làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của Đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của đại tướng...(vỗ tay)

Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến : "...Sau khi nguyên Tổng thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu Tổng thống hai con rồng bay xuống...và thay thế bằng một huy hiệu Tổng thống mới với hình một hoa mai năm cánh...Đây là Phóng viên Hệ thống Truyền thanh Việt Nam, quí thính giả đang theo dõi Trực tiếp Truyền thanh lễ trao nhiệm chức Tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu Đại tướng Dương Văn Minh...Thưa quí thính giả vào lúc này bên ngoài dinh Độc lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Saigon đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước..."

Một trong hàng triệu thính giả đã nghe cuộc trực tiếp truyền thanh lịch sử ngày 28/4/1975 là ông Nguyễn Quốc Thái, một nhà báo thuộc nhóm tạp chí Hành Trình, Đất Nước và Trình Bầy. Ba tờ báo này do một nhóm trí thức công giáo được cho là thiên tả chủ trương và có khuynh hướng đối lập với chính phủ. 40 năm sau cuộc bàn giao lịch sử giữa hai vị Tổng thống Trần Văn Hương và Dương Văn Minh, từ Saigon ông Nguyễn Quốc Thái cho biết cảm nhận của ông vào thời điểm chiều 28/4/1975:

"Lúc đó tôi biết mọi chuyện đã xong rồi; có một hiển hiện rõ ràng là tất cả những người có thể giữ lại miền Nam thì đã rời khỏi miền Nam. Đây là một cuộc bàn giao theo sắp xếp, nhưng có người hoang tưởng rằng việc đảm nhận chức vụ đó có thể trao đổi thỏa thuận với phía bên kia là Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam... Nếu nhìn lại cuộc bàn giao đó thì thấy rằng đây là một cái gạch nối quá ngắn, mà chỉ làm một cái việc đã được sắp xếp, đã được hứa hẹn trong hoang tưởng của người nhận trách nhiệm lúc đó."
Khí tiết Việt Nam: tướng chết theo thành

4 thập niên sau ngày sụp đổ của Miền Nam Tự do dưới danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, nhiều tài liệu lịch sử đã được bạch hóa cho thấy Hoa Kỳ chỉ mong muốn việc rút quân của họ được an toàn trong một khoảng thời gian nhất định và thích hợp; tương lai của VNCH hầu như đã được quyết định trong Hiệp định Paris 27/1/1973. Nam Việt Nam rơi vào số phận nghiệt ngã vì bị đồng minh bỏ rơi, những mật ước của Tổng thống Nixon với TT Thiệu đã đi vào quên lãng. Hoa Kỳ đã không can thiệp quân sự khi phía Cộng sản vi phạm Hiệp định Paris lấn chiếm lãnh thổ với những cuộc tấn công qui mô.

Vào những ngày cuối cùng của Nam Việt Nam, Đại tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng; mặc dầu bản thân ông Minh và bộ tham mưu của ông có thể có những người vẫn còn tin vào giải pháp chính phủ liên hiệp như Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Nhậm chức chưa đầy 48 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, tuyên bố của ông được phát đi trên hệ thống Truyền Thanh Quốc gia vào buổi trưa ngày 30/4/1975.

"Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam...Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận Lễ bàn giao Chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào..."

Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập đi lập lại lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh, cũng như nhật lệnh tương tự của Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm phụ tá cho Trung tướng Vĩnh Lộc vị Tổng Tham mưu trưởng sau cùng, quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước. Nhiều vị tướng lãnh, sĩ quan cao cấp đã tuẫn tiết sau lệnh đầu hàng như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai...

Xe tăng Cộng sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập, bộ đội xe tăng treo lá cờ của Mặt trận Giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11g 30 trưa ngày 30/4/1975, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Miền Nam tự do hay VNCH là một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản và được Hoa Kỳ hỗ trợ. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hòa và tồn tại được 21 năm. Cuộc chiến Quốc - Cộng giữa những người cùng chung giòng máu nhưng khác ý thức hệ đã làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58.000 quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ khác của các nước đồng minh như Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.
Tiếp thu dinh Độc Lập

Thưa quí thính giả, cũng là một sự tình cờ lịch sử, khi cờ của Mặt trận Giải phóng đã tung bay trên Dinh Độc Lập, thì các đại diện chính trị của bên Cộng sản chưa vào tới Saigon để tiếp nhận Chính quyền. Do vậy ông Bùi Tín lúc đó là Trung tá trong vai trò một nhà báo Cộng sản Bắc Việt, cũng là người có cấp bậc cao nhất và được bộ đội xe tăng ủy quyền vào Dinh gặp Chính quyền Dương Văn Minh. Ông Bùi Tín hiện nay tỵ nạn chính trị ở Pháp. Năm 2005 từ Paris ông Bùi Tín kể lại giây phút lịch sử khi ông giáp mặt ông Dương Văn Minh và toàn thể nội các Vũ Văn Mẫu:

SB: " Tôi là người đầu tiên tiếp xúc, ông Dương Văn Minh và tất cả đứng dậy...ông Minh nói là chúng tôi chờ quí vị tới từ sáng nay, đặng chuyển giao chính quyền....Tôi có trả lời là, tất cả chính quyền các ông không còn nữa qua cuộc tấn công của chúng tôi...cho nên không thể bàn giao cái gì đã không còn nữa..."

Do sự kiện cựu Đại tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Nhân dân đã tỵ nạn chính trị khi sang Pháp dự Hội Báo L'humanité năm 1990, kể từ đó báo chí Hà Nội tường thuật những câu chuyện hoàn toàn khác với lời kể của ông Bùi Tín.

Vào những thời khắc sau cùng của chế độ VNCH, chuyện gì xảy ra ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ? Câu hỏi này đã được chúng tôi đặt ra với ông Robert Funsett, người vào thời điểm đó đang là Người Phát Ngôn cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Năm 2005 ông Funsett kể lại với Ban Việt Ngữ chúng tôi như sau:

"Ðúng giờ này, vào chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, giờ Washington tức rạng sáng 30/4 theo giờ Việt Nam, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ Trung Tâm Ðiều Hành ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Phillip Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Ðại Sứ Graham Martin.

Ðại Sứ Martin chưa muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Tòa Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội. Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên."
Đồng minh bội ước

Sau 4 thập niên từ khi chấm dứt chiến tranh các tài liệu hồ sơ của Tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã được bạch hóa. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa đã được định đoạt và Nam Việt Nam sẽ chỉ tồn tại cho đủ thời gian để Hoa Kỳ rút chân khỏi cuộc chiến một cách an toàn. Đây là một thực tế phũ phàng của lịch sử. Việt Nam Cộng Hòa có cái giá phải trả khi hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ.

Bị Washington cắt viện trợ quân sự và kinh tế, VNCH đơn độc trong cuộc chiến chống cộng. Vào năm 1975 không có nhiều người ở miền Nam tự do thấy trước là số phận của mình đã được các siêu cường sắp đặt. Khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và ra đi, quân dân VNCH chịu nhiều nỗi thống khổ với muôn vàn oán hận ông. 15 năm sau sự sụp đổ của VNCH, xuất hiện tại California Hoa Kỳ năm 1990, cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đăng đàn trả lời chất vấn của cộng đồng người Việt. Sau đây là một trích đoạn những biện giải của ông Nguyễn Văn Thiệu:

" Tổng Thống Nixon có nói nếu như không có vụ Watergate thì tình trạng Việt Nam không đến nỗi như vậy. Chúng ta tin hay không tin là quyền của chúng ta. Nhưng chúng ta chỉ làm việc trên sự kiện người ta cúp viện trợ quân sự, cúp viện trợ kinh tế, ngoại giao thì áp lực và không có phản ứng mãnh liệt. Trong lúc đó Nga Xô và Trung Cộng thì tăng cường viện trợ cho cộng sản và họ thừa thắng xông lên để xâm chiếm miền Nam đặt thế giới và Hoa Kỳ trước một việc đã rồi. Cho nên tôi phải từ chức, cái hành động mà tôi từ chức ngay lúc đó chính tôi cũng đã thấy khó chịu rồi. Nhưng mà tôi không có một sự lựa chọn nào khác, nếu như tôi còn ngồi thì tôi mang tội với nhân dân, là vì ông còn ngồi mà Mỹ không viện trợ bởi vì ai nấy cũng được cho hiểu như vậy, vì ông còn ngồi mà Việt Cộng không thương thuyết, phải có Dương Văn Minh lên mới được thương thuyết vì ông còn ngồi mà chiến tranh còn triền miên chết chóc. Tôi thấy lịch sử sẽ chứng minh cái đó trúng hay trật, cái đó để cho lịch sử và nhân dân, nhưng bổn phận của tôi là một Tổng thống lúc đó tôi phải ra đi."

Lịch sử đã sang trang từ 40 năm qua, những người chịu trách nhiệm hay là chứng nhân một giai đoạn lịch sử của VNCH đều đã khuất bóng. Việt Nam đã thống nhất từ năm 1976 nhưng 40 năm qua những người cộng sản chiến thắng đã tự ru ngủ mình, theo cách nói của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

4 thập niên sau chiến tranh, vào tháng 3/ 2015 Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận Việt Nam phát triển quá chậm, kém xa 6 nước sáng lập ASEAN, hiện nay có nhiều lãnh vực còn thua kém cả Lào và Campuchia.

Nước Việt Nam thống nhất đã 40 năm nhưng vẫn còn quá nhiều câu hỏi được đặt ra về sự tụt hậu cũng như vấn đề dân chủ, dân quyền và nhân quyền.

Nam Nguyên/RFA

15 thg 3, 2015

Nhật ký Biển Đông: Chiến tranh lạnh lan qua Á Châu

Đào Văn Bình
(California ngày 15/3/2015)

Nhật ký Biển Đông trong hai tuần tháng ba ghi nhận những chuyển biến quan trọng như sau: NewsMax ngày 1/3/2015: “Theo bản tường trình thuộc báo chí Kuwait, vào năm 2014,Tổng Thống Obama dự trù bắn rơi máy bay Do Thái nếu những máy bay này tiến hành oanh tạc các cơ sở hạt nhân của Ba Tư.
- Theo bản tường trình của Al-Jarida, chính lời đe dọa - được cho là như vậy- đã khiến Thủ Tướng Benjamin Netanyahu hủy bỏ kế hoạch oanh tạc đã được soạn thảo.
-Voice of Russia ngày 1/3/2015: Trong bài viêt “Khủng hoảng Ukraine và những cơ hội cho Trung Quốc” Vasily Kashin nhận định, “Huy động mọi nỗ lực hòng răn đe quân sự và cô lập Nga về ngoại giao, Hoa Kỳ khó có thể cùng lúc mở rộng sự hiện diện quân sự của mình ở Đông Nam Á. Như vậy, Trung Quốc sẽ có cơ hội tích lũy thêm tiềm lực và củng cố vị thế trong nền chính trị quốc tế.”

-Reuters (Paris) ngày 2/3/2015: “Sau cuộc họp với Tổng Thư Ký NATO vào ngày Thứ Hai, Tổng Thống Pháp Francois Hollande nhắc lại nhu cầu ngưng bắn ngay lập tức tại Ukraine và rút vũ khí nặng ra khỏi đường biên giới giao tranh. Thỏa hiệp Minsk là giải pháp duy nhất để tái lập hòa bình.”

-YahooNews ngày 2/3/2015: Trong bài viết nhan đề “Xem lại hiến pháp: Liệu Hạ Viện hành động bất hợp pháp khi mời Netanyahu? (Constitution Check: Did the House act illegally in inviting Netanyahu?), Lyle Denniston (1) viết, “Đáng lý ra các lãnh đạo lập pháp Hoa Kỳ phải suy nghĩ kỹ hơn khi đưa ra lời mời. Mặc dù nó không vi phạm văn tự của Hiến Pháp. Nhưng chắc chắn nó vi phạm nguyên tắc chỉ có một tiếng nói cho một quốc gia trong vấn đề đối ngoại và các lãnh đạo ngoại quốc không thể lựa chọn hoặc muốn thương thảo với quốc hội hay thương thảo với tổng thống.” (U.S. congressional leaders probably should have given this invitation more thought. Although not a violation of the letter of the Constitution, it certainly seems to violate the idea that the nation speaks with one voice on foreign policy and that foreign leaders cannot choose whether they prefer to deal with Congress or the president.) Thực ra Lyle Denisson muốn giảm nhẹ tính cách nghiêm trọng của vấn đề. Nếu nói “vi hiến” thì ghê gớm quá! Nhưng rõ ràng Hiến Pháp Hoa Kỳ quy định “quyền ngoại giao thuộc về hành pháp, tức tổng thống”. Nay Quốc Hội giành lấy quyền đó thì vi hiến đã rành rành ra đó rồi! Chẳng hạn ngày mai tổng thống làm luật mà không thông qua Quốc Hội thì có vi hiến không? Dầu sao thì Lyle Denission chỉ phân tích được sự kiện chứ không nêu được bản chất của vấn đề. Do cấu trúc “lưỡng đảng” và “check and banlance” đã khiến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trở thành “lưỡng đầu” tức lập pháp lúc nào cũng có thể can dự vào chính sách đối ngoại của tổng thống khiến tình hình rối beng. Sự kiện “Boehner và Netanyahu” đánh dấu bước khởi đầu suy thoái nghiêm trọng về quyền lực đối ngoại của tổng thống Mỹ trên chính trường quốc tế. Chẳng hạn khi tổng thống Hoa Kỳ ký kết hiệp ước hợp tác chiến lược hay hợp tác an ninh với một quốc gia nào đó, trong cuộc họp báo, một ký giả có thể cắc cớ hỏi, “Thưa tổng thống, tổng thống đã xin phép quốc hội để ký kết hiệp ước này chưa? Liệu trong tương lai, quốc hội Hoa Kỳ có mời thủ lãnh đối lập của quốc gia này đọc diễn văn tại quốc hội để chống lại hiệp ước không?” Thêm vào đó, VOA tiếng Việt ngày 10/3/2015 loan tin, “Ngoại trưởng Iran nói rằng lá thư của các thượng nghị sĩ Mỹ thuộc đảng Cộng hòa cảnh báo là thỏa thuận hạt nhân có thể có với Iran có thể bị hủy bỏ một khi Tổng thống Barack Obama rời khỏi chức vụ cho thấy Hoa Kỳ không đáng tin cậy.Tại Tehran, Ngoại trưởng Javad Zarif nói với đại hội chuyên gia, cơ quan hàng đầu của các giáo sĩ Iran, rằng lá thư của 47 thượng nghị sĩ Mỹ là không có tiền lệ và không phù hợp với nguyên tắc ngoại giao. Ông Zarif nói thêm rằng thật ra, nó cho chúng ta thấy rằng chúng ta không thể tin nước Mỹ. Quan hệ đối ngoại của Mỹ với các chính phủ khác hầu như lúc nào cũng được thực hiện bởi các vị tổng thống và các nhà ngoại giao; và sự can thiệp trực tiếp của các nhà lập pháp qua lá thư đó đã gặp phải sự đả kích gay gắt của Tổng thống Obama.Tổng Thống Obama cho rằng thật là mỉa mai khi thấy một số thành viên Quốc Hội muốn có cùng mục tiêu với những thành phần cứng rắn ở Iran.” Báo USNews ngày 10/3/2015 cho rằng bức thư của 47 thượng nghị sĩ gửi cho Iran đã vi phạm luật lệ (GOP Senators Probably Broke Law With Iran Letter).

Còn ABC News nói rằng, theo một sồ giáo sư dạy luật và nhà bình luận, hành động của 47 thượng nghị sĩ có thể là một tội phạm (might be a crime). Căng thẳng hơn nữa, AFP ngày 11/3/2015 loan tin, “155,000 người đã ký thỉnh nguyện thư gửi Tòa Bạch Ốc yêu cầu truy tố 47 thượng nghị sĩ Đảng Cộng Hòa tội phản nghịch khi gửi thư cho các nhà lãnh đạo Ba Tư về những thương thảo về nguyên tử đang diễn ra.” Như vậy nội tình nước Mỹ ngày càng rối beng và không còn ra thể thống gì nữa? Người ta có thể truy tố một công dân nào đó về tội phản nghịch chứ làm sao có thể truy tố 47 thượng nghị sĩ đương quyền về tội phản nghịch được? Quyền tự do phát biểu bất khả xâm phạm của các dân biểu và thượng nghị sĩ ở đâu? Có thể quy kết các ông này hành động điên khùng và vi hiến cho nên văn thư nói trên hoàn toàn vô giá trị xong rồi từ từ để nội vụ “chìm xuồng” Cộng Hòa và Dân Chủ, Tổng Thống và Quốc Hội cùng nhau rút ra bài học cho quyền lợi của nước Mỹ. Càng làm lớn chuyện ra, nước Mỹ càng xấu hổ vì nước Mỹ vẫn thường tự hào và “lên lớp” cho toàn thế giới về tinh thần thượng tôn luật pháp “Due Process of Law” và có một nền chính trị tân tiến và hữu hiệu nhất. Ngày 12/3/2015, theo AFP, Ngoại Trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier đã trách cứ các thượng nghị sĩ Cộng Hòa là bức thư làm suy giảm niềm tin của Iran trong cuộc thương thảo trong đó có Đức tham dự. Như vậy câu chuyện đổ bể tùm lum. Tôi sợ rồi đây sẽ còn nhiều quốc gia khác lên tiếng chê bai, bình phẩm về nền chính trị Hoa Kỳ.

-AFP (Washington) ngày 3/3/2015: “Theo bản báo cáo mới nhất vào Thứ Ba, lực lượng an ninh A Phú Hãn chịu tổn thất nặng nề trên chiến trường và một số lớn binh sĩ đã từ nhiệm hoặc rời bỏ đơn vị. Giữa Tháng 10, 2013 và Tháng 9, 2014 khoảng 1300 binh sĩ A Phú Hãn bị giết và 6200 bị thương.” Đây là tin đáng buồn cho Mỹ và NATO. Cuộc chiến A Phú Hãn khởi đầu từ năm 2001 do liên quân Mỹ cầm đầu gồm 42 quốc gia quân sự hùng mạnh nhất hành tinh này, với kết quả 2000 lính Mỹ chết, chi phí gần 1200 tỉ đô-la vừa cho chiến trường vừa viện trợ vừa để huấn luyện quân đội A Phú Hãn. Năm 2014, Mỹ tuyên bố cuộc chiến chấm dứt, rút quân và để lại một quân đội với thành tích chiến đấu như trên. Nếu lực lượng Taliban tiếp tục lớn mạnh, để cứu nguy Kabul, có lẽ Mỹ phải nhảy vào một lần nữa như cuộc chiến ở Iraq. Thế mới hay, Mỹ có thể đánh bại và tiêu diệt một chính quyền như Iraq, Afghanistan, Libya trong chớp nhoáng nhưng chính quyền do Mỹ lập lên không có khả năng đề kháng lại sức chiến đấu dai dẳng của lực lượng kháng chiến và thường xụp đổ hoặc đất nước bị chia cắt hoặc triền miên bất ổn.

-Business Insider ngày 3/3/2015: Trong bài viết “Nga và Ai Cập càng xích gần lại nhau hơn nữa” (Russia and Egypt just got even closer) tờ báo cho biết hai quốc gia sẽ tiến hành tập trận hải quân chung trên Địa Trung Hải và Ai Cập sẽ tuyển chọn sĩ quan để được huấn luyện tại học viện quân sự Nga. Quan hệ Mỹ-Ai Cập đã xấu đi kể tử khi Tướng al-Sisi đảo chính lật đổ chính quyền dân cử của Ô. Morsi năm 2013. Hiện nay Mỹ cũng đang lên án nhà cầm quyền quân sự Thái Lan đã lật đổ chính quyền hợp pháp của Bà Yingluck khiến chính quyền này ngả dần sang Trung Quốc. Thực ra việc đảo chính lật đổ các chính quyền ở Ai Cập và Thái Lan chỉ là chuyện chính trị nội bộ của người ta và thế giới chẳng ai quan tâm vì nó không ảnh hưởng tới an ninh khu vực, nhưng Mỹ cứ can thiệp vào vì Mỹ tự cho mình “thiên chức” bảo vệ dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới. Chính vì thế mà Mỹ cứ mất dần đồng minh.

-AP (Seoul): Truyền thông Nam Hàn cho hay Đại Sứ Hoa Kỳ Mark Lippert bị tấn công khi đang diễn thuyết và được đưa vào bệnh viện. Đài tuyền hình YTN trình chiếu hình ảnh Lippert bi rạch ở má và cổ tay nhưng vết thương không nguy tới tính mạng. Truyền hình YTN cho biết hung thủ có tên Kim Ki-jong đã bị bắt sau sau đó. Theo cảnh sát, người đàn ông vung con dao cạo và miệng hô khẩu hiệu hống nhất Nam- Bắc Hàn. Những người biểu tình chống Mỹ tại Hán Thành (Seoul) mới đây đã lên tiếng chống đối những cuộc tập trận hằng năm của Mỹ và Nam Hàn mà Bắc Hàn nói rằng được chuẩn bị cho cuộc xâm lăng. Còn Hán Thành và Hoa Thịnh Đốn nói rằng những cuộc tập trận kéo dài tới cuối Tháng Tư chỉ có tinh tự vệ và thường xuyên.” Hãng AP nói thêm, vụ tấn công vị đại sứ Hoa Kỳ cho thấy tính bạo lực trong xã hội Nam Hàn, một số người sẵn sàng hy sinh tính mạng để bày tỏ quan điểm của mình. Trong khi đó thành phần khuynh tả (2) cũng tức giận vì sự hiện diện quân sự Mỹ ở Bán Đảo Triều Tiên.

-Yahoo News ngày 5/3/2015: “Một thống kê lạnh người. Theo Bộ Cựu Chiến Binh, hai mươi hai (22) cựu chiến binh Hoa Kỳ tự tử một ngày. Nạn nhân mới nhất, Đại Úy Trừ Bị Không Quân Jamie Bruette trẻ tuổi nhất có năm con, sau hai lần tăng phái tham dự chiến trường Afghanistan và sau 11 năm phục vụ trong không quân. Nguyên do khiến các cựu chiến binh tự tử là vì chứng “post-traumatic stress disorder” PTSD (3) là chứng rối loạn thần kinh kéo dài do gặp phải những biến cố gây chấn động cân não. “ Nhưng theo một thống kê khác của năm 2007 khoảng 18 cựu chiến binh Hoa Kỳ tự tử mỗi ngày.

-AP ngày 5/3/2015: “Thủ Tướng Ý Đại Lợi viếng thăm Moscow vào Thứ Năm trong một nỗ lực hàn gắn mối quan hệ giữa Nga- Tây Phương bị tổn thương vì cuộc khủng hoảng Ukraine. Hầu hết các lãnh đạo Phương Tây đều lánh xa Moscow khi bang giao đã xuống tới mức thấp nhất kể từ Chiến Tranh Lạnh. Chuyến thăm viếng của Thủ Tướng Matteo Renzi phản ảnh mong muốn cải thiện quan hệ song phương về kinh tế đã bị tổn hại vì Liên Hiệp Âu Châu đã áp đặt lệnh cấm vận và những biện pháp trả đũa của Nga.”

-BBC tiếng Việt ngày 6/3/2015: Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius trong dịp viếng thăm Đại Học Quốc Gia Hà Nội tuyên bố, “Không có điều gì là không thể” trong quan hệ giữa hai nước, chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ sẵn sàng tiếp thêm sức mạnh cho Việt Nam bay cao và bay xa hơn nữa.”

-AP (Tel-Aviv, Israel) ngày 7/3/2015: “Vài chục ngàn người đã xuống đường biểu tình tại Quảng Trường Tel Aviv giương cao biểu ngữ ‘Do Thái Muốn Thay Đổi’ và kêu gọi thay thế Thủ Tướng Netanyahu trong cuộc bầu cử vào 17 Tháng 3 tới đây. Cuộc biểu tình do nhóm bất vụ lợi tổ chức kêu gọi thay đổi những chính sách ưu tiên của quốc gia và yêu cầu chính phủ tái tập trung vào các vấn đề như y tế, giáo dục, gia cư/nhà ở và giá sinh hoạt của người dân.”

-AFP ngày 8/3/2015: “Ngoại Trưởng Vương Nghị của Trung Quốc cam kết tiến hành hợp tác kinh tế và ngoại giao với Nga cho dù Phương Tây áp đặt lệnh cấm vận Nga do cuộc khủng hoảng Ukraine và nhấn mạnh rằng mối liên hệ dựa trên nhu cầu hỗ tương/hai bên đều có lợi.

-AFP ngày 8/3/2015: “Trên sàn/boong tàu Hàng Không Mẫu Hạm Charles de Gaulle, Tướng Demsey- Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ bênh vực nhịp độ không kích chống lại Nhà Nước Hồi Giáo IS và cảnh cáo rằng leo thang oanh tạc và gửi thêm binh sĩ Hoa Kỳ tới Iraq và Syria là một sai lầm và thay vào đó ông đề nghị một chiến lược kiên trì để chống nhóm IS. Theo Tướng Dempsey, mở rộng oanh kích có thể khiến thường dân thương vong và IS lấy cớ đó để tuyên truyền.” Lời thú nhận của Tướng Dempsey cho thấy số thường dân chết trong các vụ oanh kích ở Iraq và Syria rất cao khiến Nhóm IS lấy cớ đó kêu gọi chí nguyện quân trên toàn thế giới. Hiện nay Nhóm Boko Haram ở Nigeria đã gia nhập và nguyện trung thành với Nhà Nước Hồi Giáo IS. Tại Libya, hai chính quyền cùng tranh nhau cai trị đất nước, và các nhóm chủ chiến có liên hệ mật thiết với al Qaida và Nhà Nước Hồi Giáo IS tung hoành không một thế lực nào ngăn cản được. Các nước như Hoa Kỳ, Anh và Ý Đại Lợi đã đóng cửa tòa đại sứ tại Tripoli.

-Business Insider ngày 10/3/2015: “Theo một số nguồn tin từ Trung Quốc và Đài Loan, các giới chức Hoa Lục đã xác nhận là đất nước này đang tự đóng một hàng không mẫu hạm (HKMH) thứ hai. HKMH Liêu Ninh theo các chuyên viên quân sự có tính huấn luyện hơn là khả năng tác chiến.”

-Reuters ngày 12/3/2015: “ Tờ Finacial Times cho biết, Liên Hiệp Âu Châu hỗ trợ quyết định của Euratom (Cộng Đồng Năng Lượng Nguyên Tử Âu Châu) ngăn chặn thỏa hiệp nhà máy nguyên tử trị giá 12 tỉ euro giữa Hung Gia Lợi và Nga. Hành động này có thể làm cho tình hình giữa Nga và Brussels trở nên tệ hại hơn.”

-Business Insider ngày 13/3/2015: “Trang nhất của tờ Financial Times (Anh Quốc) vào sáng Thứ Sáu đã đi một bản tin làm mọi người ngạc nhiên phản ảnh căng thẳng ngoại giao hiếm thấy giữa các giới chức cao cấp nhất của Hoa Kỳ và Anh Quốc - chính phủ Anh bị Hoa Kỳ cáo buộc là thường xuyên “chiều theo ý” của Hoa Lục - một cường quốc đang lên.” Chiều theo Trung Quốc ở đây có nghĩa là: Anh Quốc chúc mừng Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu (Asia Infratructure Investment Bank) do Trung Quốc thiết lập và ngỏ ý gia nhập ngân hàng này vốn là đối thủ của World Bank do Hoa Kỳ khống chế. Thứ hai, Anh Quốc tự chế không công kích Hoa Lục khi phong trào biểu tình ở Hongkong nổ ra. Thứ ba, tuyên bố sẽ không có cuộc gặp gỡ nào nữa với Đức Dalai Lama sau cuộc tiếp xúc vào năm 2013 gây phẫn nộ từ phía Hoa Lục.” Thế mới hay dù là đồng minh chí cốt nhưng vẫn có mâu thuẫn về quyền lợi như thường. Và hành động của Anh Quốc khiến Hoa Kỳ chạm tự ái vì đã nâng cao vị thế của Hoa Lục và làm suy giảm ngôi vị “võ lâm chí tôn” của mình.

-Bloomberg News ngày 13/3/2015: “Việt Nam bắt đầu xây dựng hệ thống điện gió (Wind Farm) tại Tỉnh Darlac thuộc Vùng Cao Nguyên trị giá 281 triệu đô-la, có công xuất 120-megawatt. Công ty General Electric của Hoa Kỳ sẽ cung cấp 60 turbines . Đợt đầu được phát điện vào năm 2016. Còn Vestas Wind Systems - một công ty điện gió lớn nhất thế giới đã ký khế ước trị giá 436 triệu đô-la để xây dựng hệ thống điện gió tại Sóc Trăng vào năm 2016.”

-AP (Tokyo) ngày 13/3/2015: “Nhật Bản và Pháp vừa ký thỏa hiệp hợp tác và chuyển giao kỹ thuật - mở đường cho việc chế tạo máy bay không người lái và những thiết bị không người lái khác trong khi Nhật đang tìm cách mở rộng vai trò quân sự trên quy mô quốc tế.”

Nhận Định:

Trong hai tuần qua, những diễn biến mới nhất cho thấy cuộc Chiến Tranh Lạnh Mới giữa Nga và Mỹ ngày càng quyết liệt và lan rộng từ Âu Châu sang Á Châu.

1) The World Post ngày 2/3/2015 trong bài báo nhan đề “Tại Ukraine, Hoa Kỳ đang trả giá cho một Chiến Tranh Lạnh Mới” (In Ukraine, U.S. Is Forfeiting New Cold War) tác giả Shai Franklin viết, “Không, Liên Bang Sô-viết không tái xuất hiện. Nhưng Liên Bang Nga đang tự khẳng định mình là ai và một Chiến Tranh Lạnh Mới đã mở màn. Mặt trận đầu tiên của cuộc chiến tranh này là Ukraine. Những gì mà Hoa Kỳ phản ứng đang ảnh hưởng tới hành động của Nga và cả Âu Châu suốt phần còn lại của thế kỷ. Trừng phạt kinh tế Nga là một niềm an ủi tệ hại nếu chúng ta vẫn còn để Ukraine sụp đổ về tài chính lẫn quân sự.” (No, the Soviet Union isn't coming back. However, the Russian Federation is reasserting itself and a new Cold War has already opened. The first front in this war is Ukraine. How the United States responds now will influence how Russia acts and how Europe evolves for the rest of this century. Punishing Russia economically is poor consolation if we still allow Ukraine to collapse financially and militarily.)

2) Voice of Russia ngày 7/3/2015: “Đại diện thường trực của Nga tại Liên Hợp Quốc, Ô. Vitaly Churkin tuyên bố sự xuất hiện của quân đội Mỹ ở Ukraina có thể trở thành thảm họa.”

3) BBC Âu Châu ngày 8/3/2015: “Henry Kissinger- Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ nói với BBC tuần rồi là Nga và NATO cần nghiêm túc tìm kiến giải pháp ngoại giao cho cuộc khủng hoảng Ukraine, nếu không thì nguy cơ Chiến Tranh Lạnh có thể là không tránh khỏi.” Vào ngày 9/3/2015, Hoa Kỳ đã gửi hằng trăm xe bọc thép và chiến xa tới các quốc gia vùng Baltic bao gồm Estonia, Latvia và Lithuania để ngăn chặn sự đe dọa từ Nga. Các quốc gia này đều đã gia nhập Liên Minh Âu Châu và NATO. Theo Business Insider, một cuộc thăm do mới nhất của Levada Center cho thấy hơn 81% dân Nga nhìn Hoa Kỳ với con mắt không thiện cảm (negative). Con số này gia tăng gấp đôi so với năm ngoái.”

4) The Fiscal Times ngày 10/3/2015: “Moscow thông báo sẽ ngưng mọi sự liên hệ tới thỏa hiệp về vũ khí ký kết khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc. Thỏa Ước Về Quân Đội Quy Ước Âu Châu (The Treaty on Conventionnal Armed Forces in Europe) được ký năm 1990 bởi 16 quốc gia NATO và 6 quốc gia thuộc khối Warsaw nhằm hạn chế quân số, chiến xa, pháo binh và những thiết bị quân sự phi -nguyên-tử đóng ở Âu Châu.” Đây là điềm không tốt báo hiệu sự bất ổn triền miên cho Âu Châu và cuộc Chiến Tranh Lạnh Mới giữa Nga và Phương Tây (Mỹ &NATO) thật sự bắt đầu.

5) Value Walk ngày 11/3/2015 trong bài viết có tựa đề “Nga và Hoa Kỳ Đang Lao Tới - Có Thể Là Cuộc Chiến Tranh Nguyên Tử” (Russia, U.S. Heading Towards A Possible Nuclear War) đã trích dẫn lời của Ô. Jack Matlock- Cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Nga dưới thời Tổng Thống Reagan như sau: “Hoa Kỳ không có lợi ích nào khi can thiệp vào Ukraine để chấp nhận một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân. Nếu như có một đe dọa lớn đối với an ninh quốc gia thì là như thế. Tổng Thống Obama phải công khai ngưng cuộc đọ kiếm tay đôi với Vladimir Putin. Matlock mô tả mối liên hệ hiện tại Nga-Mỹ là độc hại. Ưu tiên lớn nhất của Phương Tây là tái lập mối quan hệ dân sự với Moscow.” Còn Ramsey Clark - cựu Bộ Trưởng Tư Pháp của Ô. Obama, năm ngoái đã gửi một bức thư ngỏ cho tổng thống của mình trong đó nói, “Không có gì nguy hiểm hơn là hành động hung hăng của Mỹ/NATO đưa quân tới sát biên giới Nga.”

6) Reuters (Washington) ngày 11/3/2015: “Hoa Kỳ vừa yêu cầu Việt Nam ngưng không cho Nga sử dụng căn cứ không quân cũ của Hoa Kỳ ở Cam Ranh để tiếp dầu cho những máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang bom nguyên tử nhằm phô diễn sức mạnh quân sự ở vùng Châu Á Thái Bình Dương, điều này phơi bày sự căng thẳng ở Washington trong khi mối liên hệ nồng ấm với Hà Nội đang diễn ra vững chắc.”

Với sự hiện diện của các máy bay ném bom chiến lược của Nga bay trên không phận Guam và được tiếp dầu tại Căn Cứ Cam Ranh cho thấy lần đầu tiên trong 25 năm (1990-2015) Nga xác định sự hiện diện quân sự của mình tại Đông Nam Á để đáp trả lại kế hoạch lấn dần tới biên giới Nga của Mỹ và NATO. Như thế cuộc Chiến Tranh Lạnh Mới đã không còn giới hạn ở Âu Châu và bắt đầu lan qua Á Châu. Một khi đã lan qua Châu Á, những tình huống sau đây có thể xảy ra:

-Trung Quốc “mừng hết lớn”. Mừng thứ nhất là Mỹ sẽ phải tập trung nỗ lực để đối đầu với Nga do đó không còn khả năng kiềm chế Hoa Lục. Mừng thứ hai là khi tình hình Á Châu nát bét- người theo phe này, kẻ theo phe kia là điều kiện thuận lợi để Hoa Lục tung hoành. Khi Đông Nam Á yên bình và đoàn kết sẽ vô cùng bất lợi cho Trung Quốc.

-Nam Hàn cũng vô cùng khó xử. Nếu không đi với Mỹ thì áp lực về các mặt kinh tế, ngoại giao và quân sự sẽ hết sức nặng nề. Nếu liên minh với Mỹ chống Nga thì Bắc Hàn sẽ là mũi nhọn tấn công. Khi đó mộng chống Nga chưa thành mà đất nước đã tan nát rồi. Vì quyền lợi tối thượng của đất nước có thể Nam Hàn sẽ giữ vị trí trung lập. Hiện Nga đang tổ chức “Năm Hữu Nghị” với Bắc Hàn và Ô. Kim Chính Ân sẽ thăm Nga vào Tháng 5 này.

-Vị thế của Nhật Bản lại càng khó xử hơn nữa. Nếu theo Mỹ chống Nga, Nhật Bản sẽ phải liên tục đối đầu với hai ông bạn làng giềng khổng lồ, đất nước căng thẳng, kinh tế suy thoái vì chạy đua vũ trang. Nếu không nghe lời “ông anh Mỹ” thì lấy ai răn đe Trung Quốc cho Nhật Bản đây? Ngoài ra, nếu Nhật Bản chỉ chống Trung Quốc không thôi thì đối với Việt Nam không có vấn đề. Nhưng nếu Nhật Bản chống Nga thì sẽ gây khó cho Việt Nam. Hiện nay Đức đang vận động để Nhật cùng tham gia với Âu Châu để cấm vận Nga. Nhức đầu quá!

-Một số quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Miến Điện chắc chắn sẽ đứng trung lập vì không dại gì “giơ đầu chịu báng”. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy theo phe nào cũng chết.

-Hai quốc gia có thể sẽ liên minh với Mỹ để chống Nga, đó là Phi Luận Tân và Tân Gia Ba.

-Còn Việt Nam thì đương nhiên ở vào tình thế khó xử nhất rồi. Đi với Mỹ thì bị Mỹ ép và từ từ mất chủ quyền. Không đi với Mỹ thì không đủ khả năng kiềm chế Hoa Lục ở Biển Đông và phát triển kinh tế. Trong khi mối liên hệ có tình cách lịch sử, lâu bền về mọi mặt với Nga vô cùng quan trọng - về chính trị, ngoại giao lẫn quân sự. Nga đã và đang cung cấp những vũ khí tối cần thiết cho Việt Nam để xây dựng quốc phòng, giúp Việt Nam huấn luyện thủy thủ và căn cứ sửa chữa tầu ngầm tại Cam Ranh, xây dựng nhà máy điện hạt nhân, thiết lập trung tâm không gian, chia xẻ những tức quân sự qua trung tâm thông tin hỗn hợp, giúp Việt Nam đóng tàu chiến, thành lập đại học kỹ nghệ quốc phòng… Nếu nghe theo lời Mỹ thì phá vỡ liên minh chiến lược với Nga, điều mà Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận. Qua thực tiễn lịch sử và địa lý chiến lược của Á Châu ngày hôm nay mà nói - nếu Việt Nam nổ ra một cuộc xung đột quân sự thì người giúp Việt Nam nhiều nhất là Nga chứ không phải Mỹ vì Mỹ đã “thề” là sẽ không bao giờ dính líu vào một cuộc chiến ở Châu Á nữa. Vậy thi vần đề là: Trong tình thế hiện tại, nếu Việt Nam cần Mỹ hơn Nga, Việt Nam sẽ nhượng bộ. Ngược lại, nếu Việt Nam cần Nga hơn Mỹ thì Việt Nam sẽ không nhượng bộ. Đây là vấn đề vô cùng tế nhị mà Hoa Thịnh Đốn phải thấy Việt Nam không phải là Nam Hàn hay Nhật Bản hễ Mỹ nói thì phải nghe theo. Trong mấy năm qua, các tàu chiến Mỹ đã ra vào Cam Ranh để sửa chữa, bảo trì và tiếp vận. Do đó hai bên phải tương thảo trong âm thầm chứ không thể ồn ào qua các cuộc họp báo hoặc gây áp lực theo kiểu “loudspeaker diplomacy”. Theo tôi, Việt Nam có thể sẽ yêu cầu Nga giảm bớt các chuyến bay để “chiều lòng” Mỹ chứ không ra lệnh chấm dứt các chuyến bay ghé Cam Ranh để tiếp dầu. Tuy nhiên nếu cuộc Chiến Tranh Lạnh Mới Nga - Mỹ ngày càng trở nên quyết liệt, thế giới sẽ chia đôi theo lằn ranh Đông-Tây, lúc đó Việt Nam, do nhu cầu sinh tử, sẽ ngả theo Nga nhưng vẫn không chống Mỹ. Vào ngày 12/3/2015, theo BBC tiếng Việt, Ô. Igor Korotchenko, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mua bán Vũ khí, một viện nghiên cứu phi chính phủ nằm tại Moscow nói rằng “Việc ám chỉ phi cơ Nga có thể được tiếp nhiên liệu từ căn cứ ở Vịnh Cam Ranh và rằng các phi cơ này có khả năng mang đầu đạn hạt nhân là tuyên bố khiêu khích và vô căn cứ, và đề nghị của Mỹ về Cam Ranh là thô lỗ.” Ngày 13/3/2015, BBC tiếng Việt loan tin, “Bộ Ngoại giao Nga tuyên bố: Chúng tôi lấy làm khó hiểu vì các bình phẩm của quan chức Mỹ rằng hành động của Không Quân Nga, gồm việc dùng cơ sở hạ tầng ở Cam Ranh, Việt Nam để tiếp nhiên liệu, có thể dẫn tới ‘căng thẳng khu vực gia tăng’.”

-Thế nhưng Mỹ cũng ở vào tình thế vô cùng khó khăn. Nếu ép Việt Nam mà Việt Nam không nghe, thì Mỹ sẽ không giúp Việt Nam nữa hoặc trả đũa hoặc bao vây, cấm vận, lật đổ. Nhưng khi Việt Nam suy yếu đi, tức không còn khả năng ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông thì Phi Luật Tân lâm nguy. Lúc đó Mỹ phải lui về cố thủ ở Guam - tức biên giới phòng thủ từ xa của Mỹ co lại, chiến tranh nếu xảy ra là xảy ra trên đất Mỹ chứ không còn ở nơi xa lắc xa lơ nữa. Đó là cơn ác mộng của Mỹ. Do đó nếu Mỹ có giúp Việt Nam là tự giúp mình, tự biến Việt Nam thành một “tiền đồn tự nhiên” ngăn chặn Trung Quốc…chứ không phải Mỹ hoàn toàn thương xót Việt Nam. Xin nhớ cho không một đại cường nào đem tiền của giúp một quốc gia nhỏ bé mà hoàn toàn vô tình hay bất vụ lợi. Ngay cả vấn đề giúp đỡ thiện nguyện, người cho cũng có chủ ý chứ không phải hoàn toàn vì lòng từ bi hay bác ái. Trên thế gian này, thánh nhân rất hiếm, còn phàm phu tục tử thì nhiều lắm.

Dù muốn dù không, cuộc đối đầu Nga-Mỹ sẽ ảnh hưởng toàn cầu và sẽ gây thảm họa cho nhân loại. Thế mới hay thân phận các nước nhỏ muôn đời là khốn khổ, “Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng” lơ mơ là tan nát do tham vọng - có khi cuồng điên của các đại cường. Trong bài viết “Chiến Tranh Lạnh Nga-Mỹ Lù Lù Trước Mắt” phổ biến ngày 4/7/2014 tôi đã viết, “Năm xưa Ban AVT có bài hát khôi hài dí dỏm, “như hai cô ca sĩ có thương nhau bao giờ” sau đổi thành “như Nga với Mỹ có thương nhau bao giờ ” sao mà đúng thế. Thực ra không phải chỉ có Nga-Mỹ mới ghét nhau mà bất cứ một đại cường nào cũng chẳng bao giờ “thương” một đại cường khác. Nguyên do, đại cường nào cũng muốn mình bá chủ. Mỹ đang là bá chủ thế giới và lúc nào cũng muốn duy trì ngôi vị ấy muôn đời. Nga thì muốn phục hồi uy thế và sức mạnh của thời Liên Bang Xô-viết và có tiếng nói trong những vấn đề quốc tế. Còn Hoa Lục thì đang muốn vươn lên để giành ngôi bá chủ với Mỹ. Trong cuộc tranh giành ngôi vị “võ lâm chí tôn” đó, ông nào cũng muốn liên kết đồng minh hoặc dụ dỗ, lôi kéo các nước nhỏ vào phe mình. Do đó trong cuộc “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết” sắp tới đây, nước nhỏ nào không có bản lãnh hoặc thiếu suy tính sẽ tự chuốc lấy tai họa.”

Đào Văn Bình
(California ngày 15/3/2015)

Chú thích:
(1) Lyle Denniston là cố vấn nghiên cứu của Trung Tâm Hiến Pháp Quốc Gia Hoa Kỳ

(2) Khuyn tả, khuynh hữu có rất nhiều nghĩa: Chống Mỹ là khuynh tả, theo Mỹ là khuynh hữu. Có thiện cảm với các phong trào cộng sản là khuynh tả, thiện cảm với chủ nghĩa tư bản là khuynh hữu.Ngả theo quyền lợi của giai cấp nghèo khổ (khuynh hướng xã hội) là khuynh tả, ngả theo quyền lợi của các đại công ty tư bản là khuynh hữu.Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, theo Mỹ và NATO là khuynh hữu, theo Nga là khuynh tả.

(3) Posttraumatic stress disorder (PTSD) is a serious mental condition which is a lasting consequence of traumatic events.

19 thg 7, 2014

Đừng tưới nước lên gốc cây rã mục

Trần Trung Đạo

16-07-2014
Sau khi đọc bài viết “Những Cơ Hội Bị Bỏ Lỡ cho Một Liên Minh Việt Mỹ” của Gs Tương Lai
Trong bài viết mới đây Vietnam’s Overdue Alliance With America đăng trong mục Ý Kiến của Nytimes.com và bản tiếng Việt Những Cơ Hội Bị Bỏ Lỡ cho Một Liên Minh Việt Mỹ do Liêm Nguyễn dịch đăng trên nhiều trang web tiếng Việt, giáo sư Tương Lai lấy làm tiếc khi nhiều cơ hội đã bị bỏ qua cho một liên minh Việt Mỹ. Lần đầu do cơ quan tình báo chiến lược Mỹ OSS (tiền thân của CIA) “giúp huấn luyện và thành lập đơn vị du kích Mỹ-Việt đầu tiên vào cuối năm 1944” và cơ hội khác khi TT Truman không phúc đáp các lá thư của Hồ Chí Minh “bày tỏ lòng ngưỡng mộ của người Việt Nam” đối với “dân tộc Mỹ vì sự đấu tranh cho những lý tưởng cao đẹp của Công lý và Nhân đạo quốc tế, vì những thành tựu kỹ thuật hiện đại mà người Việt Nam cảm thấy bị lôi cuốn”.

Tôi không dám phê bình trình độ chính trị học của giáo sư Tương Lai nhưng sẽ ngạc nhiên nếu ông thật sự tin rằng nếu lúc đó Truman đáp ứng lời kêu gọi của Hồ Chính Minh và quân đội Mỹ, giống như OSS từng làm, yểm trợ Việt Nam để phục hồi nền độc lập, xây dựng đất nước thì Việt Nam đã là một quốc gia dân chủ, tự do chứ đâu phải bị nô lệ trong ý thức hệ CS và bị Trung Cộng đè đầu cưỡi cổ như hiện nay.

Giáo sư Tương Lai bỏ qua mối quan hệ “tuy hai mà một” giữa Hồ Chí Minh và đảng CSTQ như vô số tài liệu cho thấy và cũng không nhắc đến những khả năng gì sẽ xảy ra với liên minh Mỹ Việt sau khi CSTQ có chiếm hết lục địa Trung Hoa năm 1949.

Quan điểm của giáo sư Tương Lai cũng có thể gây cho người đọc hiểu lầm rằng Hồ Chí Minh không hẳn là người Cộng Sản và chỉ trở thành người CS khi không có chỗ dựa nào khác trong cuộc chiến chống Thực Dân Pháp mà quên đi sự kiện chính Hồ Chí Minh từ tháng 2 năm 1920 đã “vui mừng đến phát khóc” khi đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin.

Lý do TT Truman không đáp ứng thư của Hồ Chí Minh

Theo tài liệu lưu trữ trong văn khố Mỹ, tổng số gồm 11 lá thư Hồ Chí Minh gởi TT Truman, Ngoại trưởng James Byrnes và Bộ Ngoại Giao Mỹ. Lá thư thứ nhất ký ngày 17 tháng 10 năm 1945 và lá cuối cùng vào ngày 28 tháng Hai năm 1946.

Ngày 12 tháng 9 năm 1946, George M. Abbott, lúc đó là Đệ nhất Tham Vụ Tòa Đại Sứ Mỹ tại Paris đã điện đàm với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên quan tâm hàng đầu của Mỹ vẫn là gốc gác của họ Hồ. Theo báo cáo của George M. Abbott cho đại sứ Mỹ tại Pháp, Hồ Chí Minh không thừa nhận ông ta là Cộng Sản. Không những thế, ông Hồ còn chỉ ra cho George M. Abbott thấy “không một người nào trong nội các của ông ta là Cộng Sản”. Trong thực tế, các chức vụ then chốt gồm Chủ tịch (Hồ Chí Minh), Bộ trưởng Quốc Phòng (Võ Nguyên Giáp), Bộ trưởng Tài Chánh (Lê Văn Hiến), Bộ trưởng Tư Pháp (Vũ Đình Hòe) trong nội các liên hiệp kháng chiến đều do các đảng viên đảng CS hay đảng Dân Chủ nắm giữ.

Khi George M. Abbott hỏi có hay không có một đảng CS tại Việt Nam, Hồ Chí Minh thừa nhận là trước đây có nhưng đã giải tán mấy tháng trước rồi. Dĩ nhiên, như viết trong báo cáo, George M. Abbott cũng biết những câu trả lời của Hồ Chí Minh chỉ là những câu nói dối.

Ngày 12 tháng Ba năm 1947, TT Harry Truman xin quốc hội chuẩn chi ngân sách 400 triệu đô la để viện trợ vũ khi cho chính phủ Cộng Hòa Hy Lạp để đánh bại phiến loạn CS và để giúp hiện đại hóa quân đội Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ nhằm đối phó với đe dọa quân sự của Liên Xô. Ngăn chận làn sóng CS trên phạm vi thế giới là trọng tâm của Chủ thuyết Truman (Truman Doctrine). Lẽ ra, những lá thư của Hồ Chí Minh là cơ hội hiếm hoi để Truman đóng nút sự bành trướng của chủ nghĩa CS ở Đông Nam Á qua ngã Trung Quốc. Nhưng không. TT Truman không đáp ứng vì chính phủ Mỹ biết rõ rằng Hồ Chí Minh và đảng CS Việt Nam là một bộ phận Đông Dương của đệ tam quốc tế CS chứ chẳng quốc gia dân tộc gì.

Với đảng CS, việc thay tên đổi họ, từ một người hay thâm chí cả đảng, theo nhu cầu chiến lược mỗi thời kỳ là chuyện bình thường. Đảng CS tổ chức tinh vi và chặt chẽ đến mức dù dùng tên gì vẫn hoạt động thống nhất và tuân chỉ triệt để một cương lĩnh. Từ ngày thành lập cho đến nay, hoạt động dưới nhiều danh xưng (Đảng Cộng sản Đông Dương, Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, đảng Lao động Việt Nam, đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam, đảng Cộng sản Việt Nam) nhưng hoàn toàn nhất quán về tư tưởng và mục đích cuối cùng là CS hóa toàn cõi Việt Nam như đã khẳng định nhiều lần trong các cương lĩnh đại hội của đảng CSVN. Vào thời điểm 1946, trước khi CSTQ chiếm toàn lục địa Trung Hoa, nếu Mỹ viện trợ Hồ Chí Minh sẽ nhận và nếu Mỹ lên tiếng phản đối Pháp Hồ Chí Minh sẽ cám ơn nhưng chắc chắn không bao giờ có chuyện “giải tán đảng CS” hay thành thật từ bỏ đảng CS.

Niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa CS đã đóng đinh vào nhận thức của các tầng lớp lãnh đạo CSVN. Cộng sản hóa Việt Nam là canh bạc của đời họ. Dòng lịch sử đầy tang thương của đất nước diễn ra từ đó đến nay qua các đợt khủng bố tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia, Cải Cách Ruộng Đất, đày ải nhiều trăm ngàn công nhân viên chức VNCH, đưa đất nước vào ngỏ tối độc tài lạc hậu đã cho thấy nhận định của chính phủ Truman về Hồ Chí Minh và đảng CSVN là đúng.

Năm 1954, vừa chiếm được nửa nước, chưa có một ngày ổn định và đời sống người dân miền Bắc còn quá sức nghèo, trung ương đảng CSVN đã nghĩ đến việc chiếm nửa nước còn lại. Có tổng tuyển cử? Tốt, đảng sẽ chiếm miền Nam mà không tốn nhiều xương máu. Không có tổng tuyển cử? Không sao, đảng vẫn chiếm miền Nam nhưng bằng súng đạn Nga, Tàu. Dù qua phương cách gian lận bầu cử, khủng bố cử tri hay phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” mục tiêu toàn trị vẫn không thay đổi. Sinh mạng của nhiều triệu người Việt, tương lai bao nhiêu thế hệ Việt Nam, viễn ảnh một Việt Nam nghèo nàn thua sút phần lớn nhân loại không nằm trên bàn tính của Bộ Chính trị Trung ương Đảng CSVN.

Trung Cộng muốn gì?

Hôm nay, hoàn cảnh chính trị thế giới đã thay đổi. Việt Nam đang đứng trước một đế quốc thực dân mới và lần này là chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng. Như người viết đã phân tích trong các bài trước, Trung Cộng muốn Việt Nam:

Hoàn toàn lệ thuộc về cơ chế chính trị, tư tưởng.
Một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng.
Trung Cộng độc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng biển Đông bao gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp.
Nội dung của mật ước Thành Đô không được công bố, tuy nhiên, các diễn biến kinh tế, chính trị và quốc phòng cho thấy ba điểm nêu trên là ba yêu sách chính mà Trung Cộng đã đưa ra trong các phiên họp vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên.

Về mặt kinh tế chính trị. Khi thỏa hiệp bán nước Thành Đô vừa ký kết xong, ngày 25 tháng 2 năm 1992, Quốc vụ viện Trung Cộng thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Ba tháng sau đó, Trung Cộng ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam và hứa sẽ bảo vệ công ty Creston bằng võ lực. Ngoài ra, Trung Cộng còn ra lịnh cấm đánh cá, thành lập các đơn vị hành chánh cấp huyện tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Về mặt quốc phòng. Việt Nam theo đuổi một chính sách quốc phòng “ba không”: (1)không tham gia các liên minh quân sự, (2) không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, (3) không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Đây là một chính sách quốc phòng tự sát vì chỉ có lợi cho Trung Cộng. Việt Nam là một nước nhỏ, và cũng chính vì là một nước nhỏ, những người lãnh đạo lẽ ra phải biết từng bước hội nhập vào cộng đồng nhân loại, biết nâng cao vị thế quốc gia trong bang giao quốc tế, biết linh động trong việc mở rộng các mối quan hệ song phương và đa phương, gần và xa để tạo thế đứng thuận lợi trong hòa bình và chiến lược trong chiến tranh.

Trong thế chiến thứ hai, trong số 20 quốc gia châu Âu tuyên bố trung lập chỉ có 6 quốc gia là không bị lôi kéo vào chiến tranh. Sáu quốc gia này may mắn không phải nhờ Hitler tôn trọng lời tuyên bố mà chỉ vì không nằm trên trục tiến quân của các sư đoàn Panzer Đức, rất tốn kém để chinh phục như trường Thụy Điển hay vì vị thế chính trị có lợi cho khối trục mà không cần đánh chiếm như trường hợp Tây Ban Nha dưới chế độ độc tài Francisco Franco.

Để làm nhẹ áp lực Trung Cộng, Việt Nam cần có liên minh. Vâng, nhưng liên minh được với Mỹ trong vị trí tương xứng với Nam Hàn, Nhật Bản chỉ là giấc mơ ngày. Mỹ có quyền lợi ở vùng Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương? Có. Mỹ có xung đột với Trung Cộng về ảnh hưởng kinh tế chính trị và cả quân sự trong vùng Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương? Có. Mỹ có phê bình, lên án chính sách bá quyền Trung Cộng đối với các nước nhỏ trong vùng Nam Thái Bình Dương? Có. Tuy nhiên, với quan hệ kinh tế tài chánh quá lớn và vô cùng phức tạp giữa hai cường quốc như hiện nay, ngoại trừ xung đột sâu sắc, trầm trọng và trực tiếp về quyền lợi của Mỹ trong khu vực, Mỹ sẽ không can thiệp vào các tranh chấp song phương giữa Trung Cộng và Việt Nam hay Trung Cộng và một quốc gia nào đó của ASEAN. Trung Cộng hiểu được điều đó nên theo đuổi chính sách gặm nhấm từng mảnh nhỏ tài nguyên của Việt Nam, bao vây kinh tế Việt Nam, và tránh né việc quốc tế hóa các xung đột với Việt Nam và các nước trong vùng.

Nỗi sợ lớn nhất của Trung Cộng

Như người viết đã phân tích trong bài Để thắng được Trung Cộng, chính sách tuyên truyền thâm độc và bưng bít thông tin tuyệt đối tại Trung Cộng cho thấy mối lo sợ lớn nhất của lãnh đạo CSTQ là ánh sáng dân chủ. Trung Cộng không ngại mấy chiếc tàu ngầm kilo mà rất lo “sân sau” CSVN trở thành một nước dân chủ. Việt Nam có dân chủ trước Trung Cộng là cách tốt nhất để vô hiệu hóa sự lệ thuộc vào Trung Cộng về mặt cơ chế chính trị và tư tưởng. Độc lập chính trị là tiền đề dẫn đến độc lập chủ quyền lãnh thổ.

Với Trung Cộng, việc giải quyết xung đột lãnh thổ gắn liền với nhu cầu ổn định nội bộ. Theo nghiên cứu của M. Taylor Fravel trong tác phẩm Strong borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China‘s Territorial Disputes, trong thập niên 1960, lãnh đạo Trung Cộng nhân nhượng lãnh thổ với hàng loạt quốc gia nhỏ như Burma, Nepal, Mongolia, Bắc Hàn, Pakistan và Afghanistan chỉ vì họ cần tập trung vào việc ổn định vùng biên giới phía bắc sau cuộc xâm lăng Tây Tạng và giải quyết nạn đói sau chính sách Bước tiến nhãy vọt đầy thảm họa của Mao.

Con đường giành lại được Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là con đường dài, đầy kiên nhẫn, khai thác mọi khó khăn, mọi nhược điểm của Trung Cộng, nhưng dù làm gì cũng phải bắt đầu từ độc lập về cơ chế chính trị. Không có con đường nào khác. Như người viết đã nhấn mạnh nhiều lần, một Việt Nam văn minh dân chủ với một nền kinh tế cường thịnh, một hệ thống khoa học kỹ thuật hiện đại là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn chận không những Trung Cộng mà bất cứ một thế lực xâm lăng nào muốn thách thức đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Đừng hoài công tưới nước lên gốc cây rã mục

Ba mươi chín năm qua, không chỉ đất nước đứng trước ngã ba mà nhiều người Việt quan tâm cho đất nước cũng đang đứng trước ngã ba. Không ít người, dù ngoài miệng lớn tiếng phê bình đảng trong đáy lòng vẫn nghĩ chỉ có đảng CS mới thay đổi được hướng đi của đất nước. Vì thế họ mãi lay hoay, hy vọng, chờ đợi trong mỏi mòn một bình minh không bao giờ đến.

Thay vì tìm cách cứu đảng hãy chung lưng góp sức để đẩy mạnh cuộc cách mạng dân chủ được diễn ra và thành công trong hòa bình, thuận lợi, ít lãng phí tài nguyên dân tộc. Con đường dân chủ có thể làm cho một số người chưa quen cảm thấy bở ngỡ lúc ban đầu hay ngay cả gây ít nhiều đau nhức nhưng đó là con đường của thời đại. Hãy đi cùng dân tộc và thời đại. Ý thức hệ CS chưa bao giờ lỗi thời và lạc hậu hơn hôm nay. Đừng hoài công tưới nước vào một gốc cây đang rã mục mà hãy dành để tưới lên những mầm xanh hy vọng của tương lai đất nước.

Nguồn: FB Trần Trung Đạo

12 THÁNG ANH ĐI