22 thg 7, 2009

Chaplie Chaplin - Bài diễn văn của ông thợ cạo trong vị thế một nhà độc tài vĩ đại bất đắc dĩ


Hoàng Ngọc-Tuấn dịch

Lời người dịch: The Great Dictator (Nhà độc tài vĩ đại) là một cuốn phim khôi hài của Charlie Chaplin. Được trình chiếu lần đầu vào tháng 9 năm 1940 tại New York, rồi xuất hiện tại nhiều rạp cinema trên khắp nước Mỹ vào tháng 10, và đến với công chúng của nước Anh vào tháng 11 năm ấy. Sau đó, cuốn phim được trình chiếu ở Pháp vào tháng 4 năm 1945, ngay trước khi Thế chiến II kết thúc.

Đây là cuốn phim “nói” đầu tiên của Charlie Chaplin và được xem là tác phẩm điện ảnh thành công nhất của ông. Trong phim có rất nhiều đoạn tuyệt vời, nhưng đoạn gây xúc động và để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là đoạn ông thợ cạo (do chính Chaplin đóng) bị nhận diện nhầm là nhà độc tài vĩ đại (cũng do chính Chaplin đóng), và bị mời lên khán đài để đọc một bài diễn văn được truyền thanh khắp thế giới. Trong vị thế một nhà độc tài vĩ đại bất đắc dĩ, ông thợ cạo bắt đầu bài diễn văn của ông với vẻ do dự, nhưng càng diễn đạt tư tưởng của mình thì ông càng trở nên lưu loát hơn, và giọng nói của ông càng lúc càng mạnh mẽ, quyết liệt, đầy xúc cảm và sức thuyết phục.

Đây là một bài diễn văn tuyệt vời được trình diễn một cách tuyệt vời bởi thiên tài Charlie Chaplin. Ở thế kỷ 21, chúng ta có thể cho rằng một số ý tưởng trong bài diễn văn này không còn mới mẻ. Tuy nhiên, là một người Việt Nam trong thời điểm này, tôi cảm thấy xúc động sâu xa mỗi lần nghe lại những đoạn cuối cùng trong bài diễn văn của ông thợ cạo.

Tôi xin gửi đến các bạn bản dịch Việt ngữ của bài diễn văn, và mời các bạn cùng xem lại đoạn phim này trên Youtube:


_____________

BÀI DIỄN VĂN CỦA ÔNG THỢ CẠO TRONG VỊ THẾ MỘT NHÀ ĐỘC TÀI VĨ ĐẠI BẤT ĐẮC DĨ

Tôi xin lỗi. Tôi không muốn làm một đại đế. Đó không phải là công việc của tôi. Tôi không muốn thống trị hay chinh phạt ai cả. Trong khả năng của mình, tôi muốn giúp đỡ mọi người - Do-thái, không Do-thái, da đen, da trắng.

Tất cả chúng ta đều muốn giúp đỡ nhau. Con người là như thế. Chúng ta muốn sống vì niềm vui của nhau - không phải vì nỗi khốn khổ của nhau. Chúng ta không muốn thù ghét và khinh bỉ nhau. Thế giới này có đủ chỗ cho mọi người và quả đất tốt lành này thì giàu có và có thể nuôi sống mọi người.

Con đường của sự sống có thể là tự do và đẹp đẽ, nhưng chúng ta đã đánh mất con đường ấy. Sự tham lam đã đánh độc tâm hồn con người, đã vây hãm thế giới trong sự oán thù, đã xua chúng ta dấn bước vào sự lầm than và đổ máu. Chúng ta đã phát triển tốc độ, nhưng chúng ta đã giam hãm chính mình. Máy móc đáng lẽ mang đến cho chúng ta sự dư dật, thì lại khiến chúng ta đói rách. Sự hiểu biết của chúng ta đã làm chúng ta trở nên chua cay; sự khôn khéo của chúng ta đã làm chúng ta trở nên khắc nghiệt. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều và cảm nhận quá ít. Hơn cả máy móc, chúng ta cần tình người. Hơn cả sự khôn khéo, chúng ta cần sự tử tế và sự dịu dàng. Không có những phẩm tính này, cuộc sống sẽ trở nên cuồng bạo và chúng ta sẽ đánh mất tất cả.

Máy bay và máy truyền thanh đã mang chúng ta đến gần nhau hơn. Bản chất của những phát minh này đòi hỏi thiện tâm của con người, đòi hỏi tình anh em trong nhân loại, đòi hỏi sự hợp quần của tất cả chúng ta. Ngay trong giây phút này tiếng nói của tôi đang đến với hàng triệu người trên khắp thế giới - hàng triệu người đàn ông, đàn bà, và trẻ con đang tuyệt vọng - những nạn nhân của một hệ thống - cái hệ thống đã sai khiến những kẻ hành hạ và giam cầm những người vô tội. Đối với những ai có thể nghe tôi, tôi nói: “Đừng tuyệt vọng.” Sự khốn khổ hôm nay đang đè nặng trên chúng ta chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi của sự tham lam, chỉ là sự cay đắng của những kẻ sợ hãi trước sự tiến bộ của nhân loại. Lòng thù hận của con người sẽ trôi qua, và những tên độc tài sẽ chết, và cái sức mạnh mà họ chiếm đoạt từ con người sẽ trở lại với con người. Và đến khi con người còn phải chết đi, thì khi ấy tự do vẫn không hề tàn lụi.

Các chiến sĩ! Đừng nạp mình cho những con thú - những kẻ khinh bỉ các bạn và bắt các bạn làm nô lệ, những kẻ đặt cuộc sống của các bạn vào hệ thống, điều khiển hành động của các bạn, ý nghĩ của các bạn và cảm xúc của các bạn! Những kẻ trui rèn các bạn, kiểm soát khẩu phần của các bạn, xem các bạn như trâu bò, dùng các bạn như những con cờ thí. Đừng nạp mình cho những kẻ quái đản ấy, những con người máy móc với những đầu óc máy móc và những trái tim máy móc! Các bạn không phải là máy móc! Các bạn không phải là trâu bò! Các bạn là những con người! Các bạn có tình yêu nhân loại trong tim. Các bạn không thù hận. Chỉ những kẻ không được yêu thương thì mới thù hận. Đó là những kẻ không có tình thương và những kẻ quái đản!

Hỡi các chiến sĩ! Đừng chiến đấu cho sự nô lệ! Hãy chiến đấu cho sự tự do! Chương thứ 17 của sách thánh Luca có viết rằng vương quốc của Thượng đế thì ở trong con người, không chỉ trong một người hay một nhóm người, mà trong mọi con người! Trong các bạn! Các bạn, là nhân dân, các bạn có sức mạnh - cái sức mạnh để sáng tạo ra máy móc. Cái sức mạnh để sáng tạo ra hạnh phúc! Các bạn, là nhân dân, các bạn có sức mạnh để làm cho cuộc sống này tự do và đẹp đẽ, để làm cho cuộc sống này trở thành một cuộc phiêu lưu tuyệt vời. Thế thì, nhân danh dân chủ, chúng ta hãy sử dụng sức mạnh đó. Tất cả chúng ta hãy đoàn kết lại. Chúng ta hãy chiến đấu cho một thế giới mới, một thế giới tốt lành nơi đó con người sẽ có một cơ hội để làm việc, tuổi trẻ sẽ có một tương lai và tuổi già sẽ được an dưỡng.

Bằng lời hứa hẹn về những điều này, những con thú đã nổi lên nắm lấy quyền lực. Nhưng chúng chỉ nói láo! Chúng không giữ lời hứa. Chúng sẽ không bao giờ giữ lời hứa! Những tên độc tài giành lấy tự do cho chính họ nhưng lại bắt nhân dân làm nô lệ. Giờ đây chúng ta hãy chiến đấu để thực hiện lời hứa đó! Chúng ta hãy chiến đấu để làm cho thế giới được tự do, để xoá bỏ những biên cương quốc gia, để xoá bỏ lòng tham lam, hận thù và bất dung. Chúng ta hãy chiến đấu cho một thế giới hữu lý, một thế giới trong đó khoa học và sự tiến bộ sẽ mang hạnh phúc đến cho mọi con người.

Hỡi các chiến sĩ! Nhân danh dân chủ, hãy đoàn kết lại!

21 thg 7, 2009

Những Vấn Đề Về Biển và Những Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Đông Á



Bản Điều Trần của Ô. Scot Marciel – Phụ Tá Thứ Trưởng Ngọai Giao trước Ủy Ban Đối Ngọai của Thượng Viện Hoa Kỳ ngày 15/07/09

Những Vấn Đề Về Biển và Những Tranh Chấp Chủ Quyền Tại Đông Á

Bản dịch của Đào Văn Bình

Thưa TNS Chủ Tịch Jim Web và quý vị trong Tiểu Ban. Tôi rất hân hạnh được điều trần trước quý vị ngày hôm nay về vấn đề biển và những tranh chấp chủ quyền tại Đông Á. Hải đồ chạy xuyên qua Đông Á là một trong vài thủy lộ tấp nập và quan trọng nhất về mặt chiến lược của thế giới. Nó là huyết mạch chính yếu đã và đang tiếp sức vào sự phát triển kinh tế to lớn của các quốc gia trong vùng và đồng thời cũng đem lại sự phồn thịnh kinh tế cho Hoa Kỳ. Hằng tỷ đô la về thương mại - hầu hết ngọai thương của Á Châu với thế giới, trong đó có Hoa Kỳ - hằng năm đều thông qua thủy lộ này. Hơn phân nửa số hạm đội thương thuyền của thế giới mỗi năm đều dong buồm qua Biển Nam Hải.

Hoa Kỳ từ lâu đã có quyền lợi sinh tử trong việc duy trì sự ổn định, tự do đi lại và quyền có những họat động thương mại hợp pháp tại những thủy lộ của Đông Á. Trong nhiều thập niên, việc Hoa Kỳ tích cực can dự vào Đông Á – kể cả việc triển khai sự hiện diện của Hải Quân Hoa Kỳ trong vùng- là yều tố trung tâm gìn giữ hòa bình và duy trì những quyền quyền lợi nói ở trên. Điều đó tiếp tục đúng cho tới ngày hôm nay. Thông qua ngọai giao, thương mại và sự hiện diện quân sự chúng ta đã bảo vể những quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ. Những mối liên hệ với đồng minh của chúng ta vẫn mạnh, khu vực này vẫn yên ổn, và như quý vị đã biết, Hải Quân Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ cần thiết với tất cả khả năng của mình (full range) đề bảo vệ đất nước và duy trì quyền lợi.

Sự hiện diện (về quân sự) và chính sách của chúng ta nhằm hỗ trợ cho việc tôn trọng luật hàng hải quốc tế, kể cả Công Ước của LHQ về Luật Biển. Mặc dù Hoa Kỳ không phê chuẩn công ước đó, như TNS chủ tịch đã biết, nội các hiện hành và các tổng thống tiền nhiệm cũng đều hỗ trợ việc tôn trọng những quy ước này và tàu bè của chúng ta cũng tuân thủ những quy định theo truyền thống về việc xử dụng các đại dương.

Vấn đề về biển và những tranh chấp chủ quyền tại Đông Á rất đa diện và phức tạp. Nếu được phép của TNS chủ tịch, tôi xin tập trung vào ba chủ đề:

-Trước hết, việc tranh chấp chủ quyền đa phương tại Biển Nam Hải.

-Thứ hai, những biến cố liên quan đến Trung Quốc và những họat động của tàu chiến Hoa Kỳ trong vùng biển quốc tế và trong Khu Vực Độc Quyền Khai Thác Kinh Tế của quốc gia đó.

-Và sau hết, khuôn khổ chiến lược của những vấn đề rất hiển nhiên và Hoa Kỳ phải phản ứng như thế nào.

Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương và Brunei đều tuyên bố chủ quyền của mình trên Biển Nam Hải, kể cả những phần đất phụ thuộc của nó (land features). Bề rộng mỗi bên đòi về phần mình khác biệt rất xa, cũng như cường độ đòi hỏi. Việc tuyên bố chủ quyền tập trung vào khu vực gồm trên 200 đảo nhỏ, đá và đá ngầm của hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cho dù có tranh chấp chủ quyền, Biển Nam Hải vẫn yên tĩnh (at peace). Sự căng thẳng giữa các bên lên xuống bất thường. Cho đến ngày hôm nay, sự tranh chấp chưa đưa tới xung đột về quân sự. Năm 2002, các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đã ký vào “Bản Hướng Dẫn Cho Các Bên Trong Vùng Biển Nam Hải”. Dù không có hiệu lực cưỡng hành nhưng nó cũng đề ra những nguyên tắc hữu ích, chẳng hạn như các quốc gia cần “giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình” và “ cố gắng tự chế” và “tái khẳng định tôn trọng và cam kết quyền tự do lưu thông trên mặt biển cũng như trên không của vùng Biển Nam Hải theo đúng những nguyên tắc của luật quốc tế đã được thế giới công nhận, kể cả Công Ước 1982 về Luật Biển của LHQ.”

Quan trọng hơn nữa, Bản Hướng Dẫn năm 2002 đã bày tỏ thiện chí của các quốc gia tìm cách hợp tác đa phương để giải quyết các tranh chấp. Chúng ta hoan nghênh thỏa thuận này vì nó hạ bớt căng thẳng giữa các quốc gia và cũng cố thêm vị trí của tổ chức Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN). Thỏa hiệp đó không lọai bỏ được những căng thẳng cùng những hành động đơn phương của các quốc gia trong vùng - nhưng nó là bước khởi đầu, một căn bản tốt qua đó để nói lên những tranh chấp ở trong vùng bằng hình thức ngọai giao.

Chính sách của chúng ta tiếp tục là không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền tại Biển Nam Hải. Nói khác đi, chúng ta không ngả theo bên nào trong việc tuyên bố chủ quyền trên các đảo và những phần phụ thuộc. Tuy nhiên chúng ta quan ngại về những lời tuyên bố về “hải phận” hoặc bất kỳ vùng biển nào không bắt nguồn từ lãnh thổ. Những tuyên bố như thế không phù hợp với luật quốc tế cũng như Công Ước Về Luật Biển.

Chúng ta còn quan ngại tới sự căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc vì cả hai đang tìm cách khai thác trữ lượng dầu và hơi đốt nằm dưới Biển Nam Hải. Bắt đầu từ mùa hè 2007 Trung Quốc yêu cầu Hoa Kỳ và những công ty dầu khí ngọai quốc ngưng công việc thăm dò với Việt Nam nếu không - sẽ phải gánh chịu những hậu quả không báo trước trong việc buôn bán với Trung Quốc.

Chúng ta phản đối bất cứ hành động nào nhằm đe dọa các công ty Hoa Kỳ. Trong chuyến thăm viếng Việt Nam năm 2008, Thứ Trưởng Ngọai Giao lúc bấy giờ là John Negroponte đã xác nhận quyền của các công ty Hoa Kỳ đang họat động tại Biển Nam Hải và ông tin rằng những tranh chấp phải được giải quyết bằng giải pháp hòa bình chứ không phải bằng biện pháp cưỡng ép. Chúng ta cũng đã trực tiếp nêu quan tâm đó với Trung Quốc. Tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia không thể giải quyết bằng cách gây áp lực với các công ty không có liên quan gì tới các bên tranh chấp.

Chúng ta cũng thúc dục các bên tự chế, tránh những hành động gây hấn để giải quyết các tương tranh. Chúng ta cũng chỉ rõ rằng chúng ta phản đối sự đe dọa hoặc dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp cũng như bất cứ hành vi nào ngăn cản quyền tự do đi lại trên biển. Chúng ta mong muốn một giải pháp phù hợp với luật quốc tế kể cả Công Ước Của LHQ Về Luật Biển.

Ngòai ra cũng còn một số những tranh chấp liên quan đến biển ở Đông Á. Nhật Bản và Trung Quốc có những khác biệt về giới hạn của Vùng Đặc Quyền Khai Thác Kinh Tế cũng như chủ quyền trên Đảo Senkaku. Những tranh chấp này ít gây chú ý hơn là những tranh chấp ở Biến Nam Hải. Chúng ta tiếp tục theo dõi diễn biến của tất cả những tranh chấp này khi mà những tranh cãi có thể leo thang rất nhanh ở một khu vực mà tinh thần quốc gia biểu lộ mạnh mẽ.

Giờ đây tôi xin trình bày về diễn biến mới xảy ra liên quan đến Trung Quốc và tàu chiến của Hoa Kỳ họat động tại vùng hải phận quốc tế bên trong Khu Vực Độc Quyền Khai Thác Kinh Tế của quốc gia đó. Vào Tháng Ba 2009, tàu khảo sát Impeccable tiến hành nhiệm vụ thường lệ phù hợp với luật quốc tế và ở trong hải phận quốc tế ở Biển Nam Hải. Những hành vi khiêu khích của tàu đánh cá Trung Quốc khiến cho cả hai phía ở vào tình trạng nguy hiểm, ngăn cản việc tự do đi lại trên biển và không phù hợp với nghĩa vụ của các tàu di chuyển trên biển là phải tôn trọng sự an tòan của các tàu khác. Chúng ta lập tức phản đối những hành động đó với nhà cầm quyền Trung Quốc và đòi hỏi rằng những dị biệt phải được giải quyết bằng phương thức đối thọai chứ không phải bằng cách tàu-đối diện-tàu khiến thủy thủ và tàu ở vào tình trạng hiểm nguy.

Điều lo ngại của chúng ta tập trung vào điểm mà Trung Quốc cho rằng họ có thẩm quyền hợp pháp đối với những tàu khác đang đi lại trong Khu Vực Độc Quyền Khai Thác Kinh Tế của họ và phương thức nguy hiểm mà Trung Quốc xử dụng để xác định thẩm quyền của họ.

Quan điểm về quyền hạn này của Trung Quốc không phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng ta đã trình bày rõ điều đó trong những cuộc thảo luận với Trung Quốc và nhấn mạnh rằng các tàu của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tuần hành một cách hợp pháp trong các hải phận quốc tế như đã từng làm trong quá khứ.

Tôi có thể nói rằng từ giữa Tháng Năm đã không có thêm cuộc khiêu khích nào của tàu đánh cá Trung Quốc.

Để kết thúc, tôi muốn nhìn vào cả hai mối lo ngại của chúng ta- những lo ngại về Khu Vực Độc Quyền Khai Thác Kinh Tế của Trung Quốc và những tuyên bố về lãnh hải lấn qua/choàng qua (overlapping) vùng của các quốc gia khác trong một khuôn khổ chiến lược rộng lớn hơn. Nói một cách cụ thể, những điều này có ý nghĩa gì đối với công pháp quốc tế và cho sự triển khai quyền lực mạnh mẽ (tại vùng này) và Hoa Kỳ phải phản ứng như thế nào?

Biến cố Impeccable và những tranh chấp chủ quyền trong vùng Biển Nam Hải là những vấn đề hiển nhiên và đòi hỏi phản ứng rõ ràng từ Hoa Kỳ. Ở tầm mức chiến lược, trên một mức nào đó cả hai vấn đề đã làm nổi bật quyết tâm của Trung Quốc trong vấn đề khẳng định chủ quyền trên biển của họ. Trong một vài trường hợp, chúng ta không đồng quan điểm họăc thậm chí không hiểu nổi sự giải thích về luật biển của Trung Quốc.

Tuy vậy, chúng ta tin rằng còn có những giải pháp xây dựng để giải quyết những vấn đề khó khăn này. Chúng ta tôn trọng quyền tự do đi lại của các chiến hạm Hải Quân Hoa Kỳ trong Vùng Đặc Quyền Khai Thác Kinh Tế, chúng ta đã thúc giục Trung Quốc trình bày những dị biệt qua đối thọai. Tuần rồi trong các buổi Đàm Luận Tư Vấn Về Quốc Phòng (Defense Conslultative Talks) tại Bắc Kinh, Thứ Trưởng Quốc Phòng Michele Flournoy đã đưa ra vấn đề này và Trung Quốc đồng ý tổ chức một buổi hội luận đặc biệt trong khuôn khổ Thỏa Hiệp Tư Vấn Về Hàng Hải Quân Sự (ký năm 1988) để bàn thảo và tìm cách giải quyết những dị biệt.

Còn đối với việc tranh chấp chủ quyền trên Biển Nam Hải, chúng ta đã khuyến khích các bên tìm kiếm giải pháp trong khuôn khổ Công Uớc LHQ Về Luật Biển cùng những thỏa hiệp đã có giữa ASEAN và Trung Quốc.

Sự khẳng định chủ quyền của một số các quốc gia trong vùng Biển Đông đã đưa tới những câu hỏi quan trọng đôi khi rắc rối cho cộng đồng thế giới liên quan đến việc thông quá các thủy lộ và nguồn tài nguyên. Có rất nhiều mù mờ (ambiguity) trong sự tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Nam Hải, vừa về mặt biên giới thực sự và liệu đó có phải là sự khẳng định lãnh hải của mình trên tòan bộ vùng biển hay chỉ trên các phần đất phụ thuộc (land features). Trong quá khứ, mù mờ này tác động không bao nhiêu đối với quyền lợi của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nó đã trở thành mối lo ngại khi các công ty năng lượng của chúng ta phải chịu áp lực từ Trung Quốc cũng như một vài khối/mô nằm xa ở ngòai khơi

(offshore blocks) cũng nằm trong đòi hỏi của Trung Quốc khi những khối/mô này không nằm trong công bố chủ quyền của họ. Sẽ là điều lợi ích cho tất cả các bên khi Trung Quốc làm sáng tỏ hơn về bản chất (nội dung) trong những công bố của họ.

Chúng ta cần phải cảnh giác để quyền lợi của chúng ta được bảo vệ và tăng tiến. Khi chúng ta có những lo ngại, chúng ta sẽ nêu ra một cách thẳng thắn như chúng ta đã làm khi Trung Quốc áp lực các công ty Hoa Kỳ.

Chúng ta ghi nhận Trung Quốc đã có những biện pháp hòa giải để giải quyết những tranh chấp về biên giới. Chẳng hạn, năm ngóai, Việt Nam và Trung Quốc đã ký thỏa hiệp phân định lại biên giới. Chính sách tổng quát của Trung Quốc đối với Đông Nam Á đề cao tình hữu nghị và láng giềng tốt (* cái này phải xét lại). Cũng lại như thế, việc triển khai chống hải tặc của Trung Quốc tại Vịnh Aden đã đóng góp tích cực vào mối lo chung của thế giới. Chúng ta phấn khởi trước những bước như vậy và hy vọng Trung Quốc sẽ ứng dụng tiến trình xây dựng như thế trong việc công bố chủ quyền trên biển và biên giới của họ.

Thưa TNS chủ tịch, chúng ta có quan hệ rộng rãi với Trung Quốc nó bao gồm rất nhiều nhiều vấn đề chiến lược sinh tử trọng yếu cho cả hai quốc gia. Chúng ta đồng ý chặt chẽ (agree closely) với họ trên một số vấn đề; còn những vấn đề khác chúng ta có những khác biệt hòan tòan. Mối liên hệ song phương đó khiến chúng ta có thể dàn xếp và tôn trọng những khác biệt và trình bày trong tinh thần trách nhiệm qua đối thọai.

Bản dịch của Đào Văn Bình

20 thg 7, 2009

Tại sao Cộng sản giết Phạm Quỳnh ?


Trần Gia Phụng, Jul 20, 2009

Việt Minh cộng sản đã giết Phạm Quỳnh (1892-1945) hai lần: Lần thứ nhất hạ sát, che giấu và phi tang thân xác ông tại Huế năm 1945. Lần thứ hai, bóp méo lịch sử, viết sai lạc về Phạm Quỳnh, nhằm hủy diệt luôn sự nghiệp và thanh danh của ông. Một câu hỏi cần được đặt ra là lúc đó Phạm Quỳnh đã rút lui khỏi chính trường, tại sao cộng sản lại giết Phạm Quỳnh, trong khi cộng sản không giết Trần Trọng Kim và toàn bộ nhân viên nội các Trần Trọng Kim, là những người đang còn hoạt động? Câu hỏi nầy cần tách ra làm hai phần để dễ tìm hiểu:

Thứ nhất: Từ khi đến Trung Hoa hoạt động năm 1924, Hồ Chí Minh, điệp viên của Đê Tam Quốc tế Cộng sản, lúc đó có tên Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, đã chủ trương “giết tiềm lực”. Giết tiềm lực là tiêu diệt tất cả những cá nhân có khả năng tiềm tàng mà không chịu theo chủ nghĩa cộng sản hay đảng Cộng Sản, có thể sẽ có hại cho đảng Cộng sản trong tương lai. Những người nầy về sau có thể sẽ hoạt động chính trị và có thể sẽ gây trở ngại, gây nguy hiểm cho sự phát triển của cộng sản. Nạn nhân danh tiếng đầu tiên của chủ trương giết tiềm lực của Hồ Chí Minh là Phan Bội Châu (1867-1940). Phan Bội Châu bị Lý Thụy bán tin cho Pháp, để Pháp bắt Phan Bội Châu năm 1925 tại nhà ga Thượng Hải, nhằm đoạt lấy tổ chức của Phan Bội Châu. (Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, bản dịch của Nguyễn Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, California: Nxb. Văn Nghệ, 1999, tt. 84-85.)

Từ đó, Hồ Chí Minh và phe đảng thi hành chủ trương giết tiềm lực, ngầm thủ tiêu rất nhiều thanh niên sinh viên hoạt động chính trị, và nhất là năm 1945, khi nắm được quyền lực, Việt Minh (VM), mặt trận ngoại vi của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), đã giết hầu hết những nhân tài không theo VM.

Tại Huế, VM tìm tất cả các cách nhắm cô lập vua Bảo Đại. Cách tốt nhất là cách ly nhà vua với những người có khả năng và uy tín thân cận bên cạnh nhà vua, trong đó quan trọng hơn cả là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi. Do đó, VM ra lệnh bắt Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi cùng con của ông Khôi là Ngô Đình Huân ngày 23-8-1945. Đồng thời VM sắp đặt những người của VM như Tạ Quang Bửu, Phạm Khắc Hòe vây quanh rỉ tai nhà vua, phóng đại về kháng chiến, về Việt Minh.(Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, tr. 184.)

Theo David G. Marr trong Vietnam 1945, The Quest for Power, sau khi Phạm Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi bị bắt, người Nhật can thiệp một cách yếu ớt không hiệu quả. Ngày 28-8, sáu người Pháp nhảy dù xuống một địa điểm cách kinh thành Huế khoảng 20 cây số nhắm mục đích bắt liên lạc với vua Bảo Đại và các cựu quan Nam triều. Lúc đầu, VM địa phương tưởng những người Pháp nầy là người của phe Đồng Minh, cho họ trú tạm tại một ngôi nhà thờ, nhưng khi biết rằng đây là những người Pháp có ý định tìm cách liên lạc với các quan chức Nam triều cũ, VM liền giết bốn người, và cầm tù hai người đến tháng 6-1946. (David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực] University of California Press, tt. 452-453.)

Trong khi cô đơn, lại bị Phạm Khắc Hòe xúi giục và hù dọa, vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị ngày 25-8-1945, và làm lễ thoái vị tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8-1945, với sự hiện diện của đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, và Cù Huy Cận.

Theo hồi ký của Trần Huy Liệu, sau khi Nhật đầu hàng, người Pháp nhảy dù xuống Huế, liền hỏi ngay đến Bảo Đại, Phạm Quỳnh và những người cộng tác với Pháp trước đó. Việt Minh bắt được toán người Pháp nầy và "xử lý thích đáng" Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. (Nguyên văn lời của Trần Huy Liệu.) Theo lối chơi chữ của Trần Huy Liệu, "xử lý thích đáng" có nghĩa là thủ tiêu hai ông Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh.
Nhiều người cho rằng việc người Pháp muốn kiếm cách liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại và Phạm Quỳnh (vì lý do gì không được rõ) vô tình đã làm cho VM lo ngại, sợ rằng một khi người Pháp trở lui, Pháp sẽ nhờ Phạm Quỳnh và những người đã từng làm việc với Pháp như Ngô Đình Khôi giúp Pháp lật ngược thế cờ, đưa cựu hoàng trở lại cầm quyền.

Do đó VM vội vàng "mời" cựu hoàng Bảo Đại rời Huế ngày 4-9-1945, ra Hà Nội làm cố vấn chính phủ, để cách ly cựu hoàng với cố đô, chiếc nôi của nhà Nguyễn, đồng thời cách ly cựu hoàng với những cận thần cũ. Vì vậy VM giết ngay các ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi ngày 6-9 để trừ hậu hoạn. Trong khi đó, nếu người Pháp trở lui Huế, người Pháp cũng không hợp tác với Trần Trọng Kim, vì ông Kim và nội các của ông bị gán cho là thân Nhật.

Thứ hai: Khi cướp chính quyền, VM đã chủ ý giết một số người trong đó có Phạm Quỳnh. Việt Minh chủ ý giết Phạm Quỳnh vì :

1) Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quân chủ lập hiến tại nước ta, và cho rằng cộng sản là "nạn dịch" gây bất ổn xã hội. (Phạm Quỳnh, “Ce que sera l’Annam dans cinquante ans?”[Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?], Essais franco-annamites (1929-1932), Huế: Nxb. Bùi Huy Tín, 1937, tr. 500.) Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quốc học trong khi Việt Minh muốn phổ biến chủ nghĩa cộng sản.

2) Ở trong nước, Phạm Quỳnh tiêu biểu cho giới trí thức làm văn hóa, theo chủ nghĩa dân tộc, lập trường quốc gia, bất bạo động, dấn thân hoạt động chính trị. Việt Minh giết Phạm Quỳnh để đe dọa, uy hiếp và khủng bố tinh thần giới trí thức hoạt động văn hóa trên toàn quốc. Đây là lối mà người xưa gọi là "sát nhất nhân, vạn nhân cụ "(giết một người, mười ngàn người sợ).

3) Đối với nước ngoài, Phạm Quỳnh là người được Pháp ủng hộ và rất có uy tín trên chính trường Pháp. Với đường lối ôn hòa, ông còn có thể được cả Nhật, Trung Hoa (lúc bấy giờ do Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng cầm quyền), Anh, Hoa Kỳ chấp nhận hơn là đường lối cực đoan theo Liên Xô của Hồ Chí Minh.

4) Hồ Chí Minh muốn chụp lấy ngay thời cơ tạo ra do khoảng trống chính trị sau tối hậu thư Potsdam vào cuối tháng 7-1945, nên chủ trương tiêu diệt tất cả những người nào có khả năng tranh quyền với Hồ Chí Minh, để cho ở trong cũng như ngoài nước thấy rằng chỉ có một mình Hồ Chí Minh mới xứng đáng lãnh đạo đất nước. Phạm Quỳnh đã từng là thượng thư bộ Lại, đứng đầu triều đình Huế. Đặc biệt những điều ông viết về tương lai thế giới mà ông đưa ra từ 1930 trong bài "Ce que sera l ' Annam dans cinquante ans?" [Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?] đều đã diễn ra đúng theo ông tiên liệu, như mối đe dọa của Nhật Bản, nạn dịch cộng sản, xung đột Thái Bình Dương, đại hỏa hoạn ở châu Âu [thế chiến 2]. Nhờ thế mà uy tín Phạm Quỳnh lên rất cao.

Phạm Quỳnh có uy tín và tư thế lớn đối với dư luận trong và ngoài nước, là một trong những người có thể trở thành đối thủ đáng ngại của Hồ Chí Minh, nên Hồ Chí Minh quyết tiêu diệt Phạm Quỳnh để tránh trở ngại về sau.

5) Khi mới nổi dậy năm 1945, để lôi cuốn quần chúng, Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, chứ không phải là đảng viên cộng sản, và Hồ Chí Minh ra đi để tìm đường cứu nước, đồng thời Hồ Chí Minh tự giấu thật kín chuyện xin vào học trường Thuộc Địa Paris mà bị loại. Một chuyện nữa cũng thuộc loại “thâm cung bí sử” của Hồ Chí Minh là việc Nguyễn Ái Quốc gia nhập Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) ở Paris vào đầu năm 1922. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie coloniale” [Người Việt trong hội Tam Điểm thuộc địa], tạp chí Revue Française d'Histoire d'Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d'Histoire d'Outre-mer, tr. 105.) Hội Tam Điểm là một hội có chủ trương chính trị đối lập với đảng Cộng Sản và là kẻ thù của đảng Cộng Sản.

Cũng trong năm 1922, theo lời mời của chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh đến Paris diễn thuyết tại Trường Thuộc Địa (École Coloniale) ngày 31-5-1922 về đề tài “Sự tiến hóa về đường tinh thần của dân Việt Nam từ ngày đặt bảo hộ đến giờ”. Sau đó, Phạm Quỳnh ở lại Paris để đi diễn thuyết vài nơi, kể cả Viện Hàn lâm Pháp. Trong thời gian ở Paris, Phạm Quỳnh ghi nhật ký là đã gặp gỡ những “chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi”, và không nêu tên những người ông đã gặp trong nhật ký. Tuy nhiên, trên sổ lịch để bàn, Phạm Quỳnh ghi rõ: [Thứ Năm, 13-17]: “Ăn cơm Annam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins)”. [Tờ lịch Chủ nhật 16-7]: “Ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” [Chủ nhật 16-7] [Chuyền có thể là Nguyễn Thế Truyền.]

Như thế, Phạm Quỳnh là một trong những người biết rõ tung tích Hồ Chí Minh ở Paris, biết rõ Hồ Chí Minh đã gia nhập hội Tam Điểm Pháp, và đặc biệt Phạm Quỳnh còn sống cho đến 1945. (Những người khác như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh đều đã từ trần.) Phạm Quỳnh là một nho sĩ chính trực nên ông không tiết lộ cho vua Bảo Đại biết điều nầy, do đó nhà vua mới bị Phạm Khắc Hòe dẫn dụ về nhân vật Hồ Chí Minh.( Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, tt. 184-185.) Phải chăng vì là người đã lỡ "biết quá nhiều" về Hồ Chí Minh mà Phạm Quỳnh bị Hồ Chí Minh ám hại?

Do những lẽ trên, nếu không có những người Pháp nhảy dù xuống Huế như tác giả David G. Marr viết hay Trần Huy Liệu kể, cộng sản cũng vẫn giết Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim đều là hai nhà văn hóa, và chính trị nổi tiếng trên toàn quốc. Trần Trọng Kim viết khảo cứu có tính cách hoàn toàn chuyên môn, chứ không có chủ trương chính trị lâu dài; nội các Trần Trọng Kim gồm những chuyên viên cần thiết cho việc xây dựng cơ sở căn bản trong giai đoạn chuyển tiếp từ chính quyền Pháp qua chính quyền Việt. Trần Trọng Kim ít biết về những hoạt động của Hồ Chí Minh lúc còn ở Paris.

Ngược lại, Phạm Quỳnh trước tác với một ý hướng chính trị rõ ràng: xây dựng một nền văn hóa dân tộc, bảo tồn quốc tuý, nâng cao trình độ văn hóa của dân chúng bằng cách phổ biến văn hóa Âu tây, dịch thuật những tư tưởng dân quyền của Montesquieu, Voltaire, Rousseau. Phạm Quỳnh tham gia triều đình Huế cũng nhắm đến một chủ đích rõ ràng: tranh đấu ôn hòa, nhưng cương quyết yêu cầu Pháp trả lại chủ quyền cho triều đình, và xây dựng một hiến pháp làm luật lệ căn bản của quốc gia.

Ảnh hưởng văn hóa và chính trị của Phạm Quỳnh khá rộng rãi trên các tầng lớp quần chúng, nhất là giới trí thức trung lưu, từ lớp trí thức Nho học đến cả lớp trí thức và thanh niên tân học. Tạp chí Nam Phong được các lớp người ưu tú ở các địa phương lúc bấy giờ trên toàn quốc xem như loại sách báo giáo khoa chỉ đường. Đó là điều mà cộng sản chẳng những không thể chấp nhận và cũng không thể dung thứ, vì cộng sản muốn nắm độc quyền lãnh đạo chính trị, độc quyền yêu nước, độc quyền chân lý.

Xin hãy chú ý thêm ngày Phạm Quỳnh bị sát hại. Phạm Quỳnh bị bắt ngày 23-8-1945, và bị giết ngày 6-9, nghĩa là ông không bị nhóm VM địa phương Huế giết liền khi họ nổi dậy. Vua Bảo Đại thoái vị ngày 30-8-1945 với sự chứng kiến của đại diện chính phủ Việt Minh từ Hà Nội đến là Trần Huy Liệu (bộ trưởng bộ Tuyên truyền), Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận (bộ trưởng không bộ nào tức quốc vụ khanh). Phạm Quỳnh bị giam giữ một thời gian, rồi mới bị giết ngày 6-9-1945, nghĩa là lúc đó đã có mặt của đại diện trung ương của VM và của đảng CSĐD.

Khi đã có sự hiện diện của đại diện trung ương, các cán bộ VM địa phương chắc chắn không dám tự tiện ra tay, mà chắc chắn phải có ý kiến của trung ương. Nhóm Trần Huy Liệu cũng không thể tự quyết định được việc nầy. Như vậy phải chăng chính nhóm Trần Huy Liệu đã đem lệnh từ Hà Nội vào Huế để giết Phạm Quỳnh? Và lệnh đó từ đâu, nếu không phải là từ Hồ Chí Minh?

Sau khi Phạm Quỳnh bị giết, hai người con gái đầu của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Dưới đây là lời kể của bà Thức:"...Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!...Sau đó, chị tôi [tên Giá] và tôi nhờ một anh bạn là Vũ Đình Huỳnh ngày ấy là garde-corps [cận vệ] cho cụ Hồ, giới thiệu đến thăm cụ và hỏi truyện [tức chuyện Phạm Quỳnh]. Cụ bảo: "Hồi ấy tôi chưa về...Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc..." (Hồi ký viết tại Paris ngày 28-10-1992 của bà Phạm Thị Thức, nhân kỷ niệm 100 năm sinh niên Phạm Quỳnh, tài liệu gia đình.)

Phạm Quỳnh bị giết ngày 6-9-1945. Hồ Chí Minh cướp chính quyền ngày 2-9-1945, ra lệnh “mời” Bảo Đại ra Hà Nội, và Bảo Đại rời Huế ngày 4-9-1945. Như thế có nghĩa là Hồ Chí Minh đã về Việt Nam, đã cướp được chính quyền, đã nghĩ đến cựu triều đình Huế, đến việc đưa Bảo Đại ra Hà Nội, vậy chắc chắn Hồ Chí Minh không thể quên hay không biết chuyện Phạm Quỳnh. Lối lý luận của Hồ Chí Minh là cách chối tội thông thường cổ điển của VM: "Mất mùa là tại thiên tai,/ Được mùa là tại thiên tài đảng ta.)

Giết xong Phạm Quỳnh, cộng sản tính việc hủy diệt luôn hình ảnh sáng chói nhà văn hóa Phạm Quỳnh, tức giết Phạm Quỳnh lần thứ hai. Việc nầy thì không thể nói là Hồ Chí Minh không biết gì cả. Đảng Cộng Sản quy chụp cho Phạm Quỳnh tội "phản quốc, làm tay sai cho Pháp". Gần 40 năm sau, trong Từ điển văn học, gồm 2 tập, mỗi tập trên 600 trang, gồm nhiều người viết, do Uỷ ban Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội năm 1984, vẫn không có mục "Phạm Quỳnh". Khi viết về các nhóm văn hóa, sách nầy không thể loại nhóm Nam Phong vì nhóm Nam Phong có khá nhiều tác giả nổi tiếng.

Nói đến nhóm Nam Phong, trang 121-123, tập 2, tác giả Nguyễn Phương Chi, trong ban biên tập từ điển, vẫn còn gọi Phạm Quỳnh là "bồi bút, phản động". Hơn thế nữa, năm 1997, trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, do nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội ấn hành, Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên tập, mục "Phạm Quỳnh", trang 758-759, hai tác giả nầy viết: "Hoạn lộ của ông [chỉ Phạm Quỳnh] lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân...Ngày 23-8-1945, Phạm bị các lực lượng yêu nước bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở l.[làng] Hiền Sĩ, t.[tỉnh] Thừa Thiên, hưởng dương 53 tuổi."

Các tác giả cộng sản thường đưa ra chiêu bài yêu nước và dân tộc để quy chụp những người không theo khuynh hướng của cộng sản là phản động, phản quốc, trong khi chính vì Hồ Chí Minh khăng khăng đi theo cộng sản Liên Xô mà Việt Nam không được các nước Đồng Minh thừa nhận sau năm 1945. Cũng chính vì đảng Cộng Sản chủ trương ý thức hệ cộng sản mà gây ra mâu thuẫn quốc cộng, phá hoại tình đoàn kết dân tộc, là một trong những nguyên nhân chính đưa đến chiến tranh Việt Nam từ 1946 đến 1975, và hậu quả còn kéo dài mãi cho đến ngày nay.

Sau năm 1954, rồi 1975, chính đảng Cộng sản Việt Nam đã nhập cảng và áp dụng một cách máy móc chính sách văn hóa Mác, Mao và kinh tế chỉ huy rập theo khuôn Liên Xô và Trung Cộng, đã làm cho Bắc Việt rồi cả Việt Nam suy kiệt về mọi mặt cho đến ngày nay mà chưa tìm ra lối thoát.

Nếu nói rằng: Phạm Quỳnh hợp tác với Pháp để mưu cầu chủ quyền cho Việt Nam, bảo vệ quyền lợi của quốc gia là làm tay sai cho ngoại bang, còn Hồ Chí Minh và đảng cộng sản theo Nga Hoa, bán đứng quyền lợi đất nước, thì không phải là tay sai ngoại bang? Nếu nói rằng Phạm Quỳnh hợp tác công khai với Pháp, viết bài trình thuật rõ ràng các hoạt động của ông là phản quốc, trong khi Hồ Chí Minh làm gián điệp cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản, cầu viện Trung Quốc và Liên Xô là không phản quốc?

Nếu nói rằng Phạm Quỳnh viết bài quảng bá học thuật Âu tây, đề cao tư tưởng dân quyền của Voltaire, Montesquieu, Rousseau là không có tinh thần dân tộc, còn cộng sản phổ biến tư tưởng Marx, Lenin, và nhất là chủ nghĩa Stalin thì gọi là gì? Phạm Quỳnh dịch thơ Corneille, Racine là bồi bút, còn Tố Hữu làm thơ gọi Stalin là ông nội, "thương cha thương mẹ thương chồng / thương mình thương một thương ông thương mười", thì không bồi bút?

Nói cho cùng, nếu Phạm Quỳnh chỉ là người học trò bình thường của Voltaire, Montesquieu hoặc Rousseau thì cũng đáng mừng cho dân tộc Việt Nam, vì tư tưởng của các nhà học giả Pháp nầy là ánh sáng soi đường cho nhân dân toàn thế giới xây dựng nền tự do dân chủ phân quyền pháp trị.

Trong khi đó Hồ Chí Minh là "một người học trò trung thành của Các Mác và V. I. Lê-nin" (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1975, tr. 160.), và nhất là người học trò xuất sắc của Stalin, thì thực tế lịch sử đã chứng minh rằng đó là hiểm họa độc tài đen tối khốc liệt nhất từ trước đến nay trong lịch sử Việt Nam.

Dầu sao, việc tuyên truyền của cộng sản một thời gây nhiễu xạ hình ảnh của Phạm Quỳnh và ảnh hưởng không ít đến dư luận dân chúng, làm nhiều người, kể cả vài kẻ tự mệnh danh là trí thức tiến bộ, hiểu sai về Phạm Quỳnh, và hiểu sai luôn về một số nhân vật chính trị theo khuynh hướng quốc gia dân tộc. Phạm Quỳnh đã từng nói: "Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông...". (Thư ngày 30-12-1933 của Phạm Quỳnh gời Louis Marty, Hành trình nhật ký, Paris: Nxb. Ý Việt, 1997, phần “Dẫn nhập”, không đề trang.)

Ngày nay, sau những biến động đảo điên của thời cuộc, mọi người nên công tâm tìm hiểu Phạm Quỳnh và nhìn lại sự nghiệp của ông. Trước ngã ba đường vào đầu thế kỷ 20, giữa cựu học, Tây học, và tân học, Phạm Quỳnh chọn con đường tân học, cải tiến và hoàn chỉnh văn học Quốc ngữ để làm phương tiện xây dựng quốc học, vừa bảo vệ quốc hồn quốc túy, vừa bồi đắp thêm bằng cách du nhập những tinh hoa văn hóa nước ngoài.

Chủ trương hòa nhập văn hóa (acculturation) của Phạm Quỳnh xét cho cùng rất quý báu và cần thiết cho đất nước, vì nếu chỉ mãi mê tranh đấu chính trị và quân sự, mà không xây dựng nền văn hóa dân tộc dựa trên quốc hồn, quốc học và quốc văn, thì người Việt vẫn bị trì trệ trong sự nô lệ tinh thần. Những đóng góp của ông trong việc phát triển nền văn chương Quốc ngữ thật lớn lao. Những vấn đề văn chương, triết lý tổng hợp đông tây ông đã viết, những ý kiến do ông đưa ra trong các bài báo, kể cả những ý kiến ông tranh luận về truyện Kiều, về Nho giáo, vẫn còn có giá trị. Giấc mơ của Phạm Quỳnh về quốc học, quốc hồn lại càng cần được cổ xúy làm nền tảng giáo dục tinh thần cho mọi người Việt Nam ngày nay ở trong cũng như ở ngoài nước. Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn của Việt Nam thời hiện đại.

Về chính trị, Phạm Quỳnh viết nhiều tiểu luận bằng tiếng Việt cũng như bằng tiếng Pháp để tranh đấu thực hiện lý tưởng chính trị của ông. Nhiều người thường đồng nghĩa nền quân chủ với phong kiến hoặc thực dân, nên cho rằng quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh là thủ cựu. Cần phải chú ý là Phạm Quỳnh chủ trương bất bạo động. Ông chọn thể chế quân chủ lập hiến với hy vọng thúc đẩy Việt Nam chuyển biến một cách ôn hòa trong trật tự.

Nhìn ra nước ngoài, hiện nhiều nước trên thế giới vẫn duy trì nền quân chủ lập hiến, nhưng vẫn là những nước hết sức dân chủ như Anh Quốc, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Bỉ ...Ở trong nước, xét trên chiều dài của lịch sử, từ ngày Pháp đặt nền đô hộ năm 1884 đến năm 1945, tuy các vua nhà Nguyễn bị người Pháp khống chế, nhưng vua vẫn là biểu tượng cao cả của đất nước, nên các cuộc nổi dậy kháng Pháp từ Bắc vào Nam đều quy hướng về một mối, đó là triều đình ở kinh đô Huế. Trái lại từ năm 1945 trở đi, khi VM cộng sản cướp chính quyền, người Việt Nam bị chia rẽ trầm trọng thành nhiều phe nhóm khác nhau, theo những quan điểm khác nhau. Do đó, Phạm Quỳnh có phần hữu lý khi ông chủ trương cải cách ôn hòa, và chọn quân chủ lập hiến theo đại nghị chế thay thế cho nền quân chủ chuyên chế.

Ngày nay, cục diện chính trị Việt Nam đã thay đổi hẳn, quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh không còn phù hợp, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận tinh thần ái quốc, lòng can đảm và sự tận tình của ông trên con đường phụng sự quê hương. Phạm Quỳnh đã âm thầm tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi chủ quyền cho đất nước. Ông đã hết lòng hoạt động vì nước và đã hy sinh vì lý tưởng của mình. Đó là điều thật đáng trân quý nơi Phạm Quỳnh, nhà trí thức dấn thân hoạt động chính trị.

Một điều đáng ghi nhận cuối cùng trong cách thức hành xử của Phạm Quỳnh. Ông theo đuổi một lý tưởng chính trị trường kỳ và bất bạo động, nên ông luôn luôn cố gắng làm những gì có lợi cho đất nước và đồng bào, đồng thời tránh không làm bất cứ việc gì có hại cho quốc gia dân tộc. Phạm Quỳnh sống lương thiện, không tham ô nhũng lạm, và cũng không hề gây tội ác giết hại đồng bào. Thái độ nầy là điều mà rất ít nhà hoạt động chính trị của mọi khuynh hướng thực hiện được, và là một điểm son sáng chói phân biệt Phạm Quỳnh với những người ra hợp tác với Pháp để trục lợi cầu vinh.

Đây là điều cần phải được tách bạch. Trong việc hợp tác với Pháp, có hai hạng người: hạng thứ nhất là những kẻ hợp tác để mưu cầu danh lợi riêng tư, lợi dụng quyền thế, hống hách bóc lột đồng bào; hạng thứ hai ra tham chính, làm việc với Pháp, không dựa vào quyền thế để hiếp đáp dân chúng, mà dùng quyền thế để cứu giúp đồng bào, và vẫn giữ được khí tiết riêng của mình như Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Trương Vĩnh Ký, và biết bao nhiêu người vô danh khác...

Phải tránh vơ đũa cả nắm, và phải rõ ràng như thế mới hiểu được tâm trạng cùng sự can đảm của những nhà trí thức, trong hoàn cảnh éo le của đất nước, dấn thân hoạt động chính trị, phụng sự dân tộc, nhất thời đã bị hiểu lầm sau những cơn lốc tranh chấp chính trị kéo dài trên quê hương yêu dấu, trong đó Phạm Quỳnh là trường hợp điển hình nhất.

TRẦNGIAPHỤNG
(Toronto, Canada)

19 thg 7, 2009

Áo Lụa Hà Đông

Thơ: Nguyên Sa - Nhạc: Ngô Thụy Miên

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa Thu dài lắm ở chung quanh

Áo Lụa Hà Đông


Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bay vội vã vào trong hồn mở cửa
Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?
Để anh gọi tiếng thở buồn vọng laị ....

Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn?
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
...Anh vẫn yêu màu áo ấy em ơi

VN Đang Đối Diện Nguy Cơ Lớn Từ “Bắc Triều”


Phỏng Vấn GS Stephen Young :
Ðinh Quang Anh Thái, Người Việt 2009/07/18


Lời Tòa Soạn: Giáo Sư Stephen Young hiện là giám đốc điều hành của tổ chức Caux Round Table và là chủ tịch của Winthrop Consulting and the Minnesota Public Policy Forum. Ông từng là khoa trưởng của Hamline University School of Law, và phó khoa trưởng của Harvard Law School. Trước kia, ông từng làm việc trong Ủy Ban Quan Hệ Ngoại Giao và là cố vấn cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nhân dịp từ Minnesota đến quận Cam, ông đã đến thăm báo Người Việt và trả lời cuộc phỏng vấn sau đây.

Người Việt : Là một người nghiên cứu về Việt Nam, giáo sư nhận định ra sao về mối quan hệ hiện nay giữa Việt Nam và TC ?

GS Stephen Young : Từ khi bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam, chưa bao giờ tôi mang tâm trạng bi quan như bây giờ khi nhìn vào tình hình Việt Nam. Vì trong thời gian chiến tranh Quốc-Cộng, ảnh hưởng của TC đối với nhà cầm quyền Cộng Sản miền Bắc không nhiều, so với ảnh hưởng của Liên Xô. Còn trong Nam, chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ nhưng người Mỹ không hề có tham vọng đế quốc mà chỉ muốn giúp dân chúng miền Nam thực hiện một xã hội dân chủ, tự do. Nhưng hiện nay, chúng ta thấy TC đang muốn bành trướng ảnh hưởng xuống phía Nam trong tất cả mọi lãnh vực, từ kinh tế, chính trị, văn hoá cho tới quân sự. Nhận định của tôi là Việt Nam đang đối diện nguy cơ lớn từ “Bắc triều”.

Người Việt : Ý giáo sư muốn nói giới lãnh đạo Bắc Kinh đang có tham vọng chiếm Việt Nam như thời kỳ một ngàn năm Bắc thuộc của lịch sử Việt Nam ?

GS Stephen Young : Ðúng như vậy.

Người Việt : Nhiều người cho rằng giới lãnh đạo Hà Nội hiện nay đã chọn con đường đi theo Bắc Kinh để bảo vệ chế độ, xin nghe ý kiến của của giáo sư về nhận định này ?

GS Stephen Young : Tôi thấy rằng từ nhiều năm nay, giới lãnh đạo Hà Nội đã quyết định đi hẳn với Bắc Kinh chỉ nhằm đổi lại sự ủng hộ của TC để họ tiếp tục cai trị. Chính vì vậy họ sẵn sàng dùng công an để trấn áp những hành động chống đối TC của dân chúng Việt Nam. Tôi quan sát thấy rằng, quân đội, trí thức và dân chúng rất bất mãn với thái độ của giới lãnh đạo, nhưng Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản nắm công an trong tay, nắm các lực lượng an ninh như Tổng Cục 2 nên họ bất chấp sự phản đối. Chúng ta ai cũng biết lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam bây giờ giàu kinh khủng vì tham nhũng. Họ cứ bảo rằng họ là đảng của giai cấp công nhân chứ thực ra họ là tỷ phú đô la, và chính vì vậy họ phải bảo vệ vị thế “ăn trên ngồi trốc” của họ.

Người Việt : Nói cách khác, thưa giáo sư, toàn bộ giới lãnh đạo cao cấp nhất của Hà Nội, từ Chủ Tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cho đến Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng đều phục tòng TC ?

GS Stephen Young : Theo tôi, đa số thành viên Bộ Chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam đã chấp nhận đi với Tầu. Ðúng ra, nếu họ khôn ngoan, họ nên giao du thân hơn với Mỹ, thân hơn với khối Asean. Nhưng chúng ta thấy bất cứ lãnh đạo nào của Hà Nội trước khi thăm Hoa Kỳ đều phải qua TC để xin phép “Bắc triều”. Cho nên một số dư luận ở hải ngoại cho rằng ông Triết, ông Dũng muốn đi với Mỹ, theo tôi, nhận định đó là sai.


Người Việt : Khi tiếp Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng của nhà nước Cộng Sản Hà Nội tại Toà Bạch Ốc vào năm 2008, Tổng Thống Bush nói rằng Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền toàn vẹn của lãnh thổ của Việt Nam. Liệu có thể lý giải quan điểm của ông Bush là Mỹ sẵn sàng bảo vệ Việt Nam trước mối đe doạ của TC ?

GS Stephen Young : Theo tôi, Hoa Kỳ có thể bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam với điều kiện chế độ hiện nay tại Việt Nam phải dân chủ hoá, mà điều kiện này chắc chắn giới lãnh đạo Hà Nội sẽ không chịu. Việt Nam có dân chủ thì dân chúng Mỹ mới chấp nhận hy sinh nữa để giúp, mà giúp nhân dân Việt Nam chứ không giúp chế độ. Nếu Hà Nội muốn đi với Hoa Thịnh Ðốn thì 20 năm qua họ đã có nhiều cơ hội, nhưng họ vẫn chưa dám vì còn lo sợ áp lực của Bắc Kinh.

Người Việt : Nếu Hà Nội muốn kết thân hơn nữa với Hoa Thịnh Ðốn thì liệu Hoa Kỳ có sẵn sàng không, thưa giáo sư ?

GS Stephen Young : Tùy theo tình hình chính trị tại Việt Nam. Nghĩa là tùy tình trạng tôn giáo, nhân quyền và những vấn đề khác như tham nhũng, vấn đề độc tài của đảng Cộng Sản. Theo tôi, đảng Cộng Sản Việt Nam phải lựa chọn, giữa một bên là quyền lợi của đảng và một bên là quyền lợi của nhân dân. Họ chỉ lo cho quyền lợi của đảng họ hay họ lo cho quyền lợi của dân tộc và đất nước. Bây giờ thì họ vẫn cứ ưu tiên lo cho quyền lợi của đảng họ. Ðiều này đã quá rõ ràng.

Người Việt : Nước Mỹ vừa có tân lãnh đạo là Tổng Thống Obama. Theo giáo sư, chính phủ Obama nhìn Á Châu và riêng Việt Nam ra sao ?

GS Stephen Young : Nói chung, tôi thấy chính sách ngoại giao của chính phủ Obama ít quan tâm tới Á Châu. Hai chiến trường Iraq và Afganistan là 2 hồ sơ lớn mà chính phủ phải đối đầu, nên với Á Châu, chính phủ Obama không xem là ưu tiên lớn. Thí dụ trước hành động Bắc Hàn thử nghiệm hạt nhân, Hoa Thịnh Ðốn cũng chỉ phản ứng chừng mực chứ không quyết liệt. Riêng với Việt Nam, tôi nghĩ chính phủ Obama cũng sẽ không tích cực.

Người Việt : Một số người cho rằng Tổng Thống Obama chủ trương “xoa dịu dư luận”, nói cách khác, chính sách ngoại giao của ông Obama quá mềm yếu, giáo sư nghĩ sao ?

GS Stephen Young : (cười thoải mái) Tôi hoàn toàn không đồng ý với nhận định đó. Theo tôi, nhờ cung cách mềm dẻo, uyển chuyển của ông Obama, cái thế của Mỹ sẽ mạnh hơn trên thế giới. Cái thế mạnh không nhất thiết phải dùng vũ lực, dùng tiền bạc. Thế mạnh có thể đạt được bằng cách thuyết phục. Nhiều người Mỹ vẫn chủ trương dùng bạo lực để tạo thế, nhưng cũng có nhiều người Mỹ muốn dùng cách thương thuyết để tạo thế. Với tôi, cách dùng thương thuyết vẫn có giá trị và đạt kết quả. Trong lịch sử Việt Nam, khi quân Nguyên đánh Việt Nam, Ðức Trần Hưng Ðạo từng dạy rằng, lấy “cái ngắn chế cái dài”, tức lấy thế yếu đánh thế mạnh. Kết quả là nhà Nguyên to lớn bị thua và Việt Nam bé xíu đã thắng. Tôi luôn nghĩ rằng, cái thế của cái tâm, của trí óc, của lương tâm rất có giá trị.

Người Việt : Giáo sư đã từng làm việc tại Việt Nam thời chiến tranh ; sau năm 75, giáo sư đã góp tay những mong chuyển hoá tình hình Việt Nam từ chế độ độc tài sang dân chủ ; Việt Nam hiện nay trong mắt giáo sư ra sao ?

GS Stephen Young : Tình hình Việt Nam có nhiều diễn tiến phức tạp. Một mặt, Việt Nam đã có một số tự do, hiểu theo nghĩa nếu người dân đừng đụng chạm tới đảng Cộng Sản thì họ có quyền đọc sách, đi chơi, đi học ngoại quốc, vào chùa, vào nhà thờ hành đạo mà không bị công an bắt bớ như trước kia. Tóm lại, so sánh với 20 năm trước, dân chúng sống dễ thở hơn. Nhưng nếu người dân bàn luận chính trị, thì chắc chắn bị ngăn cấm. Nghĩa là Việt Nam vẫn không có tự do, không có sinh hoạt dân chủ.

Người Việt : Những năm gần đây, ngày càng có nhiều người thoát khỏi nỗi sợ hãi và nói lên khát vọng tự do dân chủ. Giáo sư có nghĩ đây là diễn biến sẽ dẫn tới dân chủ hoá Việt Nam ?

GS Stephen Young : Tôi không nghĩ là Việt Nam sẽ sớm có dân chủ. Vì hệ thống cai trị của công an đang dùng tiền bạc mua chuộc và biện pháp trấn áp để đe doạ những người chống đối. Công an có thể để cho một người lên tiếng, nhưng tới một giới hạn nào mà không nguy hiểm cho chế độ. Nếu người đó đi quá giới hạn thì công an sẵn sàng trấn áp. Hơn 30 mươi năm qua, Việt Nam chưa có một tổ chức nào đủ mạnh để đối đầu với đảng Cộng Sản. Công nhân không có tổ chức ; sinh viên thanh niên không có tổ chức ; trí thức không có tổ chức... có chăng là một số cá nhân can đảm lên tiếng chống đối.

Người Việt : Phải chăng giáo sư quá bi quan đối với tương lai dân chủ của Việt Nam ?

GS Stephen Young : Tôi bi quan. Vì đa số quần chúng chán ghét đảng Cộng Sản, nhưng họ cam chịu cuộc sống của họ. Ðó là chưa kể đảng Cộng Sản có “tiền rừng bạc biển” trong tay, có công an, có quân đội. Thành ra tôi chưa thấy lạc quan vào tương lai dân chủ của Việt Nam.

Người Việt : Giáo sư nói Việt Nam không có tổ chức đối đầu với Cộng Sản ; giáo sư nghĩ gì về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất với quan điểm đấu tranh tới cùng để Việt Nam có tự do, dân chủ ?

GS Stephen Young : Tôi thấy quý thầy lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có lập trường rất đúng đắn, nhưng phía công an của chế độ đã tìm đủ mọi cách cô lập giáo hội với quần chúng khiến dân chúng không thể tham gia cuộc đấu tranh của giáo hội. Trong lòng dân chúng thì họ muốn theo giáo hội nhưng họ không dám công khai ủng hộ.

Người Việt : Kế hoạch của nhà cầm quyền muốn khai thác bauxite tại Cao nguyên Trung phần đang gây phẫn uất dân chúng tại Việt Nam. Liệu đây có thể là “giọt nước làm tràn cái ly” không, thưa giáo sư ?

GS Stephen Young : Cái ly lớn hay nhỏ ? Tôi sợ cái ly lớn lắm. Cho nên một giọt nước không đủ mà cần nhiều giọt nước thì mới tràn cái ly. Chúng ta nên nhớ đảng Cộng Sản đang nắm quyền, nắm tiền và có “Bắc triều” đứng sau lưng. Tôi nghĩ là phải chờ một cuộc khủng hoảng lớn về kinh tế ; hoặc chờ thế hệ Cộng Sản hiện nay nằm xuống và lớp trẻ lên thay thế thì tình hình mới hy vọng có chuyển đổi.

Người Việt : Câu chót xin hỏi giáo sư, cộng đồng người Việt Hải Ngoại nói chung, tại Hoa Kỳ nói riêng, làm được gì để góp phần chuyển đổi tình hình tại Việt Nam ?

GS Stephen Young : Tôi quan sát thấy lớp trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên tại Mỹ nói và viết tiếng Anh rất thông thạo như người bản xứ nhưng không nói và viết được tiếng mẹ đẻ. Lớp trẻ này là người Mỹ gốc Việt. Câu hỏi của tôi là họ có nghĩ tới Việt Nam không ? Họ có lo cho Việt Nam không ? Ðây cũng là điều tự nhiên vì họ trưởng thành ở xứ nào thì chỉ biết văn hoá xứ đó. Họ không muốn tham gia các sinh hoạt chính trị đấu tranh cho Việt Nam. Và hình như lớp người trẻ này chỉ thích về Việt Nam đi du lịch. Còn lớp người vẫn còn lo lắng cho Việt Nam thì bây giờ lớn tuổi lắm rồi. Thành ra tôi nghĩ, những người Việt Nam còn ý thức được số phận của dân tộc phải tổ chức những sinh hoạt văn hoá nhằm khơi dậy lòng tự hào dân tộc nơi lớp người trẻ để (lớp người trẻ này) tham gia vào các hoạt động cho Việt Nam.

Người Việt : Cám ơn giáo sư đã trả lời phỏng vấn.

18 thg 7, 2009

Đế quốc Trung Hoa vẫn bành trướng


Ngô Nhân Dụng

Hàng trăm người Uighur chết ở Tân Cương và mấy chục ngư phủ Việt Nam chết ở biển Ðông sau khi bị đánh chím tầu, họ đều là nạn nhân của một hiện tượng lịch sử diễn tiến trong hai ngàn năm nay. Ðó là sự bành trướng của một đế quốc đã thành hình trên Hoa lục từ hơn 200 năm trước Công Nguyên. Người Uighur hay người Tây Tạng đã bị nuốt vào nằm trong đế quốc đó, còn người Việt vẫn đang chịu áp lực của sự cọ xát do hiện tượng bành trướng đó gây ra, giống như các nước biên ngoại khác.

Người Trung Hoa đến nay vẫn tự gọi họ là người Hán, dùng tên của đế quốc đầu tiên kéo dài 4 thế kỷ này, mà vào năm 43 họ đã chính thức chiếm đóng vùng sông Hồng, sông Mã của dân tộc Việt để thi hành một chính sách trực trị và đồng hóa. Họ đã thành công trong công việc đồng hóa các sắc dân từ vùng Thượng Hải, Phúc Kiến, cho đến Quảng Ðông, Vân Nam. Nhưng một nhóm người Việt là tổ tiên chúng ta đã thoát khỏi vòng kềm tỏa của đế quốc đó sau một ngàn năm không ngừng tranh đấu. Người Uighur và các dân tộc theo Hồi Giáo ở Tân Cương không may mắn như người Việt. Cũng bị sáp nhập vào nước Trung Hoa trong hơn một ngàn năm, đến nay họ vẫn phải sống làm dân nước đó như một nhóm thiểu số bị khinh thường. Khi những người dân “thiểu số” này nổi dậy phản kháng vì bị đối xử bất công, họ bèn bị gán cho tiếng “phản loạn.”

Kể từ thời nhà Hán, mỗi khi Trung Quốc thống nhất trong một thời gian dài thì những vị hoàng đế Trung Hoa lại bành trướng lãnh thổ. Các triều đại Ðường, Tống, Nguyên, Minh, và Thanh đều mở rộng vùng đất họ kiểm soát. Các dân tộc chung quanh thường được bình an những khi “bên Tàu có loạn” chia năm xẻ bảy. Ðể cho công bằng, chúng ta không nên nghĩ là cả dân tộc Trung Hoa có tham vọng đế quốc. Thực ra chính các vị hoàng đế, dù họ đóng kinh đô ở Trường An, Lạc Dương, Nam Kinh hay Bắc Kinh; dù họ là người gốc Hán hay gốc Mông Cổ, gốc Mãn Châu; chính họ mới chịu trách nhiệm về những cuộc xâm lăng chiếm đất, cướp của, giết người, tạo nên một nước gọi là Trung Quốc bây giờ. Ðế quốc này bành trướng mạnh nhất vào đời nhà Thanh (1644 - 1912), mở rộng ra gấp hai lần vùng kiểm soát của nhà Minh trước đó. Mà triều đại dài gần 400 năm này lại do một sắc dân thiểu số người Mãn Châu đứng đầu.

Cho nên có thể nói Trung Quốc không phải là một quốc gia theo nghĩa thông thường, với một dân tộc và một tổ chức nhà nước cai trị (nation-state). Cũng giống như Liên Bang Xô Viết trước đây, chưa bao giờ là một quốc gia cả, khi guồng máy ở trung tâm nới lỏng ra thì cả đế quốc cũng tan rã. Nói về nước Trung Hoa theo lối có thiện cảm như một Martin Jacques, người Anh, tác giả cuốn “When China Rules the World” mới xuất bản, thì đó là một “civilisation-state,” một tổ chức cai trị để phát triển và bành trướng một nền văn minh riêng. Văn minh Trung Hoa được những người sống ở vùng Hoàng Hà dùng để “khai hóa” các dân man di chung quanh từ thời Tần Hán đến thế kỷ 20. Chế độ Cộng Sản đã dùng một thứ “văn minh” khác: chủ nghĩa Mác-Lê nin-Mao, với tinh thần đoàn kết vô sản thế giới, xóa bỏ phân biệt chủng tộc cũng như biên giới quốc gia.

Theo đúng chương trình của Mao Trạch Ðông, khi chế độ Cộng Sản được thực hiện khắp Á Châu thì những sắc dân ở Hàn Quốc, Việt Nam, Miến Ðiện, cho tới Mã Lai Á, Indonesia đều sẽ “trước là đồng chí sau là anh em,” được hưởng quy chế cùng một nhà với người Hán. Khi hải quân Trung Quốc tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa để chiếm Hoàng Sa năm 1974, chính phủ Cộng Sản ở Hà Nội không lên tiếng phản đối. Vì họ theo đúng tinh thần đoàn kết vô sản của Mao Trạch Ðông, mà Hồ Chí Minh vẫn tôn thờ và ca ngợi.

Các chính phủ Trung Quốc thường nói họ là một quốc gia đa chủng tộc, nhưng thực chất là một đế quốc. Nhà Thanh công nhận năm sắc dân: Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, vì họ thuộc giống Mãn, cần hợp thức hóa chế độ cai trị của họ trên đa số dân Hán. Thời dân quốc, từ năm 1912, cũng theo nếp đó. Ðến thời Cộng Sản, họ nói Trung Quốc có 55 sắc dân thiểu số, hiện nay có 104 triệu, chiếm 9% trong số 1.3 tỷ người, và sắc dân chính là người Hán, 91% dân số.

Nhưng ngay đám dân gọi là “người Hán” này cũng khó coi là một dân tộc vì họ không thuần nhất chút nào. Gọi tất cả là người Hán cũng giống như chúng ta gọi các đồng bào Mường, Thái, người gốc Cham, gốc Khơ Me đều là người “Kinh” vậy. Có 8 nhóm ngôn ngữ chính ở Trung Quốc, như tiếng Ngô, tiếng Việt (Quảng Ðông), tiếng Tương, Mân Bắc, Mân Nam (Phúc Kiến), vân vân. Trong mỗi nhóm tiếng chính lại chia ra nhiều ngôn ngữ phụ. Ngôn ngữ chính thức (phổ thông) học trong trường và dùng trong chính phủ (quan thoại), nhưng người dân vẫn dùng tiếng của vùng mình trong đời sống hàng ngày. Giữa người nói ngôn ngữ chính và tiếng Quảng Ðông cũng khó hiểu được nhau như giữa người Ðức và người Anh; hoặc giữa người Pháp và người Tây Ban Nha vậy. Trung Quốc cứ hợp rồi tan, tan rồi lại hợp, vì đời Tần cưỡng chế mọi người dùng một thứ chữ viết và các vị hoàng đế đời sau tiếp tục chính sách đồng hóa đó. Nhưng hiện nay nhiều sắc dân đang muốn xác định lại bản sắc của họ. Người Hẹ (Khách Gia) và người Quảng (Việt) đều muốn tìm hiểu lại di sản văn hóa cổ truyền. Tại Quảng Ðông đang có một phong trào phục hồi những di tích của văn minh Nam Việt. Những người di dân từ miền Nam Trung Quốc ra nước ngoài thường tự gọi họ là người Ðường chứ không gọi là người Hán. Ở các khu phố Tàu người ta đặt tên Ðường Nhân Hành, và tay võ sĩ từ bên Tàu qua được gọi là “Ðường Sơn đại huynh.”

Các vị hoàng đế đời trước và Hoàng đế Ðỏ bây giờ tìm cách xóa mờ sự khác biệt giữa các nhóm dân đó, đề cao một dân tộc Hán thuần nhất, là để bảo vệ đế quốc, tức là bảo vệ ngai vàng của họ. Cho nên sau vụ tàn sát người Uighur ở Tân Cương vừa qua, chính quyền Cộng Sản đã cho chiếu tin tức trên màn ảnh truyền hình khắp nước để cổ võ tình yêu “tổ quốc” gượng ép này. Nhưng ngay bây giờ trong nước Trung Hoa vẫn có những lực ly tâm hoạt động, vì tình trạng phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, các tỉnh. Tình trạng bất công xã hội khiến mỗi năm có đến trăm ngàn “biến cố quần chúng” khắp nơi, tức là những vụ biểu tình từ một trăm người trở lên. Một đế quốc chỉ có thể bành trướng khi thật sự tập trung quyền hành, nhất là khi chính quyền trung ương có khuynh hướng độc tài. Còn khi guồng máy cai trị bên trong đế quốc đó được dân chủ hóa, các ý kiến khác biệt được thảo luận bình đẳng, thì nhu cầu bành trướng ra bên ngoài cũng nhẹ đi vì chính quyền không cần cho dân uống thứ ma túy gọi là “ái quốc” nữa. Vì vậy, đối với những quốc gia ở bên cạnh Trung Quốc như nước ta, khi nào nước Trung Hoa dân chủ hóa thực sự thì khi đó nước Việt Nam có thể nói chuyện bình đẳng với Trung Quốc. Nhóm các nhà trí thức ký Hiến Chương 08 đã đề nghị Trung Quốc theo thể chế liên bang, vì họ hiểu khát vọng tự trị của những đám dân khác ngôn ngữ và khác nhau về trình độ phát triển kinh tế.

Ðề nghị liên bang hóa Trung Quốc nhắm vào những đám dân thiểu số lớn, như người Tây Tạng, người Uighur và các sắc dân khác ở Thanh Hải, Cam Túc, Tân Cương. Chính phủ Bắc Kinh rất lo ngại tình trạng căng thẳng sẽ đưa tới nhiều biến loạn và những cuộc tàn sát khác, như đã xẩy ra ở Tây Tạng năm ngoái và Tân Cương năm nay. Khi binh lính người Hán bắn vào những người Hồi Giáo ở Tân Cương, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã cực lực lên án. Ðầu thế kỷ 20, Tây Tạng là một nước độc lập, dân Uighur cũng đứng lên thành lập một nước Ðông Thổ (East Turkistan) giống như nước Turkistan mới tách khỏi Liên Bang Xô Viết gần đây. Bộ trưởng thương mại Thổ Nhĩ Kỳ đã đe dọa sẽ kêu gọi dân chúng tẩy chay hàng hóa Trung Quốc. Những nước Trung Á khác cùng chung một tôn giáo với dân Uighur và tiếng nói cùng gốc Thổ cũng sẽ tỏ tình đoàn kết với người Uighur. Mà đây là một vùng chính quyền Bắc Kinh đang tìm cách kết thân, qua tổ chức Hội Nghị Thượng Hải (thêm Cộng Hòa Nga và sẽ thêm Iran) để bảo đảm nguồn tiếp tế dầu lửa và khí đốt từ vùng Hắc Hải, diển Caspian, sang tới Trung Á.

Những dân tộc gốc Thổ vùng Trung Á cũng chia sẻ mối lo sợ như các nước vùng Ðông Nam Á. Họ sợ sức bành trướng tự nhiên của Ðế quốc Trung Hoa. Ngay nước Nga bây giờ cũng còn sợ đế quốc Trung Hoa xâm thực dần dần vào miền Siberia, thì người Hồi Giáo Trung Á cũng lo ngại những Ban Siêu, Phục Ba mới. Ðời Ðường đã lập An Tây Ðô Hộ Phủ để xâm lăng và thống trị vùng Tân Cương, Thanh Hải, mở đường qua phía Bắc Hy Mã Lạp Sơn. Cùng thời gian đó, An Nam Ðô Hộ Phủ thống trị dân Việt và đã tiến xuống tới tận Chiêm Thành.

Ðế quốc Trung Hoa bị ngăn lại ở biên giới Việt Nam, nếu không chắc họ đã bành trướng tới Indonesia (họ gọi là Nam Dương, Biển phía Nam), Mã Lai Á, Thái Lan, vân vân, từ trước khi các đế quốc Âu Châu sang đến vùng này. Nếu không có sức đề kháng của dân Việt, biết đâu người Thái, người Khơ Me bây giờ cũng có số phận như người Uighur mà thôi! Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng Việt Nam là hàng rào bảo vệ họ trước sự bành trướng của đế quốc Trung Hoa. Cho nên những người lãnh đạo Việt Nam biết bảo vệ chủ quyền dân tộc cần phải đoàn kết hơn với các nước Ðông Nam Á trong việc đối phó với Trung Quốc. Những cuộc thương thuyết về chủ quyền và lãnh hải nên đưa ra với tính cách tập thể, nhiều quốc gia tham dự. Tuyệt đối không nên kéo dài những cuộc họp song phương, nhất là những cuộc hội đàm bí mật đến nỗi người dân nước mình cũng không biết hai đảng Cộng Sản đã bàn những chuyện gì với nhau.

Từ khi dành được độc lập, các vua chúa Việt Nam luôn luôn chỉ dám tự xưng mình là “vương” khi giao thiệp với “hoàng đế” Trung Quốc. Thái độ khiêm tốn, nhún nhường đó là thủ đoạn ngoại giao để tránh chiến tranh cho dân đỡ khổ. Nhưng suốt lịch sử, người Việt Nam không bao giờ chịu nhục trước sự đe dọa của các hoàng đế Trung Hoa, ngay cả trước đám quân Mông Cổ bách chiến bách thắng. Và ngay trong thời bình, các chính quyền Việt Nam vẫn luôn luôn cảnh giác coi chừng sự xâm nhập, bành trướng của người Trung Quốc. Thái độ đó trở thành lỏng lẻo khi đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận lệ thuộc vào sự chi viện của Cộng Sản Trung Hoa từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến tư tưởng, văn hóa.

Nhưng người Việt Nam chắc ai cũng ý thức về sức bành trướng của đế quốc phương Bắc. Phản ứng của mọi giới đồng bào, kể cả người Việt ở nước ngoài, trước việc cho người Trung Hoa khai thác Bô xít ở Tây nguyên, và trước những vụ tầu Trung Quốc đâm vào tầu đánh cá Việt Nam, cho thấy mối lo sợ của người Việt có lý do chính đáng. Chúng ta không cần phải thù ghét người dân Trung Quốc, dù họ gọi là người Hán hay Ðường nhân. Các nước lớn đều có tham vọng bành trướng tự nhiên như vậy, các nước nhỏ phải biết tự giữ lấy thân mình! Mối lo chính là những vị Hoàng đế Ðỏ của đế quốc này vẫn dùng chiêu bài “quốc tổ” dụ dỗ, mê hoặc dân Trung Hoa để bảo vệ quyền hành của chính họ. Mà một cách kích thích lòng “ái quốc” là bành trướng ảnh hưởng của họ, trên trên các nước khác. Mối lo gần gũi nhất là sợ rằng các Hoàng đế Ðỏ ở Bắc Kinh lại mua chuộc được các ông vua chúa ở nước ta bằng “tình đồng chí giữa những người Cộng Sản cuối cùng trên trái đất!”

Khi nào hai nước Việt Nam và Trung Quốc dân chủ hóa thật thì mới có thể nói chuyện bình đẳng được.

17 thg 7, 2009

Anh Phải Sống


Khái Hưng

Trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ.
Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi.
Theo dòng nước đỏ lờ đờ, những thân cây, những cành khô từ rừng về nổi lềnh bềnh, như một dãy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thật nhanh tới một nơi không bờ không bến.

Ðứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói:
-- Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân trời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ!
Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng dừng lại, hỏi vợ:
-- Mình thổi cơm chưa?
Vợ buồn rầu đáp:
-- Ðã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay.
Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau... Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông. Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ.
Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ:
-- Liều!
Vợ lắc đầu không nói. Chồng hỏi:
-- Mình đã đến nhà bà Ký chưa?
-- Ðã.
-- Thế nào?
-- Không ăn thua. Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước.
-- Thế à?
Hai chữ "thế à" rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên tường đương xâỵ Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ:
-- Này! Mình về nhà, trông coi thằng Bò.
-- Ðã có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi.
-- Nhưng mình về thì vẫn hơn, cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó.
-- Vậy thì tôi về... Nhưng mình cũng về chứ đứng đây làm gì?
-- Ðược, cứ về trước đi, tôi về sau.

Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ.
Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng.
Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đang cùng khóc lóc gọi bu. Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng.
Cái Nhớn vỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé:
-- Mày đi tìm bu về để cho em nó bú.
Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chưởi vừa kêu.
Chị phó Thức vội chạy lại ẵm con, nói nựng:
-- Nao ôi! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc.
Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước.
Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng:
-- Nao ôi! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú !
Một lúc thằng bé vì mệt quá, lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ.


Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã qua. Bộ óc chất phát của chị nhà quê giản dị, không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ ra một cách rành mạch, là chưa bao giờ được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có.
Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm...
Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau.
Năm năm ròng trong gian nhà lụp sụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép và hai cái đời trống rỗng của hai con người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con.
Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít, công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chật vật suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con.
Bỗng mùa nước mặn năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thải.
Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to.
Thì hôm qua, cái ăn, trời bắt đầu đưa đến cho gia đình bác.
Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón rén bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì.
Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu.
Gió vẫn to, vù vù gầm thét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy quanh như thác. Lạc ngước mắt nhìn trời; da trời một màu đen sẫm.
Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu phần phật như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy ra một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông.
Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan, Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại cái gút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền hỏi:
-- Mình định đi đâu ?
Thức trừng mắt nhìn vợ, cất tiếng gắt:
-- Sao không ở nhà với con ?
Lạc sợ hãi ấp úng:
-- Con... nó ngủ.
-- Nhưng mình ra đây làm gì?
-- Nhưng mình định đem thuyền đi đâu ?
-- Mình hỏi làm gì? Ði về!
Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động:
-- Sao mình khóc ?
-- Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi.
Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ:
-- Mình không đi được... nguy hiểm lắm.
Lạc cười:
-- Nguy hiểm thời nguy hiểm cả... Nhưng không sợ, em biết bơi.
-- Ðược !
Tiếng "được" lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời mỗi lúc một đen. Thức hỏi:
-- Mình sợ ?
-- Không.
Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô, khi chìm, khi ẩn, khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son.
Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi.
Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ thì trời đổ mưa... Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở.
Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu.
Hai người cố bơi nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi...
Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:
-- Trời ơi !
Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp...
Chồng hỏi vợ:
-- Mình liệu bơi được đến bờ không ?
Vợ quả quyết:
-- Ðược !
-- Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng !
-- Ðược ! Mặc em !
Mưa vẫn to, sấp chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi :
-- Thế nào ?
-- Ðược ! Mặc em !
Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh, nàng mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:
-- Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi ! Tôi không xốc nổi được mình nữa.
Mấy phút sau, chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh ta rã rời. Vợ khẽ hỏi:
-- Có bơi được nữa không ?
-- Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
-- Em buông ra cho mình vào nhé ?
Chồng cười:
-- Không! Cùng chết cả.
Một lát -- một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày -- chồng lại hỏi:
-- Lạc ơi? Liệu có cố bơi được nữa không?
-- Không?... Sao!
-- Không. Thôi đành chết cả đôi.
Bỗng Lạc rung khẽ nói:
-- Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé ! ... Không? ... Anh phải sống!
Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để mình xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ.
Ðèn điện sáng rực xuống bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Ðó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con.

Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng.

12 THÁNG ANH ĐI