29 thg 10, 2009

Không chống cũng không sợ

Ngô Nhân Dụng

Một độc giả viết thư bênh vực đảng Cộng Sản Việt Nam trong cách họ đối xử với Trung Quốc, chỉ trích những ai khích động người Việt chống Trung Quốc dù biết là sức nước mình không chống nổi. “Tôi tin ở Ðảng,” vị độc giả viết, “Ðảng lúc nào cũng bảo vệ chủ quyền của đất nước. Hiện nay đến Mỹ cũng sợ Trung Quốc, Việt Nam đánh Trung Quốc chẳng khác nào lấy trứng chọi với đá!”

Trước hết, phải xác định một điều: Không có người nào cổ động Việt Nam đánh nhau với Trung Quốc. Không ai có ý định lấy trứng chọi với đá! Không nên vu oan cho người Việt để bênh vực đảng của quý vị.

Hai năm trước, những thanh niên biểu tình phản đối việc chính phủ Trung Quốc lập huyện Tam Sa để chính thức hóa chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phản đối việc Trung Quốc quảng cáo Thế Vận Hội vẽ cái bản đồ thè lưỡi liếm tất cả hải phận nước ta. Các “bạn trẻ” này (trong đó có nhạc sĩ Tô Hải đã ngoài 80 tuổi), có tính xách súng ra biển tử chiến đòi lại Hoàng Sa ngay không? Chắc là không. Năm nay, học giả Nguyễn Huệ Chi và các nhà trí thức đang yêu cầu ngưng không cho khai thác Bauxite, họ có muốn gây chiến để buộc Trung Quốc rút các công ty khai mỏ của họ về nước hay không? Cũng không. Ông Ðiếu Cày, cô Mẹ Nấm, có ai hô hào tuyên chiến với Trung Quốc hay không? Không nốt.

Không người Việt Nam nào hiếu chiến và dại dột như vậy, đời xưa cũng như bây giờ. Lê Lợi, Nguyễn Huệ, có ông nào chủ trương chống Trung Quốc hay không? Cũng không. Họ dấy quân trừ bạo chỉ vì không chịu được nhục nhã, vì bị áp bức mà phải ngẩng đầu lên, phải đứng dậy. Mỗi lần đánh đuổi được quân xâm lăng rồi, các cụ nhà mình lại lập tức “dâng biểu cầu hòa” và hứa cống tiến.

Cho nên, không nên vu oan giá họa cho những người Việt yêu nước. Gán cho những thanh niên Việt Nam mặc áo in những chữ “Hoàng Sa của Việt Nam” là muốn gây chiến với Trung Quốc là cả vú lấp miệng em. Những thanh niên đó chỉ muốn chứng tỏ cho cả thế giới biết là người Việt không ngu. Và không hèn. Họ đòi những người cầm quyền ở Việt Nam phải xác nhận chủ quyền của nước mình trên những phần đất do tổ tiên để lại, một cách cương quyết hơn. Phải dùng mọi biện pháp ngoại giao và dùng các định chế công lý quốc tế để đòi lại chủ quyền. Phải công bố các cuộc tranh luận giữa hai bên từ đầu tới giờ, đưa ra các bằng cứ cho cả thế giới thấy ai phải, ai trái! Phải bảo vệ các ngư dân vẫn bị hải quân Trung Quốc bắt cóc, đánh đập, cướp bóc. Người ta lên tiếng vì không thể im lặng chịu nhục mãi.

Người Việt Nam muốn chính quyền Cộng Sản phải công khai, minh bạch trong việc ngoại giao. Phải ra đứng giữa chợ kêu gọi cả loài người phân xử giúp các cuộc tranh chấp. Không thể tiếp tục bàn những chuyện đất đai, biên giới, lãnh hải một cách lén lút bí mật! Ðất nước là của toàn dân, không thể bàn như chuyện riêng giữa hai đảng Cộng Sản. Mấy chục người trong Bộ Chính Trị các đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc không được hai dân tộc này ủy quyền mà lén lút chia nhau những tài nguyên cây rừng, quặng mỏ, hải đảo do tổ tiên từ ngàn năm để lại. Ðó là nguyện vọng của những người đang bị vu cáo là “chống Trung Quốc.”

Họ khôn chứ không dại. Khi có tranh chấp với một nước láng giềng mạnh, mình phải làm lớn chuyện lên cho cả thế giới biết thì mới hy vọng được cộng đồng quốc tế hỗ trợ. Trung Quốc mạnh hơn nước mình, nhưng trên thế giới còn nhiều nước mạnh hơn cũng muốn kềm chân không cho Trung Quốc bành trướng phi pháp! Nếu mình cứ tiếp tục họp bàn bí mật, thì thọt, rấm rúi, thì vừa không hiệu quả lại vừa mang nỗi nhục ngàn đời.

Tóm lại, không người Việt Nam trưởng thành nào lại nuôi ý tưởng “chống Trung Quốc.” Không chống, nhưng cũng không sợ Trung Quốc. Ðó là thái độ thẳng thắn cần thiết cho tất cả mọi người Việt Nam. Lối ngoại giao thì thọt, rấm rúi, miệng nói “môi hở răng lạnh,” và “trước là đồng chí sau là anh em,” chỉ chứng tỏ là mình nhát, mình sợ để cho người ta khinh. Không cứ người Trung Quốc, người nước nào họ cũng khinh cho. Ðó chính là “thiên cổ vô cùng chi sỉ” như Nguyễn Trãi đã viết.

Không thể chấp nhận lý luận “Mỹ cũng sợ Trung Quốc” để bênh vực lập trường “Việt Nam cũng nên sợ Trung Quốc!”

Trên thế giới bây giờ không nước nào sợ sức mạnh quân sự của nước nào cả. Trước đây một trăm năm các cường quốc có thể ỷ mạnh đe dọa xâm lăng khiến nước khác phải sợ. Bây giờ không nước nào có thể nuôi tham vọng đó, dù là nước Mỹ. Nhất là khi khả năng vũ lực của Trung Quốc còn lâu mới đuổi kịp Mỹ. Trong Ðại Chiến Thứ Nhất (1914-18) nước nào sản xuất nhiều thiết giáp, nhiều máy bay làm chủ không phận thì chiếm được ưu thế trong chiến tranh. Trong Ðại Chiến Thứ Hai (1939-45) ở vùng Thái Bình Dương nước nào làm chủ được mặt biển, sản xuất nhiều hàng không mẫu hạm thì có lợi thế. Nhưng sức mạnh chiến lược trong các cuộc chiến tranh tương lai là làm chủ không gian, với những vệ tinh nhân tạo và hỏa tiễn liên lục địa. Trung Quốc cho tới giờ vẫn còn đang cố chế tạo tầu ngầm và một hàng không mẫu hạm đầu tiên, giống như Nhật Bản hồi trước năm 1940! Cho nên đừng hù họa dân Việt Nam mà nói rằng các cường quốc khác cũng sợ Trung Quốc!

Nhưng không phải vì thế mà suy nghĩ một cách giản dị là Việt Nam nên “theo Mỹ để chống Trung Quốc.” Hồi 1950 lối suy nghĩ đó có thể còn đúng. Vì lúc đó Mỹ chỉ lo ngăn chặn không cho các nước Cộng Sản bành trướng trên thế giới. Họ giúp Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ ở Âu Châu. Khi Bắc Hàn tấn công Nam Hàn, lúc đó Washington mới quyết định giúp Quốc Dân Ðảng củng cố quân sự để bảo vệ Ðài Loan - trước đó họ coi như đã quyết định bỏ rơi ông Tưởng Giới Thạch. Mỹ dính tới Việt Nam cũng do thế chiến lược cần ngăn chặn Cộng Sản Trung Quốc thời đó. Còn bây giờ, ý thức hệ Cộng Sản đã tan rã, Nga, Trung Quốc đang tư bản hóa, gia nhập cuộc đấu mới theo các quy luật kinh tế. Trong thế giới ngày nay, không cường quốc nào chiếm được ưu thế thao túng các nước chung quanh mình. Các chính quyền khôn ngoan phải giao hảo với tất cả các cường quốc, dựa trên quyền lợi kinh tế của họ mà điều khiển chính sách ngoại giao của mình. Chính phủ Ðài Loan vẫn gia tăng giao thương với Trung Quốc nhưng vẫn mua thêm vũ khí mới của Mỹ để tự vệ. Và dân chúng nước họ vẫn tự do biểu tình chống Bắc Kinh, làm hậu thuẫn cho chính phủ trong những cuộc mặc cả.

Người Việt Nam bây giờ phải dứt bỏ những ảo tưởng thời 1950, theo nước này chống nước kia! Ðối với nước Mỹ, thị trường Trung Quốc lớn hơn Việt Nam gấp bội. Nhưng mặt khác, nước Mỹ cũng không muốn cho bất cứ cường quốc nào đóng vai lũng đoạn vùng Á Ðông. Mọi chính quyền Việt Nam phải giao thiệp hòa hoãn với cả hai nước Mỹ và Trung Quốc. Nhưng phải làm sao cho cả hai nước đó đều kính trọng mình. Các nước trong vùng Ðông Nam Á đều theo chính sách khôn ngoan đó.

Một trăm năm trước, Phan Châu Trinh đã khuyên nhủ đồng bào: “Bạo động là dại; ỷ lại là ngu; chỉ có học!” Tới bây giờ lời khuyên đó còn có giá trị và cần áp dụng! Thời Phan Tây Hồ, cả nước cần học. Ngày nay, chúng ta vẫn cần học, đồng thời cần sử dụng chất sám của toàn dân vào việc phát triển kinh tế. Giới trí thức và thanh niên Việt Nam chỉ đòi hỏi được tự do học hỏi, được tự do nghiên cứu để giúp nước.

Cho nên, đừng ai vu cáo những nhà trí thức và thanh niên đang bầy tỏ thái độ cương quyết đối với Trung Quốc là họ có ý theo nước này chống nước khác. Những người Việt yêu nước đó chỉ muốn chính quyền Cộng Sản phải bảo vệ danh dự của nước Việt Nam. Nước Việt Nam phải tỏ ra không sợ hãi, không ỷ lại, không lệ thuộc vào một quốc gia nào, dù là một cường quốc đang lên bên cạnh nước mình. Không nước nào có thể coi nước mình như một chư hầu, muốn làm gì thì làm! Không nhượng quyền khai thác quặng mỏ một cách dễ dàng, bất chấp những lời phản đối của giới chuyên gia và trí thức. Không quân đội nước nào được quyền bắt bớ, đánh đập, cướp bóc các ngư dân Việt Nam, coi người mình như súc vật. Những người cầm quyền ở Việt Nam phải tranh đấu cho các nguyện vọng chính đáng đó. Ðừng vu cáo người dân yêu nước, đừng dọa nạt, bắt bớ những nhà trí thức can đảm lên tiếng bảo vệ chủ quyền dân tộc!

Trung Quốc đã cướp Hoàng Sa của nước ta từ năm 1974, vì lợi dụng được cơ hội người Việt Nam đang giết lẫn nhau. Ðảng Cộng Sản do tham vọng Cộng Sản hóa cả nước nên đã dựa vào Cộng Sản Trung Quốc, nhắm mắt cho họ chiếm những hòn đảo của tổ tiên. Ai còn tin tưởng ở đảng Cộng Sản trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước nữa?

Nhưng không người Việt nào có ảo tưởng mình sẽ đem quân chiếm lại những hòn đảo đã mất trong lúc này. Trong một, hai thế hệ nữa người Việt sẽ còn tiếp tục chịu nhục. Cũng như chúng ta vẫn đành chịu mất những vùng đất 5 động mà vua quan nhà Mạc đã dâng cho vua Tàu. Nhưng chính vì thế mà người Việt không được quên nỗi nhục nhã, không để cho con cháu quên những nỗi nhục đó.

Sai lầm của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay là vẫn coi các cuộc tranh chấp với Trung Quốc là việc riêng của hai đảng Cộng Sản, không cho dân Việt Nam được lên tiếng, được bầy tỏ thái độ. Cấm dân chúng bầy tỏ nỗi phẫn uất vì các hòn đảo bị cướp, vì các ngư dân bị bắt cóc và hành hạ thì chỉ chứng tỏ mình sợ hãi và hèn nhát trước các hành động phi pháp của chính quyền Bắc Kinh. Phải chấm dứt thái độ hèn nhát đó.

Khi nào thì các nước lớn kính trọng chủ quyền của các nước nhỏ? Khi họ thấy chính quyền các nước nhỏ được dân ủng hộ để sẵn sàng can đảm bảo vệ danh dự và quyền lợi quốc gia. Khi họ thấy trong nội bộ các nước nhỏ toàn dân đoàn kết một lòng trong mục đích đó. Muốn đạt được hai điều kiện này thì người cầm quyền phải do toàn dân tự do bầu lên chứ không phải là một nhóm tiếm quyền quyết định. Chỉ khi nào dân chúng được tự do phát biểu, được tự do chọn người cầm quyền theo các thủ tục dân chủ, thì chính quyền mới có thế mạnh về ngoại giao. Chỉ khi nào thể hiện ý chí của toàn dân thì một chính quyền mới được các nước khác kính trọng.


Nếu ông Phillip Roesler còn ở Việt Nam?

Hà Giang

Truyền thông quốc tế mấy ngày hôm nay xôn xao vì tin ông Phillip Roesler, 36 tuổi, người Đức gốc Việt Nam đã được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Bộ Y Tế của Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Tin ông được cử làm Bộ Trưởng là một ngạc nhiên ngòai dự đóan của giới phân tích ở ngay tại thủ đô Bá Linh. Cũng là một tin làm người Việt khắp nơi trên thế giới hãnh diện, và làm dư luận trong nứơc xót xa.

Ngạc nhiên thú vị

Không riêng tại Bá Linh, thủ đô của nước Đức, mà dư luận nhiều nơi trên thế giới, mấy ngày nay ngạc nhiên về một tin ngòai dự đóan của mọi người, là ông Philipp Roesler, thành viên của Đảng Dân Chủ Tự Do (FDP)- người Đức gốc Việt, hiện đang là bộ trưởng kinh tế, lao động và giao thông tại tiểu bang Niedersachsen, vừa đựơc bổ nhiệm để trờ thành bộ trưởng y tế trong tân nội các của chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Dù đã từ lâu đựơc xem là một ngôi sao nổi bật, và là niềm kỳ vọng của đảng Dân Chủ Tự Do, chính ông Roesler và ngay cả nội bộ đảng cũng tỏ ra rất ngạc nhiên khi ông được cử làm bộ trưởng y tế liên bang, vì đây là một bộ hiện đang đương đầu với nhiều rất khó khăn.

Giới phân tích cho rằng sở dĩ ông đựơc bổ nhiệm là vì trong suốt thời gian thương thảo rất gắt gao về việc thành lập tân nội các giữa các liên minh, kéo dài hơn 3 tuần lễ, ông Philipp Roesler đã chứng tỏ khả năng của mình bằng cách luôn tỏ ra rất thông minh, thực tế, ôn hòa, có cái nhìn thấu đáo cùng tài ứng khẩu về nhiều đề tái, nhất là về y tế. Ông Roesler còn được cho là người có tài khôi hài, khéo léo xoa dịu được những căng thẳng trong các cuộc thảo luận.

Trong vai trò bộ trưởng y tế. ở tuổi 36, ông Phillip Roesler là người Bộ Trưởng trẻ nhất nước Đức, và là người Bộ trưởng đầu tiên không phải là người gốc Đức, là bộ trưởng đầu tiên người gốc Á Châu, và còn là là ngừơi gốc Việt Nam..

Ông Röesler sinh năm 1973 ở Khánh Hòa, là ông là một đứa trẻ sống ở viện mồ côi, và vào lúc mới có 9 tháng tuổi, đã được cha mẹ nuôi đưa về Đức. Có nguồn tin cũng cho rằng cha mẹ ông đã bị đã bị pháo kích chết và người hàng xóm đã bỏ ông vào viện mồ côi tại Khánh Hòa, Nha Trang.

Niềm kiêu hãnh

Đối với người Việt Nam sống rải rắc khắp nơi trên thế giới, thì câu chuyện “đứa trẻ mồ côi Việt Nam thành ông Bộ Trưởng nước Đức” là một niềm hãnh diện vô biên.

Nhiều diễn đàn điện tử đã đưa tin này với những tựa như: “Niềm hãnh diện chung của người Việt Nam. Nhiều video clips về những cuộc phỏng vấn hay tin tức về ông đã được đưa lên trang mạng You Tube với những tựa bắt đầu với hai chữ “Việt Nam pride” (dịch là niềm kiêu hãnh của Việt Nam).

Từ Đức, tiến sĩ kinh tế Nguyễn Ngọc Hùng, phát biểu:

“Ở tại Đức thì người ta kỳ thị lắm. Một người trẻ, đồng thời là một người không phải là người Đức, mà họ còn đạt được địa vị đó. Những người da trắng khác cũng không đạt được những địa vị như ông Roesler này.

Ngừơi trứơc ông làm chủ tịch đảng Tự Do Dân Chủ tiểu bang đã nói rằng ông Roesler là người suy nghĩ và có lối giải quyết rất nhanh. Và ông luôn luôn tìm được một lối giải quỵết tốt đẹp nhất và nhanh nhất. Ông không bao giờ bí ở trường hợp nào cả.”

Người Việt hải ngọai còn quý mến ông Roesler về việc dù ông tuy đã được nuôi dưỡng như một người Đức từ nhỏ, đã không quên nguồn gốc của mình là một người Việt Nam, và là một nạn nhân chiến tranh.

Cựu đại tá CSVN, ông Bùi Tín, hiện đang sống ở Pháp, kể:

“Khi ông ông Roesler trờ thành một người nổi tiếng ở Cộng Hòa Liên Bang Đức ông có dự định tham dự buổi khai trương tượng đài thuyển nhân ở Hamburg đó. Thì sứ quán VN tại Berlin đã liên hệ với ông, và gần như là hăm dọa và can ngăn thuyết phục ông ấy là không nên đến tham dự buổi khai trương đó, nhưng chính ông đã đến dự, và một tay cầm lá cờ Đức, một tay cầm lá cờ VNCH mà bà con mà bà con thuyền nhân mang theo, và chụp hình chung với bà con.

Ông ta nói là sứ quán VN đã làm những cái chuyện vô duyên là định ép ông không dự khai mạc tượng đài như thế. Rồi còn yêu cầu chính quyền địa phương là bỏ cái chữ ghi ở trên bệ là “thuyền nhân Việt Nam”, thế nhưng mà chính quyền địa phương họ không nghe theo.”

Diễn đàn X-Càfe cũng có nhiều bloggers bình phẩm về sự kiện sứ quán VN không muốn cho ông Roesler tham dự buổi lễ khánh thành tượng đài thuyền nhân tại Hamburg.

Nếu vẫn còn ở Khánh Hòa, chẳng bao giờ anh trở thành một trí thức được trọng vọng chứ đừng nói là có thể làm Bộ trưởng! Cơ chế Việt Nam từ xưa đến nay chỉ cơ cấu chức Bộ trưởng cho tầng lớp con ông cháu cha. - Ô. Hà Văn Thịnh, Huế

Nếu còn ở Việt Nam…

Nhưng dường như xen lẫn trong niềm hãnh diện dân tộc và nỗi vui mừng cho sự thăng tiến của ông Roeler, người ta có một chút ngậm ngùi, và những quan tâm sâu xa hơn.

Và tại Việt Nam, ông Hà Văn Thịnh – thuộc Đại học Khoa học Huế, trong bài có tựa “Nghĩ Về Phillip Roesler” được đăng trên trang mạng BauxiteInfo viết:

“Nếu vẫn còn ở Khánh Hòa, hiện tại của Roesler (tạm đặt tên là Đức) là điều ai cũng biết: Chẳng bao giờ anh trở thành một trí thức được trọng vọng chứ đừng nói là có thể làm Bộ trưởng! Cơ chế Việt Nam từ xưa đến nay chỉ cơ cấu chức Bộ trưởng cho tầng lớp con ông cháu cha.”

Ông Bùi Tín chia xẻ nhận định của Ông Hà Văn Thịnh:

“Tôi nghĩ là nó gợi cho ta rất nhiều suy nghĩ, là chỉ có dưới một chế độ dân chủ, dân chủ thực sự cơ, tài năng mới được biểu lộ ra, và mọi công dân mới được bình đảng, và người ta lựa chọn đúng là những nhân tài tinh hoa nhất của đất nước.

Tôi nghĩ là nếu mà ông Roesler còn ở Việt Nam, thì bây giờ ông ấy còn gay go điêu đứng lắm. Trẻ mồ côi thì khó mà có thể học hành đựơc tấn tới, và dù học hành giỏi đến đâu đi nữa, cũng khó có thể ở vào một chức vụ cao được.”

Ông Hà Văn Thịnh đặt vấn đề:

“Tại sao không thấy lớp trẻ đang giỏi giang hơn và họ phải được trọng dụng hơn? Phải chăng vì nghĩ rằng mình càng ngồi trên cái ghế quyền lực lâu bao nhiêu thì bổng lộc còn nhiều chừng đó, bất kể cộng đồng, dân tộc, tuổi tác, năng lực.

Một trong những nỗi đau lớn nhất của thực trạng cán bộ của ta hiện nay là vô khối người không đủ năng lực, thiển đức, kém tài lại giành được những vị trí thơm thảo để tha hồ thao túng, trục lợi cá nhân.”

Nếu còn ở Việt Nam, thì liệu ông Roesler sẽ có cơ hội làm bộ trưởng không? Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hùng phát biểu:

“Nếu ông Phillip Roesler ở VN, không những ông không thể trở thành Bộ Trưởng, mà còn bị cấm hành nghề, và bị kết án vi phạm điều luật 88 của bộ luật hình sự là tuyên truyền chống đối nhà nứơc CHXHCNVN bởi vì ông là thành viên của đảng Tự Do Dân Chủ, chứ không phải là thành viên của đảng CSVN.”

Nếu ông Phillip Roesler ở VN, không những ông không thể trở thành Bộ Trưởng, mà còn bị cấm hành nghề, và bị kết án vi phạm điều luật 88 của bộ luật hình sự là tuyên truyền chống đối nhà nứơc CHXHCNVN. - TS Nguyễn Ngọc Hùng

Một người ký tên Nguyễn Quang Lập viết trong diễn đàn X-Càfe:

“Nói thật giá nước ta có vài mươi anh như Philipp Roesler , kẹt lắm thì năm bảy anh cũng được, giữ những vị trí quan trọng thì đất nước mình chắc sẽ khá lên nhiều. Một ông nhà văn nói chơi vui, nói lãnh đạo nước mình không có ai để mình gọi bằng thằng cả, toàn phải gọi bằng anh bằng ông bằng cụ, chán mớ đời.”

Theo ông Hà Văn Thịnh thì sự kiện ông Roesler đựơc làm Bộ Trưởng còn làm nổi bật lên niềm đau xót về nền giáo dục Việt Nam. Cũng trong bài “Nghĩ Về Phillip Roesler”, ông viết:

“Bộ GD-ĐT có cảm thấy buồn không khi con nuôi, nhận tại Khánh Hòa, bỗng chốc, “tự nhiên” trở thành Bộ trưởng của nước Đức lừng danh? Riêng tôi, đau và xót bởi tôi biết chắc rằng trí tuệ người Việt Nam không kém nhưng nghèo và hèn, dốt và nát bởi nền giáo dục này kém cỏi.

Hai không rồi bốn không; những lời có cánh. Vậy mà, đọc chép vẫn hoàn đọc chép. Nói mà không có chế tài thì nói để làm gì?

Tôi thấy thật tội nghiệp cho ngài Bộ trưởng. Khi lên chức vụ đó mà không được quyền thay bất kỳ ai của cơ chế cũ, giàn khung cũ thì làm sao có thể thay đổi? Nếu muốn có một nền giáo dục với hai vạn Tiến sĩ thật thì làm sao có thể khi 33% TS hiện nay chỉ là giấy như chính ông Bành Tiến Long, Thứ trưởng, đã thừa nhận với báo chí?

Thay một cái cũ bằng một cái mới giả tưởng bằng chính những con người kém cỏi cỡ ấy, thiển cận cỡ ấy, bảo thủ đến mức ấy, sợ mất bổng lộc đến chừng ấy? Vô khả thi!”

Sự kiện ông Phillip Roesler, 36 tuổi, một người mồ côi không phải dân bản xứ đã được cử làm Bộ Trưởng Bộ Y Tế của nước Đức đã khiến nhiều trí thức Việt Nam suy nghĩ.

Điều gì đã ngăn cản không cho nước Việt Nam có những người lãnh đạo trẻ như ông Phillip Roesler? Và phải làm gì để tuổi trẻ Việt Nam có thực tài có đựơc cơ hội lãnh đạo đất nước.?

Chúng tôi xin mượn lời phát biểu của Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Hùng thay cho lời kết:

“Sự kiên của ông Roesler tại Đức đã cho biết rằng Việt Nam cần phải thay đổi. Tại vì trong một chế độ độc tài, thì con ngừơi không thể phát triển được như vậy. Ông Roesler ông ấy ở Đức thì ông ấy mới đựơc phát triển như vậy, còn nếu ông ấy ở Việt Nam, thì chắc chắn ông ấy không được như vậy. Cái nguyên nhân của sự chậm phát triển là do độc tài. Độc tài cản trở sự phát triển về mọi mặt.”

Mạch điện hoạt động nhờ năng lượng cây

Hoang Hanh

Bạn đã bao giờ nghe đến năng lượng từ hoa hay cây cối chưa? Những cây cối có thể cung cấp đủ năng lượng để vận hành một mạch điện, đó là kết quả nghiên cứu sắp được công bố trên một ấn phẩm của Viện Electrical and Electronics Engineers’ Transactions on Nanotechnology.

Tạo ra năng lượng từ một thân cây không chỉ là một giấc mơ dù rằng nó không mạnh đến mức đủ khả năng để thắp sáng một bóng đèn .

“Đây là lần đầu tiên những kết luận về việc vận hành một mạch điện hoàn toàn nhờ năng lượng từ cây cối được công bố”, Babak Parviz, GS giảng dạy ngành kỹ thuật điện Đại học Washington cho biết.

Năm ngoái một cuộc nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts đã phát hiện ra rằng thực vật có thể tạo ra một điện áp lên tới 200 mV khi họ đặt một điện cực vào trong một thân cây và cực còn lại đặt xuống mặt đất gần đó. Sau sự kiện đó, một nhóm nghiên cứu đã được thành lập nhằm khai thác nguồn năng lượng mới này.

Nhóm nghiên cứu thuộc ĐH Washington đã theo đuổi một công trình nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực năng lượng từ thực vật bằng cách xây dựng những hệ thống mạch điện để sử dụng loại năng lượng này. Và lần đầu tiên họ đã vận hành thành công một mạch điện chỉ bằng năng lượng từ thực vật.
Năm ngoái, Carlton Himes, một sinh viên tốt nghiệp tại ĐH Washington đã dành cả một mùa hè để tìm ra những đối tượng thích hợp để tiến hành công trình nghiên cứu. Đóng những cái đinh vào thân cây và nối nó với một điện áp, anh nhận ra rằng những cây có lá to, được trồng nhiều trong khuôn viên ĐH Washington, nhanh chóng tạo ra điện áp lên tới vài trăm mV.

Sau đó nhóm nghiên cứu đã xây dựng những thiết bị có thể vận hành bằng nguồn năng lượng sẵn có này. Brian Otis, phụ giảng về kỹ thuật điện tại ĐH Washington đã chế tạo ra một chiếc máy biến áp tăng điện thế – một thiết bị có thể tích tụ điện áp đầu vào thấp để tạo ra điện áp lớn hơn. Những máy biến áp do nhóm nghiên cứu thiết kế làm việc với điện áp đầu vào khoảng 20mV, một điện áp thấp hơn bất cứ thiết bị hiện có nào. Nó tạo ra một điện áp đầu ra khoảng 1,1V, đủ để vận hành một thiết bị cảm biến năng lượng thấp.

Mạch điện do nhóm nghiên cứu chế tạo gồm những bộ phận có kích thước khoảng vài nnm và nó tiêu thụ trung bình chỉ 10nnW năng lượng trong suốt quá trình hoạt động.

“Những linh kiện điện tử thông thường sẽ không hoạt động với loại điện áp và dòng điện mà chúng tôi khai thác được từ thực vật. Nhưng những thiết bị do chúng tôi tạo ra không chỉ nhỏ về kích thước mà cả về mức độ tiêu thụ điện năng”, Parviz cho biết.

Nhóm nghiên cứu ĐH Washington đang chứng minh rằng một mạch điện có thể dựa hoàn toàn vào năng lượng từ thân cây để hoạt động.

Ông nói thêm: “Mặc dù sử dụng những thiết bị năng lượng thấp đặc biệt, máy biến áp và những linh kiện điện tử khác sẽ có phần lớn thời gian ở trạng thái “ngủ” để bảo toàn năng lượng thu được từ thân cây. Điều này cũng tạo ra một rắc rối”.

“Nếu mọi thứ đều đi vào trạng thái “ngủ”, hệ thống sẽ không bao giờ được đánh thức nữa”, Otis cho biết.
Để giải quyết vấn đề này, nhóm của Otis đã chế tạo một chiếc đồng hồ hoạt động liên tục ở điện áp 350mV chỉ với 1nnW năng lượng, khoảng 1 phần ngàn năng lượng cần cho một chiếc đồng hồ đeo tay. Chiếc đồng hồ năng lượng thấp này cứ 2 giây lại tạo ra một xung điện, cho phép đánh thức hệ thống theo chu kỳ.

Hiện tượng “năng lượng cây” khác hẳn với năng lượng từ khoai tây hay chanh. Với chanh hay khoai tây, 2 điện cực được làm từ 2 kim loại khác nhau phản ứng với thức ăn để tạo ra một hiệu điện thế tiềm năng và kết quả là sinh ra một dòng điện.

“Trong nghiên cứu nầy, chúng tôi đã sử dụng cùng một loại kim loại cho cả 2 điện cực”, Parviz cho biết.

“Năng lượng cây” không có khả năng thay thế năng lượng mặt trời đang được ứng dụng rộng rãi, Parviz thừa nhận. Nhưng hệ thống này có thể cung cấp một ý tưởng về chi phí thấp cho thiết bị cảm biến hoạt động nhờ năng lượng cây cối, có thể được sử dụng để giám sát điều kiện môi trường hay cảnh báo sớm đám cháy rừng. Điện năng thu được cũng có thể sử dụng để đánh giá tình trạng “sức khỏe” của cây.

“Không thể xác định một cách chắc chắn điện áp thu được từ thân cây đến từ đâu. Nhưng dường như có một vài tín hiệu trong những cây tương tự như trong cơ thể con người nhưng với tốc độ chậm hơn”, Parviz cho biết.

“Tôi rất quan tâm đến việc áp dụng kết quả công trình nghiên cứu của chúng tôi như là một cách để khám phá những gì đang diễn ra trong một cây. Khi bạn được bác sĩ khám, điều đầu tiên mà họ đo là mạch đập. Chúng ta thật sự không biết điều tương tự có thể xảy ra với những cây không”.

Tham gia công trình nghiên cứu trên còn có Eric Carlson và Ryan Ricchiuti của ĐH Washington. Nghiên cứu sẽ được Quỹ Khoa học Quốc gia tài trợ một phần chi phí.

28 thg 10, 2009

Quan điểm của Ông Ngô Đình Nhu về hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng

Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu

Khi hay tin Tông Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát, Cố Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc, đã nhận xét:

Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề trong việc vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp… Tôi khâm phục ông Diệm, ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu, Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm nữa mới tím được một lãnh tụ cao quí như vậy.[1].

Nhưng khi đọc xong tác phẩm Chính Đề Việt Nam của ông Ngô Đình Nhu[2], tôi nghĩ cần phải thêm vào lời nhận xét đó, Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm hay nhiều hơn nữa mới tìm được một nhà lãnh đạo có viễn kiến chính trị sâu sắc như ông Nhu..

Thực vậy, đối với cá nhân người viết, sau hơn 30 năm giảng dạy và nghiên cứu về các vấn đề chính trị Việt Nam tại một số các viện đại học, các viện nghiên cứu, các bảo tàng viện và thư viện tại Việt Nam, Úc, Hoa Kỳ và Âu châu.. người viết được các đồng nghiệp và các chuyên gia quốc tế về Việt Nam đã dành cho một chút cảm tình và nễ trọng về kiến thức chuyên môn và sự khổ công đọc sách. Tuy nhiên, với tất cả sự thận trọng cần thiết của một người nghiên cứu lịch sử, người viết phải thành thật công nhận rằng, trong tất cả những sách nghiên cứu mà người viết đã có dịp đọc trong hơn 30 năm qua vì sở thích hay vì nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu đòi buộc phải đọc bằng Việt, Pháp và Anh ngữ, chưa có một tác phẩm nào, thể hiện một sự tổng hợp bao quát và rất giá trị về các vấn đề chính trị thế giới trong hơn 200 năm qua, để rồi sau đó đưa ra những viễn kiến chính trị vô cùng sâu sắc để làm Kim Chỉ Nam Phát Triển cho Việt Nam cũng như các Quốc Gia Chậm Tiến trên thế giới, như tác phẩm này của ông Nhu. Có lẽ phải nói đây là một đóng góp quí báu vào kho tàng tư tưởng chính trị thế giới. Và giả dụ rằng, nếu có thể sống thêm 100 năm nữa để đọc sách, người viết nghĩ rằng không thể nào có được một óc tổng hợp bao quát, đứng đắn và một viễn kiến chính trị sâu sắc thần kỳ như tác giả của quyển Chinh Đề Việt Nam .

Vì tác phẩm nguyên bản bằng Pháp ngữ, và người viết tin rằng dịch giả đã rất xuất sắc trong khi chuyễn ngữ, vì ấn bản Việt ngữ đã diễn tả một cách hết sức lưu loát những khía cạnh sâu sắc và phức tạp của các vấn đề. Tuy nhiên, những người đã quen tiếp cận với lối hành văn của ông Nhu qua các diễn văn mà Ông đã soạn thảo cho Tổng Thống Diệm trong suốt 9 năm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa,[3] chắc chắn sẽ thấy rằng cách hành văn trau chuốt, chính xác, nghiêm túc, sắc bén và chặt chẻ của ông Nhu mà bản dịch không thể nào thể hiện được.

Tuy nhiên, người viết muốn độc giả trực tiếp tiếp cận, một phần nào, với cách luận giải và trình bày độc đáo của ông Nhu về các vấn đề chính trị Việt Nam và quốc tế, nên người viết đã quyết định trích nguyên văn những phần trong Chính Đề Việt Nam liên quan dến chủ đề của bài viết này. Và người viết sẽ hạn chế tối đa phần đưa ra những diễn giải và nhận xét riêng tư của mình.

Về nội dung tác phẩm, có lẽ phần cuốn hút được sự ngưỡng mộ nhất của người viết là, trước đây gần nữa thế kỷ, ông Nhu đã nhận xét Liên Sô sẽ tự giải thể để làm hòa với Tây Phương và Trung Cộng sẽ thất bại trong việc sử dụng chủ nghĩa Cộng Sản để phát triển kinh tế, cũng như Âu Châu sẽ tập hợp lạii với nhau trong một khối thống nhất như Khối Liên Hiệp Âu Châu ngày nay. Nhưng điều hấp dẫn hơn nữa, ông Nhu đã không đưa ra những lời tiên đoán như một người thầy bói hay một chiêm tinh gia, trái lại, ông đã đưa ra những phán đoán của mình, sau khi đã phân tích và tổng hợp các dữ kiện lich sử và các biến cố chính trị thế giới, một cách khoa học, khách quan và vô tư. Chính vì vậy, người viết nghĩ rằng tập sách này sẽ có một mãnh lực vô cùng hấp dẫn đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam và các quốc gia chậm tiến Á Phi, nếu họ thực sự mong muốn xây dựng và phát triển đất nước, theo một đường lối khoa hoc, thực tiển và hợp lý nhất.

Ví tác phẩm bao quát nhiều vấn đề lớn lao liên quan đến kinh nghiệm phát triển kinh tế của Nhật Bản, Liên sô, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ.. và cả trường hợp của Trung Cộng nữa. Đó là những đề tài quá lớn cho bài viết này. Do đó, người viết nghĩ rằng, vấn đề thời sự nóng bỏng nhất hiện nay là vấn đề Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải, các hải đảo Hoàng Sa & Trường Sa cùng vùng Cao Nguyên Trung Phần. Chúng ta thử tìm xem, gần 50 năm trước đây, ông Nhu đã tiên đoán hiểm họa này ra sao, đã kiểm điểm lại chinh sách ngoại giao sai lầm của chúng ta như thế nào và phương sách nào phải theo đuổi để chống lại Trung Cộng, để chúng ta có thể thấy được kiến thức uyên bác của một chính trị gia và cũng là một học giả lỗi lạc của thời đại chúng ta.

Sự Thiển Cận Của Nhà Cầm quyền Hà Nội.

Sự xâm lăng của Trung Quốc đối với Việt Nam có tính cách trường kỳ, nhưng những nhà lãnh đạo Hà Nội vì thiển cận và vì quyền lợi hẹp hòi của Đảng Cộng Sản và cũng có thể vì quyền lợi cá nhân ích kỷ của những vị lãnh đạo, đã không ý thức hiểm họa xâm lăng khiếp hải đó của Trung Quốc, họ đã xem nhẹ quyền lợi của quốc gia, dân tộc, đã liên kết với Trung Cộng và Liên Sô, đánh mất đi cơ hội ngàn năm một thuở, là khai thác những mâu thuẫn giữa hai khối Tây Phương và Liên Sô sau Thế Chiến Thứ Hai, để khôi phục độc lập và nhận viện trợ của cả hai khối để phát triển dân tộc…như Ấn Độ. Trái lại, việc cam tâm làm chư hầu cho Trung Cộng và Liên Sô đã đưa Việt Nam vào cuộc chiến tranh với Tây Phương một cách vô nghĩa và phi lý, và đã đem lai một hậu quả vô cùng khủng khiếp cho cả dân tộc, đó là sự hủy diệt toàn bộ sinh lực của quốc gia, cả về phương diện tinh thần lẫn vật chất và sinh mang của người Việt, trong suốt hơn 30 năm… Nhưng còn tệ hại hơn nữa, là sự nhận viện trợ đó từ Trung Cộng đã là tiền đề để rước họa xâm lăng từ phương Bắc vào Việt Nam ngày nay.

Từ những năm đầu của thập niên 1960, ông Nhu đã nhìn thấu suốt được hiểm họa xâm lăng truyền kiếp đó như sau:

Trong lịch sử bang giao, giữa chúng ta và Trung Hoa, các biến cố xảy ra đều do hai tâm lý đối chọi nhau. Từ năm 972, sau khi đã nhìn nhận độc lập của Việt Nam rồi, lúc nào Trung Hoa cũng nghĩ rằng đã mất một phần lãnh thổ quốc gia, và lúc nào cũng khai thác mọi cơ hội đưa đến, để thâu hồi phần đất mà Trung Hoa xem như là của họ. Bên kia, Việt Nam lúc nào cũng nỗ lực mang xương máu ra để bảo vệ nền độc lập của mình. Tất cả các sự kiện, xảy ra giữa hai quốc gia, đều do sự khác nhau của hai quan niệm trên.
Ngay năm 981, nghĩa là vừa ba năm sau khi đã nhìn nhận độc lập của Việt Nam, Tống triều thừa lúc nội chính Việt Nam có biến, vì Đinh Tiên Hoàng vừa mất, và sự kế vị không giải quyết được, gởi sang Việt Nam hai đạo quân, do đường thuỷ và đường bộ, để đặt lại nền thống trị của Trung Hoa.

Ý cố định của Trung Hoa là đặt lại nền thống trị và không lúc nào Trung Hoa thỏa mãn với sự thần phục và triều cống của chúng ta. Ngay những lúc mà quân đội chúng ta hùng cường nhất, và chiến thắng quân đội Trung Hoa, thì các nhà lãnh đạo của Việt Nam cũng khôn ngoan, tìm cách thỏa thuận với Trung Hoa và tự đặt mình vào chế độ thuộc quốc. Nhưng, điều mà Trung Hoa muốn không phải là Việt Nam chỉ thần phục và triều cống. Trung Hoa, suốt gần một ngàn năm lịch sử, lúc nào cũng muốn lấy lại mảnh đất mà Trung Hoa coi như bị tạm mất.
Trong 900 năm, từ năm 939 đến năm 1840, khi Tây phương tấn công vào xã hội Đông Á làm cho những mâu thuẫn, nội bộ của xã hội này, tạm ngưng hoạt động, Trung Hoa đã bảy lần toan chiếm lại nước Việt Nam. Hai lần do nhà Tống chủ trương, ba lần nhà Nguyên, một lần nhà Minh và một lần nhà Thanh. Một hành động liên tục như vậy, nhất định có nghĩa là tất cả các triều đại Trung Hoa đều theo đuổi một chính sách, đặt lại nền thống trị trên lãnh thổ Việt Nam . Chính sách này do một điều kiện địa dư và kinh tế ấn định: lưu vực sông Hồng Hà là đướng thoát ra biển thiên nhiên của các tỉnh Tây Nam của Trung Hoa, và ngược lại cũng là con đường xâm nhập cho các đạo quân chinh phục vào nội địa Trung Hoa. Đã như vậy thì, ngay bây giờ, ý định của Trung Cộng vẫn là muốn thôn tính, nếu không phải hết nước Việt Nam, thì ít ra cũng Bắc phần. Cũng chỉ vì lý do này mà, năm 1883, Lý Hồng Chương, thừa lúc Tự Đức cầu viện để chống Pháp, đã, thay vì gởi quân sang giúp một nước cùng một văn hóa để chống ngoại xâm, và thay vì cứu viện một thuộc quốc mà Trung Hoa đáng lý ra có nhiệm vụ bảo vệ, lại thương thuyết một kế hoạch chia cắt Việt Nam với Pháp, Trung Hoa dành cho mình các phần đất gồm các vùng bao bọc lưu vực sông Hồng Hà để lấy đường ra biển. Và ngay Chính phủ Tưởng Giới Thạch năm 1945, dành phần giải giới quân đội Nhật Bản từ vĩ tuyến 16 trở lên phía Bắc[4], cũng vì lý do trên.
Xem thế đủ biết rằng, đối với dân tộc chúng ta họa xâm lăng là một mối đe dọa thường xuyên. (tr. 166)

Do đó, Trung Hoa của Mao Trạch Đông, cũng như Trung Hoa của các triều đại Nguyên, Tống, Minh, Thanh là một đe dọa truyền kiếp.

Sùng Bái Chủ Nghĩa Cộng Sản là một Sai Lầm Nghiêm Trọng

Trong khi Liên Sô và Trung Cộng xem chủ nghĩa Cộng Sản như là phương tiện tranh đấu để qui tụ các nước nhược tiểu Á Phi vào đồng minh với họ, chống lại sự bao vây của Tây Phương nhằm giúp họ phát triển kinh tế của đất nước họ, thì Cộng Sản Việt Nam sùng bái chủ nghĩa Cộng Sản như là một chân lý để cải tạo xã hội và xây dựng đất nước. Chính vì sự thiếu sáng suốt của nhà cầm quyến Hà Nội đã khiến Việt Nam phải bị chia cắt làm 2 miền vào năm 1954, mất đi cơ hội ngàn năm một thuở, để xây dựng đất nước và củng cố độc lập để chống ngoại xâm.

Ông Nhu đã luận giải nan đề đó như sau:

Nhưng chúng ta cũng còn nhớ rằng Nga Sô sở dĩ liên kết với các thuộc địa của Tây phương là bởi vì Nga Sô cần có đồng minh trong công cuộc chiến đấu trường kỳ và vĩ đại với Tây phương, mà mục đích trước hết và trên hết, là phát triển dân tộc Nga. Tính cách thiêng liêng giữa các đồng chí của lý tưởng cách mạng xã hội thế giới chỉ là một tín hiệu tập hợp qui tụ kẻ thù của Tây phương vào một mặt trận phục vụ một chiến lược tranh đấu của dân tộc Nga. Ngày nay, mục đích phát triển của Nga đã đạt. Sự thay thế các giá trị tiêu chuẩn chiến lược và giai đoạn của Nga Sô bằng những giá trị tiêu chuẩn, di sản của văn minh nhân loại, như chúng ta đã thấy trong một đoạn trên, là một bằng cớ hùng biện nhất, soi sáng lập trường của Nga. Trung Cộng tố cáo Nga phản bội chủ nghĩa Các-Mác Lê-Nin vì những sự kiện trên. Trung Cộng lại muốn thay thế Nga, nhân danh chủ nghĩa Các-Mác Lê Nin hô hào qui tụ các nước kém mở mang, để phục vụ công cuộc phát triển cho dân tộc Trung Hoa. Ngày nào mục đích phát triển đã đạt, thì cuộc đồng minh mới này do Trung Cộng đề xướng cũng không còn hiệu lực đối với Trung Cộng, cũng như cuộc đồng minh trước đây do Nga đề xướng, ngày nay, không còn hiệu lực đối với Nga. Và mục đích cuối cùng của cuộc tranh đấu vẫn là mục đích dân tộc.
Nhiều nhà lãnh đạo Á Đông mà quốc gia cũng đã bị Đế quốc thống trị, đã đủ sáng suốt để nhìn thấu thâm ý chiến lược của Nga Sô. Gandhi và Nehru, từ chối sự đồng minh với Cộng Sản vì lý do trên.(tr. 201)

Chúng ta chưa có một tài liệu hay một triệu chứng nào chứng tỏ rằng các nhà lãnh đạo miền Bắc hiện nay đã nhận thức các điều kiện trên. Ngược lại, các thư lại chính trị của miền Bắc còn đang ca tụng như là những chân lý những giá trị tiêu chuẩn chiến lược và giai đoạn mà Nga Sô đã bỏ. Như thế thì có lẽ dân tộc chúng ta còn phải bất hạnh mục kích các nhà lãnh đạo miền Bắc của chúng ta tôn thờ như một chân lý, một lý thuyết mà Nga Sô và Trung Cộng chỉ dùng làm một phương tiện tranh đấu và Nga Sô bắt đầu sa thải khi mục đích phát triển đã đạt.
Như thế thì, giả sử mà người Pháp có thật sự thi hành một chính sách trả thuộc địa, như người Anh, đối với Việt Nam, thì các nhà lãnh đạo miền Bắc cũng chưa chắc đã đưa chúng ta ra được ngoài vòng chi phối trực tiếp của hai khối để khai thác mâu thuẫn mà phát triển dân tộc.
Trong hoàn cảnh mà cuộc tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương chi phối nặng nề hành động chính trị của các quốc gia nhỏ, lập trường Cộng Sản, lệ thuộc Trung Cộng, của các nhà lãnh đạo miền Bắc, đương nhiên gây phản ứng của Tây phương và sự phân chia lãnh thổ cũng không tránh được.
Như vậy, tư cách Cộng Sản của các nhà lãnh đạo miền Bắc là một điều kiện thuận lợi giúp cho người Pháp thi hành những toan tính chính trị của họ ở Việt Nam . Và lập trường Cộng Sản lệ thuộc Nga Sô và Trung Cộng là một nguyên nhân của sự phân chia lãnh thổ Việt Nam, trong khung cảnh chính trị của thế giới, sau Đại chiến thứ hai, do sự tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương chi phối.
Tóm lại nguyên nhân sâu xa của sự phân chia lãnh thổ Việt Nam ngày nay là chính sách thuộc địa của Pháp và lập trường Cộng Sản lệ thuộc Nga Sô và Trung Cộng của các nhà lãnh đạo miền Bắc.

Trong thực tế, sự phân chia đã nảy mầm khi hai quốc gia Tây phương Anh và Mỹ, để dọn đường cho một giải pháp chấm dứt sự bế tắc của Pháp ở Việt Nam, nhìn nhận và bắt dầu viện trợ cho quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, viện trợ quân sự và kinh tế đều qua tay chính phủ Pháp. Và một phần lớn, đã được sử dụng trực tiếp hay gián tiếp trong công cuộc tái thiết nước Pháp đã bị chiến tranh tàn phá. Thời gian qua, xét kỹ thì thời kỳ này lại là thời kỳ mà những thủ đoạn chính trị của Pháp ở xứ này mang đến nhiều kết qảu nhất.
Bên khối Cộng Sản, Nga và Trung Cộng cũng nhìn nhận Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam và cũng bắt đầu viện trợ.
Từ đây, chiến cuộc Việt Nam, biến thành một chiến trường quân sự và địa phương của cuộc tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương. Những mâu thuẫn giữa Nga Sô và Tây phương mà, đúng lý ra, phải được dùng để phát triển dân tộc, lại trở thành những khí giới gieo rắc sự chết cho toàn dân. Những yếu tố của một cơ hội phát triển đã biến thành những khí cụ của một tai họa.

Đồng thời, điều này vô cùng quan trọng cho chúng ta, sự chi phối của Trung Hoa, và sau lưng sự chi phối, sự đe dọa xâm lăng của Trung Hoa, mà chúng ta đã biết là vô cùng nặng nề, một cách liên tục, cho chúng ta trong hơn tám trăm năm, tạm thời đình chỉ trong gần một thế kỷ Pháp thuộc, đã bắt đầu hoạt động trở lại dưới các hình thức viện trợ và cố vấn quân sự cho quân đội của Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam.
Chúng ta thừa hiểu rằng sự phát triển của Tàu, là mục đích trước và trên hết trong mọi cuộc Đồng Minh hiện nay của các nhà lãnh đạo Trung Cộng, cũng như sự phát triển của Nga là mục đích trước và trên hết trong mọi cuộc Đồng Minh trước đây của các nhà lãnh đạo Nga. (tr. 202 -204).

Nhưng Hà Nội còn phạm những lỗi lầm nghiệm trong hơn nữa, khi quyết định dụng võ lưc để thôn tính miền Nam, đã dẫn tới việc trực tiếp đụng độ quân sự với Hoa Kỳ, khiến miền Bắc đã khánh tận và kệt quệ trong cuộc chiến tranh chống Pháp càng lún sâu trong cảnh tượng hoàn toàn đỗ nát và hoang tàn trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, mà ngày nay, qua hành động gần như van nài của Hà Nội để xin lập lại bang giao với Hoa Kỳ vào năm 1996, ai còn chút lương tri bình thường cũng thấy rằng cuộc chiến đó là hoàn toàn vô lý và xuẫn động, mà nguy hiểm hơn nữa là trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Cộng tự do xâm lăng Việt Nam, vì Mỹ đã không còn hiện diện ở miền Nam, để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Cộng.

Trong tác phẩm Chinh Đề Việt Nam , hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng ngày nay cũng đã được báo động cách đây gần 50 năm:

Sự lệ thuộc nói trên và sự chia đôi lãnh thổ đã tạo hoàn cảnh cho sự chi phối và sự toan thống trị của nước Tàu đối với Việt Nam tái hiện dũng mãnh, sau gần một thế kỷ vắng mặt. Ký ức của những thời kỳ thống trị tàn khốc của Tàu đối với chúng ta còn ghi trong mỗi trang lịch sử của dân tộc và trong mỗi tế bào của thân thể chúng ta.
Các nhà lãnh đạo miến Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.
Sở dĩ, tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.

Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô.

Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách trống trị một lần nữa. (tr.212)

Chính Sách Ngoại Giao

Có lẽ, trong quá khứ, chúng ta quá sùng bái văn hóa Khổng Mạnh và quá lệ thuộc về chính trị đối với các Hoàng Đế Trung Quốc, nên chúng ta đã không xây dựng được một đường lối ngoại giao khoáng đạt như Nhật Bản để có thể cứu nguy cho đất nước, khi dân tộc bị nạn ngoại xâm. Ông Nhu đã kiểm điểm sự thất bại nặng nể của chính sách ngoại giao của các vua chúa ngày xưa qua những dòng dưới đây:

Họa xâm lăng đe dọa dân tộc chúng ta đến nỗi, trong suốt một ngàn năm lịch sử từ ngày lập quốc, trở thành một ám ảnh cho tất cả các nhà lãnh đạo của chúng ta. Và do đó mà lịch sử ngoại giao của chúng ta lúc nào cũng bị chi phối bởi một tâm lý thuộc quốc.

Hai lần Lý Thường Kiệt và Nguyễn Huệ tìm cách đả phá không khí lệ thuộc đó. Nhưng mặc dầu những chiến công lừng lẫy và tài ngoại giao rất khéo, hai nhà lãnh đạo trứ danh của dân tộc vẫn phải khuất phục trước thực tế.

Tâm lý thuộc quốc đè nặng, chẳng những trên sự bang giao, giữa chúng ta và Trung Hoa, lại còn lan tràn sang lĩnh vực bang giao giữa chúng ta và các nước láng giềng. Nếu, đối với Trung Hoa, chúng ta là thuộc quốc, thì đối với các nước chung quanh, chúng ta lại muốn họ là thuộc quốc. Tâm lý đó làm cho sự bang giao, giữa chúng ta và các nước láng giềng, lúc nào cũng gay go. Đã đành rằng công cuộc Nam tiến của chúng ta, là một công trình mà dân tộc đã thực hiện được. Nhưng chúng ta còn thiếu tài liệu để cho các sử gia có thể xét đoán xem, nếu chính sách ngoại giao của chúng ta khoáng đạt hơn, tựa trên những nguyên tắc phong phú hơn thì, có lẽ sự bành trướng của chúng ta sẽ không một chiều như vậy. Ví dụ, một câu hỏi mà chúng ta không thể tránh được: chúng ta là một dân tộc ở sát bờ biển, nhưng sao nghệ thuật vượt biển của chúng ta không phát triển? Nếu chính sách ngoại giao của chúng ta phong phú hơn, và không bó hẹp vào một đường lối duy nhất, có lẽ sự bành trướng của dân tộc chúng ta, đã sớm phát ra nhiều ngõ, và sinh lực của chúng ta không phải chỉ dồn vào mỗi một công cuộc Nam tiến. Nước chúng ta ở vào giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ. Với một chính sách ngoại giao khoáng đạt hơn, sự liên lạc quốc tế của chúng ta có lẽ đã rộng rãi hơn, và do đó, vị trí của chúng ta sẽ, đương nhiên, được củng cố bằng những biện pháp dồi dào và hữu hiệu hơn.

Nhưng thực tế là vậy đó. Họa xâm lăng của Trung Hoa đè nặng vào đời sống của dân tộc chúng ta, đến nỗi, tất cả các nhà lãnh đạo của chúng ta đều bị ám ảnh bởi sự đe dọa đó. Và, để đối phó lại, họ chỉ có hai con đường, một là thần phục Trung Hoa, hai là mở rộng bờ cõi về phía Nam .

Sở dĩ, khi bị Tây phương tấn công, mà các nhà lãnh đạo Triều Nguyễn của chúng ta lúc bấy giờ, không có đủ khả năng quan niệm một cuộc ngoại giao rộng rãi, để khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc Tây phương, là vì các nhà lãnh đạo của chúng ta không lúc nào vùng vẫy, đả phá nỗi không khí tâm lý thuộc quốc đã đời đời đè nặng lên lịch sử ngoại giao của chúng ta. Hành động ngoại giao duy nhất lúc bấy giờ là gởi sứ bộ sang cầu cứu với Trung Hoa. Chúng ta đã biết Trung Hoa đã hưởng ứng như thế nào lời kêu gọi của nhà Nguyễn. Nhưng Trung Hoa cũng đang bị đe dọa như chúng ta, nếu không có lẽ Trung Hoa đã lại thừa cơ hội mà đặt lại nền thống trị ở Việt Nam .

Các sứ bộ của chúng ta gởi sang Pháp lại cũng với mục đích điều đình, thần phục với Pháp như chúng ta quen điều đình, thần phục với Trung Hoa, chớ không phải với mục đích đương nhiên phải có của một hành động ngoại giao, là khai thác các mâu thuẫn để mưu lợi cho mình.

Vì thế cho nên, nếu chúng ta có cho rằng, công cuộc Nam tiến thành công là một kết quả của chính sách ngoại giao một chiều như trên đã trình bày, thì cân nhắc kết quả đó với những sự thất bại mà cũng chính sách ngoại giao đó đã mang đến cho chúng ta trong một ngàn năm lịch sử, thì có lẽ những sự thất bại nặng hơn nhiều.

Sự bành trướng của chúng ta đã thâu hẹp lại và chỉ theo có một chiều, bỏ hẳn cửa biển bao la đáng lý ra phải là cái cửa sống cho chúng ta.

Nền ngoại giao của chúng ta ấu trĩ nên, lúc hữu sự, không đủ khả năng để bảo vệ chúng ta. Trong khi đó, đối với một quốc gia nhỏ lúc nào cũng bị họa xâm lăng đe dọa, thì ngoại giao là một trong các lợi khí sắc bén và hữu hiệu để bảo vệ độc lập và lãnh thổ.

Trong chín trăm năm, từ ngày lập quốc, chúng ta đã bị ngoại xâm tám lần, bảy lần do Trung Hoa và một lần do Tây phương. Chúng ta đẩy lui được sáu lần, chỉ có lần thứ sáu nhà Minh đặt lại nền thống trị, trong hai mươi năm, và lần thứ tám đế quốc Pháp xâm chiếm toàn lãnh thổ và thống trị chúng ta trong hơn tám mươi năm.

Vì vậy cho nên, chốngngoại xâm là một yếu tố quan trọng trong chính trị của Việt Nam . Chính trị cổ truyền, của các triều đại Việt Nam không được quan niệm rộng rãi nên, nếu có phân nửa kết quả đối với sự xâm lăng của Trung Hoa thì lại hướng chúng ta vào một chính sách chật hẹp về ngoại giao. Do đó tất cả sinh lực phát triển của dân tộc, thay vì mở cho chúng ta được nhiều đường sống, lại được dốc hết vào một cuộc chiến đấu tiêu hao chỉ để tranh giành đất dung thân. Một mặt khác, chính sách ngoại giao chật hẹp đã đưa chúng ta vào một thế cô lập cho nên lúc hữu sự, các nhà lãnh đạo của chúng ta không đương đầu nổi với sóng gió, và lưu lại nhiều hậu quả tai hại cho nhiều thế hệ.

Chính sách chống ngoại xâm.

Cái họa ngoại xâm đối với chúng ta hiển nhiên và liên tục như vậy. Vì sao những biện pháp cổ truyền, của các nhà lãnh đạo của chúng ta trước đây, thành công phân nửa, trong công cuộc chống ngoại xâm Trung Hoa, nhưng thất bại trong công cuộc chống ngoại xâm Tây phương?

Trước hết, các biện pháp cổ truyền đã đặt vấn đề ngoại xâm của Trung Hoa là một vấn đề chỉ liên quan đến hai nước: Trung Hoa và Việt Nam . So sánh hai khối Trung Hoa và Việt Nam , và như thế, đương đầu phải là mục đích đương nhiên, thì chúng ta đã thất bại rồi. Những sự thần phục và triều cống chỉ là những biện pháp hoãn binh. Và vấn đề chống ngoại xâm chưa bao giờ được các triều đại Việt Nam đặt thành một chính sách đương nhiên và nguyên tắc, đối với một nước nhỏ, như nước chúng ta. Vì thế cho nên, những biện pháp cần được áp dụng, như biện pháp ngoại giao, đã không hề được sử dụng khi Tây phương xâm chiếm nước ta.

Lý do thứ hai, là công cuộc chống ngoại xâm chỉ được chuẩn bị trên lĩnh vực quân sự. Nhưng, nếu chúng ta không thể phủ nhận tính cách cần thiết và thành quả của các biện pháp quân sự trong các chiến trận chống các triều đại Trung Hoa: nhà Tống, nhà Nguyên cũng như nhà Minh, nhà Thanh, chúng ta phải nhìn nhận rằng nỗ lực quân sự của chúng ta rất là giới hạn. Và ngày nay, độc lập rồi, thì nỗ lực quân sự của chúng ta chắc chắn cũng rất là giới hạn.

Như vậy, đối với một nước nhỏ, trong một công cuộc chống ngoại xâm, biện pháp quân sự không thể làm sao đủ được. Trên kia, chúng ta có đề cập đến những biện pháp ngoại giao, đặt trên căn bản khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc để bảo vệ độc lập cho chúng ta.

Tuy nhiên biện pháp cần thiết nhất, hữu hiệu nhất và hoàn toàn thuộc chủ động của chúng ta, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc. Đồng thời, áp dụng một chính sách cai trị khoáng đạt, mở rộng khuôn khổ lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt.

Nếu ý thức quốc gia và dân tộc được ăn sâu vào tâm não của toàn dân, và độc lập và tự do được mọi người mến chuộng, thì các cường quốc xâm lăng, dầu có đánh tan được tất cả các đạo quân của chúng ta và có thắng chúng ta trong các cuộc ngoại giao đi nữa, cũng không làm sao diệt được ý chí quật cường của cả một dân tộc.

Nhưng ý chí quật cường đó đến cao độ, mà không người lãnh đạo thì cũng không làm gì được đối với kẻ xâm lăng. Vì vậy cho nên, đồng thời với những biện pháp quần chúng nói trên, cần phải áp dụng những biện pháp giáo dục, làm cho mỗi người dân đều quen biết với vấn đề lãnh đạo, và, điều này còn chính yếu hơn nữa, làm cho số người thấu triệt vấn đề lãnh đạo quốc gia càng đông bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Bởi vì, có như thế, những người lãnh đạo mới không bao giờ bị tiêu diệt hết được. Tiêu diệt người lãnh đạo là mục đích đầu tiên và chính yếu của các cường quốc xâm lăng.

Nhân đề cập đến vấn đề chống xâm lăng trên đây, lý luận đã dẫn dắt chúng ta đến một vấn đề vô cùng quan trọng.

Trước tiên chúng ta nhận thức rằng đối với một nước nhỏ như chúng ta, họa xâm lăng là một đe dọa thường xuyên.

Để chống xâm lăng, chúng ta có những biện pháp quân sự và ngoại giao. Nhưng hơn cả các biện pháp quân sự và ngoại giao, về phương diện hữu hiệu và chủ động, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, phát huy ý thức quốc gia và dân tộc, và mở rộng khuôn khổ giới lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt.

Sự thể đã như vậy, thì đương nhiên một chính thể chuyên chế và độc tài không làm sao đủ điều kiện để bảo vệ quốc gia chống ngoại xâm được. Bởi vì bản chất của một chính thể chuyên chế và độc tài là tiêu diệt tận gốc rễ tinh thần tự do và độc lập trong tâm não của mọi người, để biến mỗi người thành một động cơ hoàn toàn không có ý chí, dễ điều khiển dễ đặt để, và dễ sử dụng như một khí cụ.
Bản chất của môt chính thể chuyên chế và độc tài là giữ độc quyền lãnh đạo quốc gia cho một người hay một số rất ít người, để cho sự thấu triệt các vấn đề căn băn của quốc gia trở thành, trong tay họ, những lợi khí sắc bén, để củng cố địa vị của người cầm quyền.

Hơn nữa, giả sử mà chính thể chuyên chế hay độc tài chưa tiêu diệt được hẳn tinh thần tự do và độc lập trong ý thức của mọi người, thì, tự nó, một chính thể chuyên chế hay độc tài cũng là một lợi khí cho kẻ ngoại xâm. Bởi vì, dưới một chế độ như vậy, nhân dân bị áp bức, sẽ đâm ra oán ghét người lãnh đạo họ, và hướng về, bất cứ ai đánh đổ người họ oán ghét, như là hướng về một người giải phóng, mặc dầu đó là một kẻ xâm lăng. Lịch sử xưa nay của các quốc gia trên thế giới đều xác nhận điều này: Chỉ có những dân tộc sống tự do mới chống được ngoại xâm.

Riêng về dân tộc chúng ta, chắc chắn rằng sự kháng cự của chúng ta đối với sự xâm lăng của Tây phương sẽ mãnh liệt hơn bội phần nếu trước đó, nhà Nguyễn, thay vì lên án tất cả những người bàn về quốc sự, đã nuôi dưỡng được tinh thần tự do và độc lập của mỗi người và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc trong nhân dân.

Ngược lại, mấy lần dân tộc thắng được ngoại xâm, từ nhà Trần đánh đuổi Mông Cổ, đến nhà Lê đánh quân Minh và Quang Trung chiến thắng Mãn Thanh, đều nhờ ở chỗ các nhà lãnh đạo đã khêu gợi được ý chí tự do và độc lập của toàn dân.

Và vấn đề vô cùng quan trọng mà chúng ta đã nêu ra trên kia là vấn đề chính thể của nước Việt Nam . Vì những lý do trình bày trên đây, chính thể thích nghi cho dân tộc chúng ta, không phải định đoạt do một sự lựa chọn căn cứ trên những lý thuyết chính trị, hay là những nguyên nhân triết lý, mà sẽ được qui định một cách rõ rệt bởi hoàn cảnh địa dư và lịch sử của chúng ta, cùng với trình độ phát triển của dân tộc.

Nếu bây giờ chúng ta chưa có ý thức rõ rệt chính thể ấy phải như thế nào, thì ngay bây giờ chúng ta có thể quan niệm được rằng chính thể đó không thể là một chính thể chuyên chế hay độc tài được. Đó là một thái độ rất rõ rệt.

Tóm lại theo ông Nhu, muốn thoát khỏi hiểm họa xăm lăng của Trung Hoa, chúng ta phải theo đuổi 3 biện pháp sau đây:

Biện pháp ngoại giao.

Việt Nam cần phải có một sách lược ngoại khôn khéo, biết khai thác những mâu thuẩn giữa các cường quốc, các thế lực của các liên minh khu vực như khối ASEAN, khối Liện Hiêp Âu Châu…vì ngày nay theo khuynh hướng toàn cầu hóa của thế giới, thì ảnh hưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới cỏn có một tác động quyết định tới sự sồng còn đối với Trung Cộng, hơn là 30 hay 40 chục năm trước đây.

Ngày nay, sự mâu thuẩn và tranh chấp giữa các cường quốc không còn gay cấn như thời chiến tranh lạnh, nhưng một quốc gia như Trung Cộng với một dân số hơn 1.3 tỉ người, chiếm tỉ lệ 19.64% dân số thế giới, đang vươn vai đứng dậy với tham vọng làm một cường quốc bá chủ Á Châu. Đó không những là một đe dọa riêng rẽ cho khu vực Á Châu Thái Bình Dương mà còn là một hiểm họa chung cho cả thế giới nữa. Trước đây gần 50 năm, ông Nhu cũng đã đề cập đến vấn đề này,

Không phải tình cờ mà ông Paul Reynaud, cựu Thủ Tướng Pháp trong cuộc viếng thăm nước Nga đã long trọng tuyên bố với Thủ Tướng Krutchev. “ Nếu các ông tiếp tục viện trợ cho nước Tàu, trong vài mươi năm nữa, một tỷ dân Trung Hoa sẽ đè bẹp các ông và Âu Châu”. (Tr. 157)

Trong tháng 9. 2009 vừa qua, nhà cầm quyền Hà Nội, đã cử Tướng Phùng Quang Thanh, sang Tân Gia Ba để ký Hiệp Ước Hợp Tác Quốc Phòng, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đến Úc Châu, và Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm đến Hoa Kỳ, bí mật thảo luận về vấn đề an ninh lãnh thổ, phải chăng là thái độ nước đến chân mới nhảy, như hai phái đoàn của các vua chúa Triều Nguyễn ngày xưa, chúng ta thử nghe ông Nhu biện giải:

Sau khi Trung Hoa bị tấn công, thì lúc bấy giờ phản ứng của chúng ta là vội vã gửi hai phái bộ sang Pháp và Anh, mà không có một sự chuẩn bị ngoại giao nào cả. Lối gởi phái bộ như vậy là lối gởi phái bộ sang Tàu xưa nay. Và sự gởi hai phái bộ sang Pháp và Anh, theo lối gởi phái bộ sang Tàu xưa nay, lại càng làm cho chúng ta nhận thức, một cách rõ rệt hơn nữa, quan niệm ngoại giao của chúng ta lúc bấy giờ mang nặng ‘tâm lý thuộc quốc’ [đối với Tàu], đến mức độ nào.(tr. 181).

Lẽ ra, các nhà lãnh đạo Hà Nội phải tích cực hơn, phải khôn khéo hơn, nếu không dám công khai, thì ít ra cũng phải bí mật, vận động giới truyền thông thế giới, cảnh báo và vận động dư luận thế giới, trước hết là các quốc gia ở vùng Đông Nam Á Châu, rồi đến Nga Sô, Liên Hiệp Âu Châu và các quốc gia Á Phi biết về hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng. Điều rõ ràng nhất hiện nay, là các quốc gia trong vùng như Úc, Tân Gia Ba, Thái Lan, Nam Duong9 và Mã Lai Á [5], đều gia tăng ngân sách cho tài niên 2009 về Không lực và Hải quận gấp bội, nhằm đối đầu với âm mưu bành trướng của Trung Cộng. Nghĩa là các quốc gia này đều bắt đầu lo sợ về sự lớn mạnh của Trung Cộng, nhưng chưa có một vận động quốc tế nào nhằm qui tụ những nỗ lực này thành cụ thể và tích cực để ngăn chặn sự bành trướng đó. Việt Nam là nạn nhân trước hết và trực tiếp của nguy cơ này, phải biết dồn hết nỗ lực về mặt trận ngoại giao, phải vận động, công khai hoặc bí mật, tất cả các quốc gia trên thế giới nhận thức sâu sắc được mối hiểm họa nghiêm trọng này và khi tạo được sự đồng thuận của đa số… Việt Nam vận động đưa vấn đề này ra Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, dù biết rằng hiện nay Trung Cộng là 1 trong 5 hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, mọi nghị quyết của Đại Hội Đồng. Nhưng vấn đề chủ yếu của Việt Nam là chính thức công khai đưa ra trước Liên Hiệp quốc một hiểm họa thực sự nghiêm trọng của toàn thế giới, để kiếm tim một hổ trợ quốc tế tích cực nhằm ngăn chặn âm mưu xâm lăng từ Trung Cộng. Hơn nữa, Việt Nam cũng phải biết vận động và nỗ lực đưa vấn đề này ra trước Tòa Án Quốc Tế ở The Hague (International Court of Justice at The Hague). Mục đích không phải là tìm kiếm một phán quyết của tòa án này cho vần đề tranh chấp, nhưng trọng điểm của nỗ lực này là tạo nên sự chú tâm theo dỏi của dư luân quốc tế về một hiểm họa chung của thế giới

Chúng ta còn nhớ, khi muốn lật đỗ chinh quyền Ngô Đình Diệm, Nhóm chống Tổng Thống Diệm trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã vận dộng các quốc gia Á Phi đưa vấn đề được báo chí Hoa Kỳ thời đó gọi là Đàn Áp Phật Giáo và Vi Phạm Nhân Quyền tại Việt Nam, ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, chuẩn bị dư luận trước ở các quốc gia Á Phi cho việc thay đổi chính phủ tại miền Nam, trước khi âm mưu tổ chức đảo chánh ở Sài Gòn, để khỏi gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tại các quốc gia đó đối với chính sách ngoại giao của Mỹ. Nhưng ông Nhu và Gs. Bửu Hội[6] đã phá vỡ âm mưu này bằng cách chính thức mời Liên Hiệp Quốc cử một phái đoàn đến Việt Nam điều tra tại chổ, trước khi đưa vấn đề này ra thảo luận tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Rồi khi phái đoàn này đến Việt Nam điều tra và hoàn thành một bản phúc trinh dày gần 300 trang, với kết luận là không có đàn áp Phật Giáo tại Việt Nam, thì Bộ Ngoai Giao Hoa trở nên lúng túng, sợ rằng nếu đưa vấn đề này ra thảo luận tại Liên Hiệp Quốc sẽ làm giảm uy tín của Hoa kỳ và tạo cơ hội cho Trung Cộng tấn công Hoa kỳ đã xen vào nội bộ của Việt Nam và đã tổ chức đảo chánh ở Saigon, nên cử Cabot Lodge vào đầu tháng 12. 1963, liên lạc với Sir Senerat Gunaewardene của Tích Lan, là trưởng phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc lúc đó, đừng đưa bản phúc trình này ra thảo luận tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc nữa, và Sir Senerat đã đồng ý làm điều đó như một ân huệ cá nhân của ông dành cho Lodge (Gunawardene agreed to do so as a personal favor to Lodge), vì trước đây khi làm Đại Sứ Hoa kỳ tại Liên Hiệp Quốc, Lodge là bạn của ông.[7]

Như vậy, chúng ta thấy đối với một cường quốc như Hoa Kỳ, họ cỏn biết vận dụng Diễn Đàn Liên Hiệp Quốc hỗ trợ cho những mục tiêu chính trị của họ. Tại sao Việt Nam đứng trước một hiểm họa đe dọa sinh tử đến vận mạng của cả dân tộc, chúng ta lại không vận động để tìm hậu thuẩn của thế giới để bảo vệ nền độc lập của chúng ta ?

Nhưng thực tế, chúng ta rất đau lòng, khi thấy, các nhà lãnh đạo Hà Nội, về phương diện ngoại giao, đã đánh mất rất nhiều cơ hội lịch sử quí báu, để khôi phục độc lập cho dân tộc và phát triển quốc gia. Đó là cơ hội của những năm 1945, 1954, 1973 và 1975. Thực vậy, nếu ngày xưa các vua chúa Triều Nguyễn, vì quá tin tưởng vào văn hóa Trung Hoa đã trở nên tự tôn và thiển cận, thì ngày nay các nhà lãnh đạo Hà Nội cũng quá sùng bái chế độ Cộng Sản và quá tin tưởng vào lý luận giai cấp đấu tranh, đã trở nên mù quáng, xem mọi người đều là kẻ thù, nên chưa bao giờ họ có thể đề ra một chính sách ngoại giao khoáng đạt và lương hảo, còn về phương diện quốc nội họ cũng không có đủ cởi mở, để thực tâm mời những thành phần khác biệt chính kiến, thành lập một chính phủ đoàn kết để phất triển quốc gia. Trái lại, họ chỉ có những thủ đoạn chính trị gian trá và xão quyệt để lừa dối đối phương, để rồi cuối cùng là tiêu diệt đối phương. Điều này chứng tỏ hết sức rõ rệt khi nhìn về lịch sử Việt Nam Cận và Hiên Đại. Năm 1946, Cộng Sản dùng chiêu bài chính phủ Liên Hiệp, để tiêu diệt phe Quốc Gia, rồi năm 1954, ký hiệp định Genevea, chưa ráo mực, họ đã vi pham hiệp định này, bằng cách gài lại hơn 70,000 cán bộ tại miền Nam với âm mưu khuynh đảo chính quyền Quốc Gia Việt Nam . Đến năm 1973, một lần nữa, họ đã lừa phỉnh để tiêu diệt phe quốc gia dưới chiêu bài mới là Hòa Hợp và Hòa Giải Dân tộc. Còn đối với quốc tế, khi ký hiệp định Paris , họ long trọng cam kết để nhân dân Miền Nam hoàn toàn tự do quyết định vận mạng của mình. Ngay sau đó, khi người Mỹ, theo đúng cam kết của hiệp định này, rút khỏi miền Nam, thì họ đem quân xóa sỗ chinh phủ Sài Gòn…Với một những phương cách gọi là liên hiệp, hợp tác và một lịch sử bang giao đầy phản trắc và gian trá như vậy, ai còn có thể tin tưởng vào Hà Nội để hợp tác hữu nghị. Do dó, từ ngày cướp chính quyến tại Hà Nội vào tháng 8 năm 1945 đến nay, các nhà lãnh đạo miền Bắc bị đuôi mù bởi lý thuyết Mác-Lênin và Mao Trach Đông, theo đuổi một chế độ độc tài phi nhân, tàn sát và thủ tiêu các thành phần bất đồng chính kiến, đầy đọa toàn dân trong cảnh nghèo đói, thất học, thù hận và bắn giết lẫn nhau. Còn về phương diên quốc tế, vì thiếu hiểu biết và chỉ biết quyền lợi của phe nhóm, nên họ đã liên kết với Trung Cộng và Liên Sô, để đưa toàn thể dân tộc vào một cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm. Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt nhất trong lich sử nhân loại. Thực vậy, lâu dài nhất vì cuộc Thế Chiến I, chỉ có 4 năm, từ 1914-1918, Thế Chiền 2, chỉ có 6 năm, từ 1939-1945, và khốc liệt nhất ,vì số bom đạn được sử dụng trong chiến trường Việt Nam gấp 2.5 số bom đạn dùng trong Thế Chiến 2. Nhưng điều tệ hại hơn nữa, khi nhận viện trợ từ Trung Cộng để đánh Mỹ cũng là lúc họ đã thực sự rước họa xâm lăng từ phương Bắc vào Việt Nam .

Đối với những nhà lãnh đạo có một não trạng bệnh hoạn như vậy làm sao có được một viễn kiến chính tri sâu sắc, một chinh sách ngoại giao khoáng đạt và biết khai thác những mâu thuẩn quốc tế để kiếm tìm nhũng đồng minh hữu hiệu, để rồi cùng với sự hỗ trợ tích cực của toàn dân trong nước, nhằm tạo thành một sức mạnh dũng mãnh để chống lại hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng

Biện Pháp Quân Sự

Hiện nay, Việt Nam có một đội quân khoảng 450,000 người. Đây là một lực lượng quân sự lớn nhất so với các quốc gia tại Đông Nam Á hiện nay. Nhưng vấn đề đặt ra liệu quân nhân dưới cờ còn có tinh thần để hy sinh và chấp nhận gian khổ để chiến đấu nữa hay không? Khi chính họ chứng kiến những thực trạng xã hội quá phũ phàng trước mắt, trong khi các lãnh tụ của họ tìm mọi cách để vơ vét tài sản quốc gia cho cá nhân, gia đình và phe nhóm, còn tuyệt đại đa số dân chúng, trong đó có cả các gia đinh bộ đội Cộng Sản, bị bóc lột, sống trong cảnh khốn cùng nhất, chưa từng thấy trong lịch sử cận đại Việt Nam, từ trước tới nay, nghĩa là còn cơ cực hơn thời Thực Dân Pháp đô hộ đất nước chúng ta. Nhưng sau hết và mấu chốt hơn hết, vẫn là vấn đề các nhà lãnh đạo Hà Nội có còn ý chí để chiến đấu nhằm bảo vệ tổ quốc chống lại họa ngoại xâm nữa hay không? Chúng ta hơi bi quan, khi nghe lời bình luận của Carl. Thayer, một chuyên gia về các vấn đề Việt Nam , tại Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Dantroon của Úc. có lẽ bây giờ các nhà lãnh đạo Hà Nội đã trở nên quá giàu có, họ muốn được yên thân để bảo vệ tài sản và gia đình của họ hơn.. cho nên việc mất thêm một vài hải đảo xa xôi như Hoàng Sa và Trường Sa, mất thêm một ít lãnh thổ và lãnh hải ở phía Bắc không còn là vấn đề quan trọng đối với họ nữa…

Biện Pháp Chính Trị

Đó là nuôi dưỡng tinh thần độc lập, tự cường, tự chủ cùng ý thức quốc gia và dân tộc. Ông Nhu đã biện giải vấn đề này như sau:

Tuy nhiên biện pháp cần thiết nhất, hữu hiệu nhất và hoàn toàn thuộc chủ động của chúng ta, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc. Đồng thời, áp dụng một chính sách cai trị khoáng đạt, mở rộng khuôn khổ lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt.

Và sau cùng ông Nhu đã đi đến kết luận, muốn thắng hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng
một chính thể chuyên chế hay độc tài như Hà Nội hiện nay, không thể nào thành công được.

Trong khi đó, chúng ta đều biết rằng hiện nay thế giới đang chứng kiến những thay đổi khốc liệt nhất, đặc biệt là trong lãnh vực tin học và khoa học kỹ thuật, còn trong lĩnh vực chính trị ngoại giao, như Tổng Thống Obama, cũng kêu gọi, một sự hợp tác và hòa giải giữa các quốc gia, để đẩy lùi bóng tối của chiến tranh và nghèo đói, nhằm kiến tạo một kỷ nguyên hữu nghị, hợp tác, hòa bình và thịnh vượng cho toàn thế giới, thì các nhà lãnh đạo của Hà Nội vẫn giữ nguyên bản chất của Cộng Sản là độc quyền lãnh đạo, độc tài toàn trị và để cũng cố chính quyền chuyên chế, họ thẳng tay đàn áp đối lập, các giáo hội tôn giáo chân chính, áp dụng chính sách đầy đọa người dân trong cảnh nghéo đói, chậm tiến và thất học… để trong nước không còn ai có thể chống đối lại họ được.

Với những kiểm điểm sơ lược trên đây, chúng ta đều thấy trước rằng, nếu dân tộc chúng ta không còn cơ may để thay đổi thành phần lãnh đạo tại Bắc Bộ Phủ, thi vấn đề Việt Nam nội thuộc nước Tàu chỉ còn là vấn đề thời gian.

Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu
Melbourne, 1. 11. 2009
[1] Linh Muc De Jaegher, Cố vấn thân cận của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Tưởng Giới Thach, đàm luận với tác giả tại Sàigòn vào 6. 1966.

[2] . Sách được xuất bản mang tên Tùng Phong, Chính Đê Việt Nam , Saigon-Việt Nam , 2009

[3] Xin xem các diễn văn này trong La Voix de la Juste Cause, Recueils Des Principaux Discours et Meassages du President Ngo Dinh Diem, June 1954 – Juillet 1963, Saigon, Service de la Press de la Presidence de la Republique du Vietnam, 1963. Các diễn văn này thường được ông Phạm Đình Khiêm dịch ra Việt ngữ và Gs. Tôn Thất Thiện ra Anh ngữ.

[4] Có lẽ vì đánh máy sai, nên trong ấn bản in là vĩ tuyến 17, thực tế lá vĩ tuyến 16, chú thich của người viết.

[5] Nước Úc trong bản ngân sách 2009-2010, đã gia tăng hơn 6.6.tỉ bạc (từ 19.8 tỉ lên 26.4 tỉ), để gia tăng khả năng không lực và hải quân nhằm bảo vệ lãnh thổ. Điều này khiến chính quyền Nam Dương phải quan ngại, sau đó chính phủ Úc đã phải lên tiếng trấn an.
Còn Thái Lan trong bản ngân sách 2008, ngân sách dành cho Bộ Quốc Phòng đã tăng lên tới 4.5 tỉ US dollars, đă quan mặt cà Nam Dương và Mã Lai về chi phí quốc phòng.
Tân Gia Ba trong bản ngân sách 2009, họ cũng đã dành đến 34% cho ngân sách quốc phòng. Nhưng từ lâu Tân Gia Ba, có lẽ, đã thấy trước được hiểm họa xăm lăng của Trung Quốc, nên họ đã có những thỏa hiệp liên kết quân sự với Hoa Kỳ từ năm 1990 với thỏa hiệp MOU và đến 2005 họ đã ký hiêp ước Hợp Tác Quân Sự với Hoa Kỳ. Nam Dương đã để chi phí quốc phòng vào hàng ưu tiên thứ 3 trong bản ngân sách 2008 với ngân khoản là 3.3 tỉ US dollars.
Còn Mã Lai, muc tiêu của ngân sách 2008, dành ưu tiên cho phúc lợi toàn dân, nên chi phí quốc phòng phải bị cắt giảm tối đa, nhưng riêng chi phí dành cho Không Lực Mã Lai, không bị cắt giảm mà lại còn được gia tăng từ 1,482 tỉ Mã kim lên đến 1,613 tỉ Mã kim để gia tăng khả năng phòng thủ quốc gia.

[6] Giáo sư Bửu Hội là một phật tử và thân mẫu của giáo sư là Sư Cô Diệu Huệ, lúc đó Giáo sư được Tổng Thống Diệm cử làm trưởng phái đoàn đặc biệt tại Liên Hiệp Quốc từ tháng 9. 1963, đặc trách về cuộc Khủng Hoảng Phật Giáo.
[7] Theo sự tiết lộ cùa Bà Swarna L. Ganawardene, con gái cùa Sir Senerat, trong thư gởi cho Bà Anne Blair, (một đồng nghiệp của người viết tại Đại Học Monash trước đây), vào tháng 11. 1989. Và cũng có thể xem thêm Điện văn số 2444 từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi cho Tòa Đại Sứ Mỹ Saigon, ngày 11. 12. 1963 dưới tiêu đề Gunawardene’s killing the debate. xem Anne Blair, Lodge in Vietnam, A Patriot Abroad, New Haven, Yale university

27 thg 10, 2009

Mời cu Lờ làm thủ tướng

Nguyễn Quang Lập

Philipp Rösler

Tối qua đi uống rượu về, mò vô nhà bác Ba Sàm thấy tin ông Philipp Roesler là người gốc Việt đầu tiên trong nội các Đức, sướng rêm, máu tự hào dân tộc nổi lên, dù đã say vẫn nốc hết ly rượu to, hút hết nửa bao thuốc mới chịu lên giường. Lên giường rồi vẫn không ngủ được, cứ nghĩ vẫn vơ, giá mình là bố Philipp Roesler, nghe tin này thì sẽ thế nào nhỉ? Mới nghĩ đến thế đã nước mắt dàn dụa.

Philipp Roesler phiên âm ra tiếng Việt là Phi lip Rơs lờ, người Việt mình thích nói tắt, gọi là cu Lờ cho nó đậm đà bản sắc dân tộc. Cu Lờ máu Vịêt toàn tòng, mới 36 tuổi đã làm bộ trưởng của một nước to đùng, dù biết bộ trưởng nước tây hôm nay nhậm chức hôm sau có thể mất chức, chứ không phải như ta, đã lên đến chức đó rồi thì cứ nhè vinh hoa phú quí mà thẳng tiến, thì cũng cứ sướng cái đã.

Mới hay cái môi trường nó quan trọng đến thế nào. Hoàn cảnh như cu Lờ nếu ở ta giỏi lắm cũng chỉ được như bác sĩ Sao Hồng ở Nha Trang, ngày đi rạch bụng người tối lên blog tán gái, thế là oách lắm rồi. Cái chân Viện trưởng cũng chả có, đừng nói Bộ trưởng y tế, còn khuya.

Ở ta xem lý lịch, giá quê Cần Thơ, Bến Tre thì còn hy vọng chứ Khánh Hoà thì kẹt rồi, lại còn không cha không mẹ, không họ hàng thân thích, nói chuyện làm bộ trưởng khác nào đơm đó ngọn tre. Còn bảo làm bộ trưởng lúc 36 tuổi thì có đánh chết cũng chẳng dám mơ.

Tuổi ấy xưa Võ đại tướng đã làm bộ trưởng, xa hơn nữa cụ Trần Phú làm tổng bí thư lúc 24 tuổi, nhưng cái thời ấy đã đi vào dĩ vãng, ít có cơ may quay trở lại. Bây giờ nghe ông Hoàng Trung Hải 46 tuổi làm phó thủ tướng ai ai cũng mắt trợn mồm há, nói trẻ quá trẻ quá. Đừng nói 46 tuổi, năm sáu mươi tuổi vẫn cứ còn là trẻ, đến tuổi đái ướt quần rồi vẫn cứ còn trẻ như thường.

Thiên hạ bàn tán cả tháng nay về một ông nào đấy nói chỉ có tiến sĩ mới có khả năng đột phá tư duy. Chả biết tiến sĩ có đột phá tư duy hay không chứ tuổi trẻ có khả năng đột phá tư duy là cái chắc. Mình từ khi lớn khôn đến giờ đã hơn ba mươi năm, năm nào cũng nghe trên hô hào trẻ hoá trẻ hoá, trẻ hoá thế nào mà lực lượng đái ướt quần ngày càng phát triển rầm rộ, ghế nhỏ ghế to không chỗ nào là không có mấy ông đó chiếm giữ.

Mình uống rượu tán phét với mấy ông tổ chức, nói các ông tuyển cán bộ đừng có nhìn vào lý lịch, thời buổi chia tỉnh nhập tỉnh tùm lum, khai lại cái tuổi có gì là khó. Các ông cứ lùa tất cả vào toilet bảo đái, cứ ông nào đái ướt quần thì cấp ngay sổ hưu. Làm thế thật kiên quyết, bảo đảm có ít nhất 60% ghế trống dành cho tuổi trẻ.

Nói thật giá nước ta có vài mươi anh như Philipp Roesler , kẹt lắm thì năm bảy anh cũng được, giữ những vị trí quan trọng thì đất nước mình chắc sẽ khá lên nhiều. Một ông nhà văn nói chơi vui, nói lãnh đạo nước mình không có ai để mình gọi bằng thằng cả, toàn phải gọi bằng anh bằng ông bằng cụ, chán mớ đời.

Nghĩ đến đây bỗng nhiên mơ mình có cái quyền tuyển chọn lãnh đạo, lập tức chạy sang Đức gặp cu Lờ, nói ê cu, mày về giải quyết vụ Bauxite Tây Nguyên thật ngon lành, tao cho mày làm thủ tướng. Mày làm thủ tướng 5 năm nếu tham nhũng nước mình không còn là quốc nạn thì mày ưa gì làm nấy, tụi tao sẽ nhất tề gọi mày là Anh giai dân tộc, gọi thế cho nó máu.

Mơ thế thôi, chả chắc cu Lờ nó chịu nghe cho, dù gì đầu gà tây còn hơn má lợn ta. Vả lại cu Lờ có tài đến giời mà chạy đâu cũng đụng phải 16 chữ vàng thì làm được cái gì tốt. Nói thế để thông cảm sâu sắc với thủ tướng đương nhiệm, tuyệt không có ý gì khác, xin thành thật khai báo .

Bạo hành của cảnh sát San Jose : Dân biểu Trần Thái Văn yêu cầu làm sáng tỏ công lý

Oct 27, 2009

“Đây là một biến cố trầm trọng đã có những sự sứt mẻ giữa chính quyền địa phương cũng như giới công lực trong Quận Hạt Santa Clara và cộng đồng Việt và có thể gây thêm ngộ nhận. Bà Carr đã cam kết sẽ làm sáng tỏ vấn đề theo đúng luật lệ cho phép trong tinh thần công bằng và thượng tôn pháp luật.” Chánh Biện Lý Dolores Carr nói với Dân Biểu Văn.

Sacramento (CA) -- Cuối tuần qua, Cộng Đồng Việt khắp nơi giao động khi xem đoạn phim được báo chí, truyền hình cho thấy một số sảnh sát viên đã xử dụng vũ lực quá đáng đánh đập tàn nhẫn một sinh viên gốc Việt tại Thành Phố San Jose, California.

Dân biểu Văn đã lên tiếng khẩn cấp với Bà Dolores Carr, Chánh Biện Lý Quận Hạt Santa Clara (San Jose) và ông Chuck Reed, Thị Trưởng San Jose vào sáng thứ Hai ngày 26 tháng 10 năm 2009

Nội dung lá thư cho biết vụ bạo hành trầm trọng nêu trên đã xẩy ra vào ngày 3 tháng 9 năm 2009 liên quan đến Sở Cảnh sát San Jose và nạn nhân là một sinh viên, tên Phương Hồ, 20 tuổi. Biến cố này bùng nổ khi Nhật báo San Jose Mercury News, số ra ngày Chủ Nhật 25 tháng 10 năm 2009 cho phổ biến tin tức và phát hình cảnh bạo tàn của Cảnh Sát San Jose trên nhiều đài truyền hình quốc gia. Nhiều vị lãnh đạo trong cộng đồng Việt Nam tại vùng Bắc California đã liên lạc với Dân Biểu Văn trong 24 giờ qua bầy tỏ sự phẫn nộ về sự kiện này.

Hành động của một số cảnh sát San Jose được thu lại bằng một máy điện thoại cầm tay của một sinh viên khác chứng kiến ngay tại hiện trường. Hình ảnh và tiếng kêu cầu cứu nghe trên truyền hình làm cho người xem thấy sự đối xử tàn tệ của nhiều nhân viên công lực đối với nạn nhân Phương Hồ.

“Trên tinh thần nhân bản, con người và con người, chúng ta không thể chấp nhận bất cứ ai có hành động thô bạo như đã thấy trong đoạn phim liên hệ đến nạn nhân Phương Hồ,” Dân Biểu Văn phát biểu.

Trong quá khứ Cảnh sát San Jose cũng có những hành động thái quá đem đến hậu quả 2 người bị bệnh tâm thần trong cộng đồng Việt Nam bị bắn chết, làm mối giao hảo tốt đẹp của cộng đồng Việt Nam và nhân viên công lực của thành phố đã bị sút giảm. Dân Biểu Văn đã yêu cầu những chính quyền thành phố San Jose phải có những kế hoạch cần thiết để bảo đảm với cộng đồng, sự bạo hành của nhân viên công lực phải chấm dứt và cần có một cuộc điều tra kỹ lưỡng.

Chánh Biện Lý Dolores Carr đã điện thọại cho Dân Biểu Văn ngay sau khi nhân được điện thư. Cuộc điện đàm kéo dài 30 phút, Dân Biểu Văn đã tái yêu cầu bà Carr cần phải làm sáng tỏ vấn đề qua những thủ tục điều tra và thủ tục pháp lý cần thiết để trấn an Cộng Đồng Việt đã và đang mất tin tưởng vào cơ quan công lực tại San Jose.

Ngoài ra, Dân Biểu Văn đã nhắc lại sự quan tâm và phẫn nộ của Cộng đồng Việt với với Cảnh Sát San Jose và những thủ tục pháp lý thiếu minh bạch từ Cơ Quan Biện Lý Cuộc Santa Clara về cái chết của em Daniel Phạm, một bệnh nhân tâm thần, bị cảnh sát bắn chết. Cách đối xử của 2 cơ quan chính quyền này về hồ sơ Daniel Phạm đã gây ấn tượng xấu và làm mất niềm tin của Cộng Đồng Việt tại vùng bắc California.

Bà Chánh Biện Lý đồng ý rằng đây là một biến cố trầm trọng đã có những sự sứt mẻ giữa chính quyền địa phương cũng như giới công lực trong Quận Hạt Santa Clara và cộng đồng Việt và có thể gây thêm ngộ nhận. Bà Carr đã cam kết sẽ làm sáng tỏ vấn đề theo đúng luật lệ cho phép trong tinh thần công bằng và thượng tôn pháp luật.

Sau cùng, Dân Biểu Văn cho bà Carr biết rằng Cộng Đồng Việt Nam từ Bắc xuống Nam California sẽ tán thưởng sự điều tra và thi hành công lý một cách công bằng trong biến cố này.

Thổn thức cho Việt Nam

Đoàn Văn Toại

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam.Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng.

Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.

Vietnam, A portrait of its people at war
Nguồn: media.us.macmillan.com
Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.

Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đã chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.

Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôi cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).

Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên.

Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản.

Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN.

Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.

Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông.

Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo.” Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!

Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.

Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.
Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.

Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam.

Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản. Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, “Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.

Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:

‘Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười.’

(Đời đời nhớ ông - Tố Hữu).

Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.

Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi truỵ. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”.

Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles. Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.

Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.

Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.

Trương Như Tảng
Nguồn: A Vietcong Memoir
Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.

Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.

Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị, “Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.

Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.

Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.

Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, 'Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.

Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng được biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.

Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay. Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.

12 THÁNG ANH ĐI