28 thg 11, 2009

PHẤT PHƠ HAI DẢI YẾM ĐÀO..


ĐÀO ĐỨC NHUẬN

Trước khi dùng xú-chiêng như người phụ nữ Tây Phương, người phụ nữ Việt Nam đã biết dùng cái yếm để che kín bộ nhũ hoa. Nói như thế không có nghĩa là cái yếm chỉ có công dụng như cái xú-chiêng của người Tây Phương mà thực sự công dụng của nó còn rộng rãi hơn nhiều. Trong lúc cái xú-chiêng chỉ dùng để che kín và nâng đỡ bộ nhũ hoa thì cái yếm của người phụ nữ Việt Nam đôi khi còn có thể dùng thay thế cho cái áo cụt “ra đường đi đâu gần gần mà chỉ bận yếm thì cũng chẳng ai rầy” hoặc, hơn thế nữa, “mùa nóng nực những người làm việc khó nhọc chỉ mặc yếm che ngực, đủ kín đáo, không mặc áo”.

Về hình thức, cái yếm của người phụ nữ Việt Nam trông thật đơn giản. Có lẽ, tùy theo sở thích cá nhân hay truyền thống địa phương mà hình thức của cái yếm có thể khác nhau đôi chút.

Theo Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ trong Tự Điển Việt Nam (q.I, trang 669) chiếc yếm được định nghĩa như sau: “Yếm: Miếng vải hình tam giác dùng che ngực : Cô kia mặc yếm hoa tằm, Chồng cô đi lính cô nằm với ai. CD”.. Theo Trần Ỷ trong bài “Quê Rích Quê Rang”, chiếc yếm được mô tả “là một tấm vải đen hay màu hồng, gần như hình tam giác, có dải cột choàng ra sau cổ và sau eo”.

Theo Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong Đất Lề Quê Thói, “Yếm mặc để che kín ngực là mảnh vải vuông, một góc may cổ xẻ, cổ thìa, hay cổ xây, có dải bọc treo lên cổ, hai góc đối nhau vắt sang hai bên sườn may dải rộng quấn vòng sau lưng ra đàng trước bụng, thường quấn chặt không để cho vú ngóc lên phô trương đường cong nét gợi, không để cho rung rinh, dún dẩy, vươn ra quá cỡ.”

Theo Anh Thy trong bài Nghìn Năm Dải Yếm Bắc Cầu, “Cái yếm đó có cấu tạo khá đơn giản. Một mảnh vải hình thoi khoét tròn một đầu, được gắn dải lụa để buộc lại sau cổ và lưng”.


Hai ông Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ là người Nam, ông Trần Ỷ người miền Trung, ông Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu và ông Anh Thy là người Bắc. Như vậy, có lẽ cái yếm của người miền Trung và người miền Nam có hình dáng gần giống như hình tam giác khoét cổ ở đỉnh. ; trong lúc đó cái yếm cuả người phụ nữ miền Bắc lại có hình dáng gần giống như hình vuông hay hình thoi và cổ yếm được khoét ở một góc.

Như ông Trần Ỷ đã nói trong bài vừa dẫn, “Yếm vừa che ngực vừa là món trang sức của các cô đang độ xuân thì, nhờ màu sắc, nhất là cái cổ yếm là một công trình tuyệt xảo của các cô gái khéo tay : đường viền chạy chân rết, luồn được vào trong là cả một công phu.”

Nhác trông cái yếm cũng xinh
Khen ai khéo dệt ra hình hoa mai
Khen người khâu yếm cũng tài
Cổ thêu con nhạn có hai đường viền
Cổ thì em ngả màu hiên
Thắt lưng mùi huyền, dải yếm cũng xinh
Khen ai khâu yếm cho mình
Đường lên đường xuống ra hình lưng ong
Yếm này em ngả màu hồng
Yếm này nhuộm mất mấy công hỡi nàng?
Khi xưa lụa hãy còn vàng
Khen ai khéo nhuộm cho nàng, nàng ơi!
Về các loại vải may yếm còn tùy chủ nhân của chiếc yếm (giàu nghèo, già trẻ), tùy theo môi trường sử dụng yếm. Yếm mặc ở nhà hay khi đi lao động được may bằng vải ta hay vải trúc bâu. Vào những ngày hội hè đình đám người ta thường mặc yếm màu, con nhà khá giả mặc yếm vóc, yếm nhiễu là những loại vải quý đắt tiền:
Hỡi cô yếm thắm lòa lòa
Yếm nhiễu, yếm vóc hay là trúc bâu?
Hay là lụa bạch bên Tàu?
Người cắt cũng khéo, người khâu cũng tài. . .
Về màu sắc, còn tùy theo sở thích cá nhân hay còn tùy theo môi trường sinh hoạt. Thông htường người ta thường mặc yếm trắng hay yếm nâu trong nhũng lúc ở nhà hay làm việc ngoài đồng áng. Những người đứng tuổi vẫn dùng hai màu này là chính dù ở trong bất kỳ môi trường sinh hoạt nào. Khi tham dự các cuộc hội hè đình đám, phần lớn phụ nữ trẻ tuổi thích mặc yếm màu.
Cô kia yếm trắng lòa lòa
Lại đây đập đất trồng cà với anh . . .
Ngoài chiếc yếm trắng hay yếm nâu thường may bằng loại vải ta mặc ở nhà hay trong những lúc lao động, những chiếc yếm màu cũng được may bằng các loại vải kể trên nhưng cũng có khi được may bằng những loại vải đắt tiền hơn và thường được dùng trong các dịp Tết nhất, giỗ chạp hay trong các cuộc hội hè đình đám:
* Con cò lặn lội bờ ao
Phất phơ hai dải yếm đào gió bay
* Hỡi cô áo trắng yếm hồng
Đi trong đám hội, có chồng hay chưa?
* Hỡi cô yếm thắm răng đen
Muốn lên mạn ngược ngồi thuyền cùng anh!
* Chùa này chẳng có Bụt ru
Mà đem chuông khánh treo chùa hồ sen?
Thấy cô yếm đỏ, răng đen
Nam mô di Phật lại quên mất chùa !
Cái yếm làm tăng độ duyên dáng của người phụ nữ nên cái yếm cũng có thể là một trong những điều kiện tạo nên nét đẹp, nét duyên dáng của người phụ nữ để người con trai lựa chọn ý trung nhân:
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa . . .
Tuy hình thức của cái yếm trông có vẻ đơn giản, nhưng vì công dụng của nó mà nó hóa ra quyến rũ khác thường. Mê cái yếm chính là mê con người mặc yếm. Hơn thế nữa, có những cách mặc yếm nó làm cho người nhìn cũng phải ngất ngây vì sự kín đáo nửa vời của nó. Theo tác giả Anh Thy, “Người phụ nữ khi làm lụng, nhất là trong bóng râm, dù là vào thời kỳ Hùng Vương hay đầu thế kỷ XX, vẫn thường mặc váy-yếm với hai tay và lưng để trần. Trời nắng thì thêm cái áo ngắn có xẻ tà hai bên hông gọi là áo cánh. Áo có đính cúc nhưng khi mặc thường không cài, vừa để cho mát, vừa để hở cái yếm làm duyên.”
Mà ngay cái yếm cũng chỉ để che kín phần ngực, phần lưng vẫn để trống và đôi khi cái yếm còn được cắt hẹp lại để hở hai bên sườn trông thật hấp dẫn. Câu ca dao dưới đây chắc đã được sáng tác trong khoảng thời gian người đàn ông Việt Nam còn đóng khố khi làm việc ngoài đồng áng:
Đàn ông đóng khố đuôi lươn
Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh!
Vào cái thuở thật xa xưa đó, cái thuở chưa có cái xú chiêng ngự trị trên cặp nhũ hoa của người phụ nữ Việt Nam mà chỉ có cái yếm trắng, yếm đào . . . đã có biết bao nhiêu chàng trai chết mê chết mệt vì những cái yếm đó nhỉ? Ngay cả những anh đồ, tức những ông thầy dạy chữ nho ngày xưa cũng phải lụy vì cái yếm của những cô nàng thôn nữ :
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương
Cái răng hạt đỗ làm tương anh đồ!
Yếm thắm mà vã nước hồ
Vã đi vã lại anh đồ yêu đương!
Cái yếm đã đẹp và gợi tình thì cái dải yếm nào có kém gì. Hình ảnh của đôi dải yếm phất phơ trong gió sao mà quyến rũ, sao mà đa tình đến thế:
Con cò lặn lội bờ ao
Phất phơ hai dải yếm đào gió bay!
Con cò ở đây là hình ảnh tảo tần của người phụ nữ Việt Nam.
Ngoài cái công dụng buộc miếng vải yếm vào phần ngực của người phụ nữ, có người còn dùng dải yếm để buộc cái túi vải nho nhỏ đựng dăm bảy khẩu trầu hay đựng mấy đồng tiền để dành:
Trầu em têm tối hôm qua
Cất trong dải yếm mở ra mời chàng!
Hay: Trầu đã có đây, cau đã có đây,
Nhân duyên chưa định trầu này ai ăn
Trầu này, trầu túi trầu khăn
Cùng trầu dải yếm anh ăn trầu nào?
Hay: Tiền buộc dải yếm bo bo
Trao cho thầy bói đâm lo vào mình!
Thông thường, người phụ nữ tự chọn vải, chọn màu rồi tự cắt may lấy cái yếm để dùng. Thế nhưng, đôi khi chiếc yếm cũng được sản xuất hàng loạt để đem bày bán. Và từ đây, chiếc yếm đã là một tặng phầm hết sức thân tình để trở thành những kỷ vật rất được trân trọng của người phụ nữ.
Có thể các bậc phụ huynh chọn một chiếc yếm có giá để làm quà cho cô con gái trước ngày vu quy:
Con lạy cha hai lạy một quỳ
Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng
Thắt lưng đũi tím, bộ nhẫn đồng con đeo tay
Có thể là một chàng trai mua một chiếc yếm để tặng người yêu:
Anh mua cho em cái yếm hoa chanh
Ra đường bạn hỏi, nói của anh cho nàng!
Có một chàng trai khen một cô gái mặc chiếc yếm thắm bé bé xinh xinh. Chàng khen “người cắt cũng khéo, người khâu cũng tài”. “Người” ở đây chưa xác định là ai. Thế nhưng, ngay mấy câu tiếp chàng lại xác định chính chàng đã thêu nhạn, thêu hoa trên chiếc yếm:
Hỡi cô yếm thắm lòa lòa
Yếm nhiễu, yếm vóc hay là trúc bâu?
Hay là lụa bạch bên Tàu?
Người cắt cũng khéo, người khâu cũng tài!
Một đàng anh thêu nên nhạn
Hai đàng anh mạng nên hoa
Yếm ấy anh để trong nhà
Khen ai mở khóa đem ra cho nàng!
“Khen” thì ai khen? Và “ai” ở đây là ai? “Yếm ấy anh để trong nhà” và chắc là “anh” đã cất kỹ lắm, có thể là trong rương và chìa khóa “anh” giữ. Vậy thì “ai” có thể “mở khóa đem ra cho nàng”? Còn ai trồng khoai đất này nữa chứ? Chính chàng đã tự khen mình tạo nên chiếc yếm xinh đẹp và chàng đã tự tay mang ra tặng cho nàng. Và chàng lại tự khen cái hành động tỏ tình tha thiết của mình. Khéo thật!
Và cũng từ cái việc tặng yếm này, chúng ta còn bắt gặp một bài ca dao thật ngộ. Bài ca dao như thế này:
- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím
Em có chồng rồi, em trả yếm cho anh!
- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh
Yếm em em mặc, yếm gì anh anh đòi!
Đây là một khúc ca đối đáp giũa một người nam và một người nữ. Chúng ta thử minh xác xem đây là một cuộc trả yếm hay là một cuộc đòi yếm.Vì đây là một khúc ca được thể hiện trong một buổi hát đối đáp nào đó nên nội dung đích thực của nó chỉ là một giả thiết. Tuy nhiên, dù chỉ là một giả thiết thì giả thiết đó cũng phải phản ảnh được tâm tình chung của quần chúng thì mới được quần chúng lưu truyền cho tới ngày nay.
Chúng ta sẽ không bàn đến câu 1 và câu 3, vì 2 câu này chỉ là câu đưa đẩy thuộc thể phú trong nghệ thuật cấu tạo một bài ca dao. Quả thực nó không liên quan gì đến câu 2 và câu 4, và vì vậy, dù hoa cúc vàng có nở ra bất kỳ loại hoa gì gì đi nữa thì nó cũng không làm thay đổi ý nghĩa đích thực của câu 2 và câu 4.
Có 2 giả thiết:
Giả thiết 1: Nếu cô gái hát trước thì đây là trường hợp xin trả yếm. Ta có thể nói xuôi ý câu này như sau: Đây là chiếc yếm anh tặng em khi chúng mình yêu nhau, nhưng nay vì duyên nợ không thành, bây giờ em đã có chồng, nên em xin trả chiếc yếm này cho anh . Và chàng trai đã trả lời một cách dịu dàng: Quả là anh có tặng em chiếc yếm đó, thế nhưng bây giờ em đã mặc nó và vì vậy bây giờ nó là của em. Nó đâu còn là của anh nữa mà bảo anh đòi!
Giả thiết 2: Nếu người con trai hát trước thì đây lại là đòi yếm. Lời người con trai thật cương quyết: Ngày trước tôi có cho cô một cái yếm.. Nay cô đã có chồng cô phải trả lại cái yếm đó cho tôi. Cô gái đốp chát lại một cách đanh đá: Này, tôi bảo cho mà biết, yếm tôi đang mặc thì nó phải là yếm của tôi chứ yếm gì của anh mà anh lại đòi! Vô duyên!


Xét về phương diện tâm lý, đã có can đảm đòi lại cái yếm mà mình đã cho người mình yêu, dù rằng người yêu của mình đã ôm cầm sang thuyền khác, thì đó là một hành vi không còn tình nghĩa. Đã không còn tình nghĩa thì giọng điệu phải gay gắt. Giọng điệu của chàng trai đã gay gắt thì giọng điệu của cô gái cũng phải chua ngoa cho tương xứng. Cứ xét theo giọng điệu thì giọng điệu của câu 2 không thể là giọng điệu của một người “đòi nợ” và giọng điệu của câu 4 không thể là giọng điệu của một người “bị đòi nợ”. Chữ “em” và chữ “anh” trong câu 2 và trong câu 4 nghe hiền lành, tràn trề tình cảm. Thử là giả thiết 2, bài ca dao phải được chuyển cách xưng hô như sau:
- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím
Cô có chồng rồi cô trả yếm cho tôi
- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh
Yếm tôi tôi mặc, yếm gì anh anh đòi!
chứ không thể là cách xưng hô “anh-em” “em-anh” tình tứ như thế được. Vả lại, anh con trai nào lại chẳng nhớ nằm lòng câu ca dao này:
Bắc thang lên hỏi ông trời
Của chàng cho thiếp liệu đòi được chăng?
Bắc thang lên hỏi ông trăng
Của chàng cho thiếp nói năng thế nào?
Cái yếm nó cũng quái ác lắm. Những cô gái mặc những chiếc yếm đào, yếm hồng, yếm thắm, yếm đỏ . . . đã làm cho bao chàng trai chết mê chết mệt như ăn phải bùa mê thuốc lú, không còn biết trời trăng mây nước gì nữa:
Chùa này chẳng có Bụt ru
Mà đem chuông khánh treo chùa hồ sen
Thấy cô yếm đỏ, răng đen
Nam mô di Phật lại quên mất chùa!
Mà đâu có phải chỉ làm say mê những chàng trai dân dã, những anh đồ nhá chữ thành hiền, ngay những bậc tu hành mà lòng trần chưa dứt đôi khi cũng bị mấy cô yếm thắm, yếm đào đưa vào mê lộ:
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư . . .
Cái yếm là vật thiết thân của đàn bà con gái, thì cái yếm cũng là vật thân thiết của giới đàn ông con trai. Gặp cô gái không cần biết tên họ là gì, cứ theo màu yếm cô nàng đang mặc mà gọi, cô nàng cũng biết là chàng trai đang gọi ai rồi. Thiệt là kín đáo mà tình tứ biết bao!
Gặp một cô mặc yếm trắng, thế là anh chàng có cớ để chòng ghẹo :
Hỡi cô yếm trắng lòa lòa
Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm?
Ước gì anh được ở gần
Để anh nhuộm hộ thấm nhuần công anh!
Sao mà tình tứ quá vậy! Sao mà hiền lành quá vậy! Chỉ xin được ở gần để nhuộm hộ cái yếm lấy công thôi! Sao anh chàng này lại khôn thế nhỉ? Thế nhưng, theo Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong Đất Lề Quê Thói, thì “thực ra, không ai mặc yếm nhuộm thâm, nhưng chàng trai đã mánh lới nói trái vậy để chòng ghẹo, và để cô gái dễ có cớ trả lời.”
Cũng lại cái “yếm trắng lòa lòa”, lần này cũng lại bị chọc quê :
Cô kia yếm trắng lòa lòa
Lại đây đập đất trồng cà với anh
Bao giờ cà chín, cà xanh
Anh cho một quả để dành mớm cơm!
Này đây một anh chàng ngồi trên con dò dọc đang buông lời tình tứ mời mọc một cô nàng yếm thắm:
Hỡi cô yếm thắm răng đen
Muốn lên mạn ngược ngồi thuyền cùng anh!
Này đây một anh chàng lái đò khác đang buông lời chòng ghẹo dớ dẩn:
Thuyền anh đã cạn lại đầy
Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền
Cái dải yếm chỉ lớn bằng mút đũa con mà đòi “mượn . . . làm dây kéo thuyền”. Mượn gì mà oái oăm thế! Thế nhưng cô gái cũng không vừa. Cô không từ chối thẳng thừng sợ làm buồn lòng anh chàng lái đò “tinh nghịch”, cô chỉ hứa khéo với lời ước ao không bao giờ thành hiện thực:
Ước gì dải yếm em to
Để em buộc lấy mũi đò kéo lên
Ước gì dải yếm em bền
Để em buộc lấy kéo lên trên bờ!
Này đây một anh chàng buông lời đùa cợt cái kiểu “muốn cho mình rinh cho người” :
Con cò lặn lội bờ ao
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
Hay: Hỡi cô yếm đỏ lòm lòm
Lại đây tôi gả thằng còm cho cô . . .
Nhưng cái anh chàng dưới đây mới thật là “tinh nghịch”.
Hỡi cô yếm thắm đeo bùa
Bác mẹ có bán anh mua nửa người
Anh mua từ rốn đến đùi
Từ bụng đến mặt mặc trời với em!
Vậy là cái “yếm thắm” dù có đeo bùa cũng không quyến rũ nổi anh chàng “tinhn nghịch”! “Ý tại ngôn ngoại” mà lại!
Này đây một anh chàng đang buông lời chòng ghẹo chua ngoa:
Hỡi cô mặc yếm hoa tằm
Chồng cô đi lính cô nằm với ai?
Đây có thể là một câu hỏi có vẻ “lần khân” nhưng nó lại có thể phản ảnh cả một thực tế lịch sử chua cay của người phụ nữ Việt Nam trong những thời chinh chiến. Có những thời kỳ mà người đàn ông phải ở trong quân ngũ suốt cả một quãng đời trai trẻ “tuổi chưa đến 60 chẳng được về làng cùng cha mẹ vợ con đoàn tụ...” (Thích Đại Sán – Hải Ngoại Ký Sự)
Có những phụ nữ sống trong khắc khoải chờ chồng thời chinh chiến thì cũng có những phụ nữ sống buông thả luông tuồng “chính chuyên lấy được chín chồng, vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi!...” để rồi bị người thiên hạ mỉa mai trách móc:
Hỡi cô yếm thắm bùa đeo
Chồng cô cô bỏ cô theo chồng người!
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có một bài thơ vịnh “Thiếu nữ ngủ ngày” vẽ ra một hình ảnh thiệt ngộ : cô thiếu nữ “quá giấc nồng” để gió thổi tụt yếm xuống đến giữa ngực “yếm đào trễ xuống dưới nương long”phơi bày cả bộ nhũ hoa mát rượi “đôi gò bồng đảo sương còn ngậm”, khiến cho anh chàng “quân tử dùng dằng đi chẳng dứt ; đi thì cũng dở, ở không xong!”. Chàng “quân tử” ở đây còn dùng dằng, lưỡng lự, “tiến thoái lưỡng nan”, chứ chàng trai trong ca dao gặp cảnh này đã sấn sổ đến ngay không chút e dè.:
Đôi cô vác gậy chòi đào
Cô lớn, cô bé, cô nào với ai?
Cô lớn vuốt bụng thở dài:
Trời ơi, đất hỡi! Lấy ai đỡ buồn?
Cô bé mặc yếm hở lườn
Đêm nằm ngỏ cửa con lươn bò vào!
Gió nam đánh tốc yếm đào
Anh nghĩ oản trắng, anh vào thắp nhang
Hai cô bốn oản rõ ràng
Anh xin một chiếc, cô nàng không cho!
Rõ ràng là chàng trai đã giả vờ “trông gà hóa cuốc” để rồi lần khân sấn sổ đến gần hỏi xin một “phẩm oản” và dĩ nhiên là cô nàng từ chối!
Như đã được mô tả, chiếc yếm có lớn lắm cũng chỉ bằng hai bàn tay xòe là cùng. Ấy vậy mà, đã cò chàng trai mơ ước được đắp chiếc yếm của người tình và chàng nghĩ nó sẽ ấm, ấm lắm, không chiếu chăn nào có thể sánh nổi:
Đêm nằm đắp chục chiếc chăn
Làm sao sánh được ấm bằng yếm em!
Đắp chiếc yếm mà thấy được hơi ấm đã là lạ, nhưng không lạ bằng chàng trai sau đây. Óc tưởng tượng cuả chàng đã vẽ nên một hình ảnh tuyệt diệu mà chúng ta có thể nghĩ rằng chỉ có tình yêu mới có thể cho chàng được sức tưởng tượng dồi dào đến mức ấy:
Trời mưa trời gió kìn kìn
Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông!
Trời ạ! Đắp đôi dải yếm! Phải chăng hơi hướm của người tình đã chuyền hơi ấm vào đôi dải yếm đa tình để tạo cho nó thành một lò sưởi?
Đôi dải yếm tuyệt diệu làm vậy nên chàng trai đã có một ước mơ thật kỳ lạ, đó là giấc mơ hóa kiếp của chàng. Tương truyền Nguyễn Công Trứ đã có lần ước mơ hóa kiếp thành “cây thông”:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Sườn trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông
Ông là một nhà tướng, ông lại là một nhà thơ, ông muốn tiếng thơ của ông cùng đất trời vang vọng, còn chàng trai trẻ đa tình của chúng ta thì có một ước vọng “đa tình” một cách lạ kỳ. Chàng muốn biến thành cái dải yếm để mãi mãi được quấn quýt bên cạnh người tình:
Kiếp sau đừng hóa ra người
Hóa ra dải yếm buộc người tình nhân!
Trong lúc chàng trai ước hóa ra dải yếm để được “buộc người tình nhân”, thì cái ước vọng của cô gái – cái ước vọng mãnh liệt muốn được giao hòa, muốn được cảm thông – đã biến cái dải yếm mong manh thành chiếc cầu bất hủ của tình ái để đón người tình:
Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi!
Quả là người ta không thể lấy cái kích thước bình thường để đo lường rồiø phê phán hình ảnh tuyệt diệu trong câu ca dao này mà người ta phải lấy kích thước của “khát vọng tình yêu” để nhận chân một tấm chân tình.
Nếu có một chàng trai nói lên giấc mơ “đa tình” của mình thì lại có một cô gái nói lên giấc mơ “tinh nghịch” thật oái oăm :
Ước gì dải yếm em dài
Để em buộc lấy những hai anh chàng!
Bởi cô nàng ao ước “buộc lấy những hai anh chàng” nên cô nàng đã bị thiên hạ mỉa mai:
Lả lơi cho rách yếm ra
Về nhà dối mẹ yếm thông hoa không bền!
Hình thức của cái yếm cũng là biểu tượng về đời sống thường nhật của người phụ nữ Việt Nam. Khi còn son trẻ, người phụ nữ còn nghĩ đến cách ăn mặc, còn nghĩ đến việc giữ gìn sắc đẹp:
Tấm yếm đào sao em khéo giữ màu
Răng đen rưng rức, mái tóc đầu em hãy còn xanh.
Hay: Con gái đang thì đã nên con gái
Cái áo em mặc chải chải hoa hồng
Trong yếm đại hồng chuỗi xe con trám. . .
Nhưng khi đã có gia thất, trong đời sống khổ cực hằng ngày, họ thường hoài niệm về thời con gái còn sống dưới sự đùm bọc, yêu chiều của mẹ cha. Với họ, đây quả là một thời vàng son:
Khi xưa em ở với cha
Một năm chín yếm xót xa trong lòng
Từ khi em về nhà chồng
Chín năm một yếm, em lộn trong ra ngoài!
Khi đã có chồng, người phụ nữ Việt Nam thường ít khi nghĩ riêng về mình mà họ dồn tất cả cho chồng cho con, đúng với quan niệm “có chồng gánh vác giang sơn nhà chồng!”. Họ không còn nghĩ về bản thân mình nữa:
Chửa chồng nón thúng quai thao
Chồng rồi, nón rách quai nào thì quai.
Chửa chồng yếm thắm đeo hoa
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành!
Và nhất nữa khi đã có con, càng có nhiều con, .đời sống của họ càng ngày càng vất vả hơn và bản thân họ trông cũng thật thảm não hơn:
Gái một con trông mòn con mắt
Gái hai con con mắt liếc ngang
Ba con cổ ngẵng, răng vàng
Bốn con quần áo đi ngang khét mù
Năm con tóc rối tổ cu
Sáu con yếm tụt, váy dù vặn ngang.


Cái yếm của người phụ nữ Việt Nam có tự bao giờ không thấy sử sách ghi lại. Trong tác phẩm Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của học giả Đào Duy Anh có đoạn ghi: “Theo sách Sử Ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo gài về bên tả (tả nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu.”.
- Sử Ký là một sử phẩm bất hủ của nền văn học Trung quốc cổ đại. Tác giả là Tư Mã Thiên, một người sinh sống trong khoảng thế kỷ thứ II trước Tây Lịch.
- Văn Lang là quốc hiệu của nước ta từ thuở các vua Hùng họ Hồng Bàng trị vì tức là từ năm Nhâm Tuất (2789) đến năm Quý Mão (258) trước Tây lịch.
Căn cứ vào sự kiện được ghi trong Sử Ký và các niên biểu nêu trên thì từ hơn hai ngàn năm về trước, dân Việt ta đã biết mặc áo gài nút về phía bên trái (tả nhiệm), đến khi Nhâm Diên cai trị đất Cửu Chân mới bắt dân Việt ăn mặc theo kiểu người Tàu tức là gài nút về phía tay phải (hữu nhiệm).
Trước khi biết mặc áo gài nút về phía tray trái (tả nhiệm), giống như nhiều dân tộc sơ khai khác, người Việt sơ khai cũng đã dùng lá cây, vỏ cây hoặc da thú làm vật che thân. Họ chỉ che toàn thân khi trời giá rét. Khi trời nóng bức hoặc khi làm lụng, chắc hẳn họ chỉ che những bộ phận cần phải che kín của cơ thể (hạ bộ của phái nam, hạ bộ và nhũ hoa của phái nữ). Đến khi biết dệt vải để dùng, họ thay thế lá cây, vỏ cây hay da thú bằng những mảnh vải. Và chiếc yếm ra đời. Chiếc yếm phải ra đời trước cái áo “tả nhiệm”, chí ít cũng phải đồng thời với cái áo ấy. Vậy là cái yếm đã là vật thân thiết của người phụ nữ Việt Nam trên hai ngàn năm nay. Những chiếc yếm trắng, yếm nâu, yếm đào, yếm thắm . . . những chiếc yếm vải, yếm trúc bâu, yếm vóc, yếm nhiễu . . . đã quấn quýt với người phụ nữ Việt trên hai ngàn năm đó bỗng một hôm bị cái xú-chiêng của người phương Tây tranh giành mất địa vị. Chiếc yếm thủy chung gợi cảm đã phải từ tốn âm thầm rút lui vào bóng tối nhường chỗ cho chiếc xú-chiêng ôm ấp bộ ngực căng tròn nõn nà của người phụ nữ Việt Nam cho đến một ngày người ta không còn nhắc nhở đến cái yếm nữa. Ngày nay có nhiều phụ nữ Việt Nam không còn có thể hình dung ra hình dáng của cái yếm. Và đáng tiếc biết bao nhiêu, những chàng trai Việt không còn đêm đêm nằm mơ:

Kiếp sau đừng hóa ra người,
Hóa ra dải yếm buộc người tình nhân!

ĐÀO ĐỨC NHUẬN

27 thg 11, 2009

“Diên Hồng” Việt Kiều

Quán Chủ Phong Trần Quán

Tể Tướng An Nam vời quan án sát "Mặt Trận Tổ Quốc" (MTTQ) vào dinh nhủ rằng:
- Bọn kiều bào ở các xứ Tây Ðộc và Cờ Hoa đã dùng các kênh truyền thông ảo phá rối tình hữu nghị mười sáu chữ vàng của ta với thiên quốc như vậy mà các vị cứ bàng quan tọa thị mãi sao?
Quan Án Sát "MTTQ" sợ vàng mặt thiếu điều vãi cả ra quần, bèn sụp xuống tâu trình:

- Xin ngài an tâm, hạ quan đã có kế sách tuyệt vời , chỉ cần bỏ ra vài triệu tiền Ðô là hai kinh phẳng lặng như tờ.

- Tuyệt vời! Kế hoạch như thế nào?

- Mình mời các tên có máu mặt ở hải ngoại về cho họ ăn chơi vài bữa rồi ta khoa trương thanh thế là đã tuyển lựa được hàng ngàn trí thức, tư bản yêu nước về xây dựng đất nước rừng vàng biển bạc như vậy vừa được lòng hải ngoại vừa răn đe được bọn trí thức, tư bản phản động trong nước.

- Nhỡ bọn phản động len lỏi vào thì sao?

- Xin ngài an tâm, chúng ta đã có hai cái sàng, sàng "MTTQ" và sàng sứ quán thì bọn phản động lọt vào sao được. Người nào ta nắm chắc thuộc thành phần có cảm tình nặng hoặc đang chấm mút lợi nhuận của ta thì mình mới gọi về.

- Nhỡ có đứa ngứa miệng hỏi về chuyện bô-xít , biên giới, biển Ðông thì sao?

- Xin tể tướng bình tâm. Có cho vàng cũng không có đứa nào dám thắc mắc những chuyện bí mật quốc gia như vậy.

- Nhưng mình cũng phải có màn kịch giải đáp thắc mắc không có lại mang tiếng là chúng ta độc tài đảng trị.

- Dạ, để hạ quan xin mời thượng thư Bộ Lễ vào cho ngài phán bảo.

Vài phút sau thì quan thượng thư Tô Như Rứa ra mắt tể tướng. Viên thượng thư Bộ Lễ này nổi tiếng về chính sách trị dân bằng "Lề Phải". Thảo dân hay cấp dưới mà cầm đũa, cầm dao, cầm bút tay trái, nhìn bên trái hay chạy xe bên lề trái là bỏ tù liền. Dân chúng sợ quá không ai dám nói tới hoặc sử dụng tay trái nữa. Nhiều người ngủ với vợ cũng không dám nằm bên trái vợ. Chừng vài năm nữa là dân An Nam mang tật đi, đứng, nằm, ngồi... cứ lệch về bên phải hết.

Tể tướng vỗ trán hỏi quan thượng thư rằng:

- Thượng thư đã có danh sách phái đoàn Việt Kiều tham dự Hội Nghị Diên Hồng của ta chưa?

- Dạ, xong hết rồi. Ta có hai danh sách. Một danh sách chính thức và một danh sách giả. Danh sách chính thức là người của ta, còn danh sách giả gồm những tên phản động, mình tung lên mạng để làm hỏa mù và cũng để chúng đánh nhau cho rã đám.

- Ðộc! Ðộc thiệt. Thế danh sách thực có ai nổi tiếng không?

- Ta đã có sẵn mấy tay mình nuôi từ mấy năm nay rồi. Kẹt một cái kiếm bọn nổi tiếng ở Mỹ, ở Tây khó quá.

- Túng quá thì cứ nhét tên dâu rể của tôi vào, chúng nó là Việt kiều Mỹ cả đấy. Thế quan thượng thư đã soạn sẵn câu hỏi cho họ chưa?

- Dạ, đâu vào đấy cả rồi. Họ sẽ được học tập trước là tuyệt đối không được đụng chạm vào các vùng nhậy cảm như mất đất, mất biển, bô-xít, tham nhũng.

- Nhớ khuyến khích chúng về mở tiệm phở, quán cà-phê, khách sạn, đánh golf, gái gú, cờ bạc.

- Vâng! Mình sẽ bắt cả phái đoàn đi thăm lăng Bác, chụp hình từng người để sau này chúng không dám mở miệng nói xấu Bác nữa.

- Nhớ kêu nhiều ca sĩ nổi tiếng về bồi dưỡng tinh thần phái đoàn đấy

- Dạ, ta có đủ cả ca sĩ quốc nội lẫn quốc ngoại toàn hàng độc không đấy ạ.

- Tốt lắm! Nhớ sắp cho cặp vợ chồng ấy dẫn đầu phái đoàn để trát tro vào mặt lũ chống Cộng. Thôi thượng thư về cùng các bộ khác cứ thế tiến hành cho tốt nhé.
Sáu trăm tờ báo, mấy chục đài truyền hình, phát thanh trong nước được lệnh ngài Tô Như Rứa ra sức ca tụng phái đoàn Việt Kiều ưu tú về nước để được tai nghe mắt thấy Tổ Quốc An Nam XHCN toàn vẹn lãnh thổ, hải đảo, biển trời mở rộng tới tận Bắc Kinh, nhà nhà bô-xít đầy sân, đầy ngõ, đất nước sạch bóng tham quan...
"Ðảng ta muôn năm trường trị" để mỗi năm lại có hàng ngàn Việt Kiều được xênh xang áo mão về làng du hí của trời.

Tau chưởi

Trần vàng Sao

tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan
tau cũng có chân có tay
tau cũng có đầu có óc
có miệng có mắt

có ông bà
có cha mẹ
có vợ con có ngày sinh tháng đẻ
có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần
rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả
tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi

tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây
bây ỉ thế ỉ thần
cậy nhà cao cửa rộng
cậy tiền rương bạc đống
bây ăn tai nói ngược
ăn hô nói thừa
đòn xóc nhọn hai đầu
ngậm máu phun người
bây bứng cây sống trồng cây chết
vu oan giá hoạ
giết người không gươm không dao
đang sống bây giả đò chết
người chết bây dựng đứng cho sống
bây sâu độc thiểm phước
bây thủ đoạn gian manh
bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm
lúc như thầy tu vào hạ
lúc như con nít đói bụng đòi ăn
hai con mắt bây đứng tròng
bây bắt hết mọi người trứơc khi chết phải hô
cha mẹ bây ông nội ông ngoại bây tiên sư cố tổ
bâysống dai đời đời kiếp kiếp
phải quỳ gối cúi đầu
nghe bây nói không được cãi
phải suốt đời làm người có tội
vạn đợi đội ơn bây
đứa nào không nghe bây hớt mỏ chôn sống
thằng nào không sợ bây vằm mặt thủ tiêu
bây làm cho mọi người tránh nhau
bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng
đồ phản động
đồ chống đối
đồ không đá bàn thờ tổ tiên
đồ không biết đốt chùa thiêu Phật
thượng tổ cô bà bây
mụ cô tam đợi mười đời bây
tau xanh xương mét máu
thân tàn ma dại
rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch
mả ông bà cố tổ bây kết hết à
tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm
bây ăn chi mà ăn đoản hậu
ăn quá dã man
bây ăn tươi nuốt sống
mà miệng không dính máu
người chết bây cũng không chừa
năm năm mười năm hai mươi năm
xương chân xương tay sọ dừa vải liệm`
bây nhai bây khới bây mút
cả húp cả chan bây còn kêu van xót ruột
bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương
khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
cha mẹ cố tổ bây
hỡi cô hồn các đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây
đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây

29 tháng 6 năm 1997

26 thg 11, 2009

Thanksgiving : nói chuyện cám ơn

Lm Ansgar PhạmTĩnh, SDD

Đã từ lâu lắm rồi, có lẽ vì bị ảnh hưởng bởi cái chế độ phong kiến thời xa xưa, vì cái quan niệm nước mắt chảy xuống chứ không bao giờ nước mắt chảy lên, và bởi cái đạo lý Tam Cương: Quân-Sư-Phụ, vua là số 1, thầy giáo là số 2, và cha là số 3, cho nên nhiều người Á Châu nói chung, và khá nhiều dân Mít nhà mình nói riêng, hay có những quan niệm rất hẹp hòi về chuyện CÁM ƠN nhau (kể cả việc xin lỗi nữa). Người ta quan niệm rằng: Kẻ nhận quà phải cám ơn người cho quà. Người thọ ân phải cám ơn người gia ân. Tôi tớ phải cám ơn chủ …
Kẻ bề dưới phải cám ơn người bề trên, con cái phải cám ơn cha mẹ, trò phải cám ơn thầy, vợ phải cám ơn chồng, cháu chắt phải cám ơn ông bà, em út phải cám ơn anh chị …

Điều đó không sai. Thế nhưng nếu người ta chỉ áp dụng phương pháp tạm gọi là cám ơn một chiều tức là nhỏ phải cám ơn lớn, công nhân phải cám ơn người chủ, bề dưới phải cám ơn bề trên, người nhận phải cám ơn kẻ cho … thì có cái gì là đặc biệt đâu? Tôi và bạn được Thiên Chúa mời gọi hãy làm một cái gì đó vượt trên sự bình thường kia mà! (Lc 6:27-33).

Bạn thân mến, bất luận bạn ở cương vị nào, hay ở tuổi tác nào đi chăng nữa, tôi nghĩ, chúng mình cũng phải thường xuyên nói lên lời cám ơn với những người xung quanh. Bạn cứ nghĩ thử mà xem, khi cám ơn trẻ em, khi cám ơn người làm công, khi cám ơn bề dưới, khi cám ơn con cháu, khi cám ơn em út … thì người lớn, ông bà chủ, bề trên, ông bà cha mẹ và anh chị … họ có mất mát gì không? No! Chả mất gì cả!

Một người công nhân mà nghe ông chủ nói với mình rằng: “Tôi cám ơn anh/chị vì nhờ anh/chị lao động vất vả và cần cù, biết tiết kiệm, cho nên công ty mới có được những sản phẩm tốt, chất lượng cao, thêm nhiều khách hàng và thêm nhiều lợi nhuận …” thì người công nhân ấy sẽ không nỡ lòng nào lười biếng, hoang phí hay bê trễ trong công việc và bổn phận mà ông chủ giao phó. Trái lại, người ấy sẽ làm việc tận tụy, siêng năng và trung thành với ông chủ hơn.

Một người con mà nghe cha mẹ nói với mình rằng: “Bố mẹ cám ơn con, vì con đã học hành chăm chỉ, siêng năng và đã chịu khó hy sinh giúp đỡ bố mẹ lau nhà, hút bụi, rửa chén, đổ rác, biết tiết kiệm điện nước và thực phẩm …” thì tôi cam đoan, đứa con ấy sẽ không dám lười biếng, không dám bê trễ, cũng chẳng dám hoang phí … Trái lại, vì lời cám ơn chân tình của bố mẹ, nó sẽ siêng năng học hành hơn, sẽ vui vẻ làm việc giúp đỡ cho bố mẹ nhiều hơn nữa!

Một người bề dưới mà nghe bề trên nói với mình rằng: “Tôi cám ơn thầy/sơ vì nhờ sự can đảm, sự quảng đại dâng hiến cuộc đời cho Chúa, và nhờ sự hiện diện của thầy/sơ trong nhà dòng này, cũng như nhờ sự cầu nguyện, hy sinh hãm mình, giúp đỡ và làm việc siêng năng của thầy/sơ mà tôi cũng như các anh em/chị em trong dòng cảm thấy vui tươi và được nâng đỡ rất nhiều khi gặp những cô đơn, thử thách và những cám dỗ …” thì tôi tin rằng, khi gặp những khó khăn, hay bị thử thách, hay lúc chán nản, cô đơn trong đời sống tu trì … vị tu sĩ ấysẽ không nỡ bỏ nhà dòng ra đi, sẽ nhẫn nại, sẽ kiên vững và sẽ bền đỗ trong ơn gọi của mình.

Một người vợ mà nghe chồng nói với mình trước mặt các con rằng: “Anh và các con cám ơn em rất nhiều, vì em đã tận tâm chăm sóc cho bố con anh, em vất vả đi làm, rồi còn về lo bếp núc, để cho anh và các con có những bữa ăn ngon, nóng nảy, bổ dưỡng, em là ngườ ivợ và là người mẹ tuyệt vời nhất trên đời …” thì tôi tin chắc, gia đình ấy sẽ bền vững, cho dù có gặp sóng gió hay thử thách nào đi chăng nữa, vợ chồng họ cũng vẫn chung thuỷ và sống bên nhau cho đến trọn đời.

Giáo dân mà nghe cha sở hay cha phó thường xuyên nói với họ rằng: “Tôi chân thành cám ơn quý ông bà anh chị em, đã đến tham dự thánh lễ, đã đến làm hòa với Chúa qua bí tích giải tội, đã đến Chầu Mình Thánh Chúa, đã hy sinh công sức và tài năng … cho cộng đoàn giáo xứ này” thì tôi dám cá với bạn là, họ sẽ siêng năng đi tham dự thánh lễ, đi xưng tội, sẽ nhiệt thành trong mọi công việc, sẽ sống thánh thiện hơn, và dù cho sóng gió bão táp có xảy ra với bản thân, với giáo xứ thì những người giáo dân ấy cũng vẫn tận tâm, tận lực, và dám sống chết với giáo xứ chứ không đào ngũ hay bỏ của chạy lấy người!

Bạn thân mến, nếu bạn đồng ý với tôi rằng, khi tôi và bạn thường xuyên tỏ thái độ biết ơn nhau và nói lên những lời cám ơn với nhau, với những người dưới quyền hay với những người thấp bé hơn mình … là khi ấy bạn và tôi chẳng mất mát hay bị thiệt thòi chi cả, nhưng trái lại, còn được hưởng thêm niềm vui, sự thoải mái, hạnh phúc và rất nhiều lợi ích cả về vật chất lẫn tinh thần nữa, thì bắt đầu kể từ ngày lễ Thanksgiving năm 2009 này trở đi, bạn và tôi hãy cố gắng:

Thường xuyên nói lên lời cám ơn với người đưa thư, người công nhân đổ rác, người bỏ báo, người quét dọn đường xá, người bán hàng, cảnh sát, lính cứu hỏa, y tá, nhân viên cứu thương …
Là bậc làm cha mẹ, bạn hãy thường xuyên cám ơn con cái, tìm ra những việc mà con cái đang làm để cám ơn chúng, dù chúng chỉ hút bụi, nhặt một cọng rác, rửa một cái chén, lau bàn, giặt quần áo, rửa chén dĩa, dọn giường…
Là con cái trong gia đình, bạn hãy thường xuyên nói lên lời cám ơn với bố mẹ vì các ngài đã tần tảo hy sinh, vất vả lao động cực nhọc suốt cả đời để chăm sóc, dưỡng dục và nuôi nấng cho bạn thành nhân như ngày hôm nay.
Là linh mục, bạn hãy siêng năng nói lên lời cám ơn anh chị em giáo dân khi họ đến nhà thờ tham dự thánh lễ, đi xưng tội, lãnh nhận các phép bí tích, khi họ làm việc thiện nguyện phục vụ giáo xứ, đóng góp công của, sức lực và tài năng cho giáo xứ, và cho giáo phận…
Là giáo dân, bạn đừng tiết kiệm những lời cám ơn đối với các linh mục, các tu sĩ nam nữ, cám ơn họ vì họ đã can đảm theo Chúa, đã dám chấp nhận hy sinh sống trong đời tu trì để phục vụ Chúa, phục vụ Giáo Hội và cho tha nhân.
Là con cái của Chúa, bạn hãy thường xuyên thưa với Ngài hai tiếng cám ơn và tạ ơn, bằng cách siêng năng đi tham dự thánh lễ, bởi vì đây là một cách cám ơn đẹp nhất và trọn vẹn nhất và là kiểu cám ơn Thiên Chúa yêu thích nhất.

Tôi tin chắc rằng, nếu bạn và tôi thường xuyên nói lên những lời cám ơn với nhau; nếu chúng mình luôn luôn sống trong tâm tình cám ơn người và tạ ơn Trời, thì cuộc sống của bạn, của gia đình bạn, của dòng tu, của giáo xứ và môi trường nơi bạn sinh hoạt, học hành và làm việc… sẽ mỗi ngày đẹp hơn, ý nghĩa hơn, phong phú hơn, và tràn ngập hạnh phúc và nhiều tiếng cười hơn cho mà coi!
Bạn tin không? Thử cám ơn nhiều nhiều một chút đi rồi bạn sẽ thấy ngay!

Happy Thanksgiving!

Kính chúc bạn và gia đình của bạn vui hưởng một ngày lễ Tạ Ơn trong an bình, vui vẻ, tràn đầy những ơn lành và phúc lộc của Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Amen!

Phan bội Châu tự phán

Luật sư Nguyễn Hữu Thống

Từ đó, các sĩ phu Việt Nam nhìn rõ những sở đoản của giải pháp bạo động và vọng ngoại. Để giành lại chủ quyền, về mặt ngoại viện, Việt Nam biết trông cậy vào ai?
-Nhật Bản ư? Nhưng nước này lại quá tàn nhẫn vì còn nuôi những tham vọng vị kỷ muốn làm bá chủ Á Đông. Sau khi ký hiệp ứơc kinh tế với Pháp, chính phủ Nhật đã trục xuất Phan Bội Châu, Cường Để và 200 sinh viên trí thức Việt Nam trong phong trào Đông Du từ 1908.
-Trung Hoa ư? Nhưng từ sau cuộc Cách Mạng Tân Hợi, Trung Hoa Quốc Dân Đảng vẫn không giúp được gì cho các chiến hữu Việt Nam Quốc Dân Đảng. Hơn nữa do tệ nạn sứ quân, chính phủ Trung Hoa đã bắt giam Phan Bội Châu trong 4 năm.
-Đức ư? Nhưng quốc gia này đã thất trận trước liên minh Anh Mỹ Pháp từ 1918.
-Nga ư? Nhưng nước này lại quá hiểm độc. Họ buộc các sinh viên du học phải trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản và đấu tranh giai cấp, tiêu diệt tư sản và tiểu tư sản để phục vụ cách mạng vô sản, trái với chủ trương đoàn kết dân tộc.

Năm 1907, tại Trường Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội, Phan Chu Trinh đề ra gỉai pháp tự lực tự cường: "KHÔNG NÊN TRÔNG NGƯỜI NGOÀI, trông người ngòai là ngu. KHÔNG NÊN BAO ĐỘNG, bạo động thì chết. Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào, KHÔNG GÌ BẰNG HỌC". Học để khai dân trí, hưng dân khí, thực nhân tài và hậu dân sinh.

Thấm nhuần tư tưởng tự do dân chủ phóng khoáng của Montesquieu, Rousseau, Lương Khải Siêu, và Khang Hữu Vi, Phan Chu Trinh đề ra chính sách đổi mới chủ trương hợp tác với nhà nước bảo hộ Pháp để cầu tiến bộ (ỷ Pháp cầu tiến bộ). Năm 1906, ông gửi Toàn Quyền Đông Dương bản "Đầu Pháp-Chính-Phủ Thư" (đầu có nghĩa là gửi), yêu cầu chính phủ thực thi những cải cách thiết thực cho dân chúng.

Sau đó ông ra Hà Nội thuyết trình về chủ nghĩa Duy Tân tại Trường Đông Kinh Nghĩa Thục do các Tân Đảng Bắc Hà thành lập. Ông hô hào quốc dân bỏ cũ đổi mới, phát huy tinh thần tự lực tự cường, tránh bạo động và không vọng ngoại. Chống chế độ quân chủ phong kiến, ông đề cao chế độ dân chủ. Cùng với các đồng chí Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, ông phản đối chính sách ngu dân của Triều Đình Huế. Ông đề xướng phong trào Duy Tân, mở trường học, lập hội buôn, cắt tóc ngắn, mặc âu phục bằng vải nội hóa. Triều đình Huế coi ông là phần tử nguy hiểm cần phải loại trừ.

Năm 1908 nhân phong trào nông dân đòi giảm sưu thuế tại Quảng Nam, nơi sinh quán Phan Chu Trinh, triều đình truy tố ông về tội "xúi dân làm loạn"và tuyên án trảm quyết. Trong năm này họ đã trảm quyết Trần Quý Cáp tại Nha Trang. Nhờ sự can thiệp tích cực của Hội Nhân Quyền và Đảng Xã Hội Pháp, triều đình Huế phải cải án tử hình thành khổ sai chung thân và đầy ông ra Côn Đảo. Ba năm sau, Hội Nhân Quyền và Đảng Xã Hội Pháp lại vận động với Thủ Tướng Pháp xin ân xá và cấp giấy phép cho Phan Chu Trinh sang Pháp du học cùng với con trai là Phan Chu Dật.

Trước sau Phan Chu Trinh vẫn trung thành với chính sách canh tân, hợp tác và thương nghị với Pháp.

Tại Đông Kinh năm 1906, sau khi cùng Phan Bội Châu tham quan các trường học và khảo sát chính sách giáo dục của Nhật Bản, Phan Chu Trinh tâm sự với Phan Bội Châu:

"Trình độ dân Nhật Bản như thế mà trình độ dân ta như thế, không nô lệ sao được! Được bấy nhiêu sinh viên du học Nhật Bản là sự nghiệp lớn của ông. Từ nay ông nên lưu Đông yên nghỉ, chăm việc làm sách, bất tất nói bài Pháp làm gì, chỉ nên đề xướng dân quyền. Dân đã biết có quyền thì mọi việc khác có thể tính lần được. Ông hãy hết sức trân trọng. Quốc dân chỉ kỳ vọng nơi mình ông. Kỳ Ngoại Hầu không cần gì đâu"

-- (Phan Bội Châu Tự Phán).

Cuộc Đông Du nặng về giáo dục, khai dân trí, hưng dân khí, thực nhân tài. Giáo dục vụ về xây dựng không đi với bạo động. Đàm Kỳ Sinh khi qua Nhật cũng đóan biết giáo dục không đi với bạo động. Ông thường than thở với Phan Bội Châu: "công việc chúng ta làm, liệu có nên được chăng?" Cụ Phan viết; "tôi nhận kiến thức ấy, tôi thua ông xa" (Tự Phán).

Sau Cách Mạng Tân Hợi, Phan Bội Châu đến gặp vị bí thư của Tôn Trung Sơn tại Nam Kinh và Đô Đốc Trần Kỳ Mỹ tại Thượng Hải để nhờ yểm trợ cuộc cách mạng "bạo động kịch liệt". Nhưng các chiến hữu Trung Hoa chỉ khuyên ông hãy tuyển chọn các sinh viên nhập các học đường Trung Hoa để chứa sẵn nhân tài, chờ cơ hội. Họ không tán thành đường lối bạo động "bảo rằng nên theo giáo dục, hãy bắt tay vào, hễ quốc dân không được giáo dục thì chẳng bao giờ bạo động mà công hiệu".

Sau những thất bại đau thương do bạo động, Phan Bội Châu tự phán:

"Than ôi! Việc đời quá chừng trắc trở, cơ trời quá khó đo lường, hy sinh oan đồng bào mà không có kết quả gì, thiệt là đại tội cực ác của tôi, mà tôi phải thiên vàn thừa nhận.

"Vứt đầu sọ chí sĩ, hao huyết tủy nghĩa dân không biết bao nhiêu, mà những điều sở kỷ chẳng mảy may gì như ý! Nếu bảo tôi Nam hồi lần này chỉ có tội nặng mà không công gì, tôi cũng hết lời chối cãi!"

"Mục đích của tôi là thừa cơ hội đảng cách mạng Tàu thành công, mượn tay người Tàu xoay chuyển một cuộc mới khác. Tuy nhiên sau việc mà nghĩ lại thì kế họach này cũng ngông quá. Vì ở trong không có một tổ chức thực lực gì, chỉ trông chờ ngọai lực, điều gì cũng cậy vào lưng người. Xưa nay Đông Tây các nước, không một đảng cách mạng nào chỉ là đoàn ăn mày các nước mà làm nên công được." (Tự Phán).


Sau Thế Chiến Thứ Nhất, Phan Bội Châu xét rõ tình thế thấy rằng Việt Nam không thể kỳ vọng vào sự gíup đỡ của Tàu, vì Tàu còn tự cứu không xong. Cũng không thể trông đợi gì ở Nhật, vì Nhật tâm địa gian hiểm, chỉ vụ lợi kỷ mà thôi. Rốt cuộc Phan Bội Châu cũng đồng ý với Phan Chu Trinh về chủ trương hợp tác và thương nghị với Pháp khi viết "Pháp Việt Đề Huề Chính Kiến Thư" (1918)

Trước đó 12 năm, năm 1906 Phan Chu Trinh cũng đã gởi Chính Phủ bảo hộ bản "Đầu Pháp Chính Phủ Thư".

Như vậy là trong những năm 1906 và 1918, Phan Chu Trinh, và Phan Bội Châu đã công khai đề xướng sách lược đấu tranh công khai ôn hòa, bất bạo động, chủ trương CANH TÂN, HƠP TÁC và THƯƠNG NGHI với Pháp để đòi tự trị trong giai đọan đầu và độc lập trong giai đoạn sau.

Chúng ta biết rằng từ thế kỷ 18, Pháp là nước có những truyền thống cách mạng về công lý, tự do, bình đẳng, bác ái, tiến bộ nhất trong lịch sử lòai người. Tại Pháp, các đảng Xã Hội cũng chủ trương canh tân và giải phóng thuộc địa đồng thời với giải phóng lao động. Năm 1936 Chính Phủ Xã Hội Léon Blum đã trả tự trị cho Syrie và Liban, và 10 năm sau, năm 1946 đã trả độc lập cho hai quốc gia này.
LS. Nguyễn Hữu Thống

25 thg 11, 2009

Bột nghệ : khả năng phòng trị nhiều chứng bệnh.

Nguyễn Việt Việt

Ở Ấn Độ, bột củ nghệ được tôn kính là " dạng bột linh thiêng", loại gia vị màu vàng vạn thọ này đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ để điều trị vết thương, nhiễm trùng và các vấn đề sức khỏe khác. Trong những năm gần đây, nghiên cứu các quyền hạn chữa bệnh của thành phần chính của nghệ, curcumin, đã được gia tăng,nó được xem như có hàng loại tính chât trị liệu đặc biệt cho cơ thể: chất chống oxy hoá, chống ung thư, thuốc kháng sinh, kháng virus và các dược tính khác bồi bổ cho cơ thể.

Nhưng cho đến nay, không ai biết được dược tính chính xác của nghệ tức chất curcumin đã hoạt động như thế nàobên trong cơ thể.

Giờ đây, Đại học Michigan, các nhà nghiên cứu dưới sự điều động của Ayyalusamy Ramamoorthy đã phát hiện ra rằng chất curcumin trong bột nghệ đã giữ vai trò như một người tuân thủ,theo luật, chèn ép chính nó vào màng tế bào và làm cho tế bào ổn định hơn, một chuyển dịch để cải thiện , củng cố cho tế bào , một sự đề kháng đối với nhiễm trùng và bệnh ác tính.

"Màng tế bào chuyển từ trạng thái bất ổn và dễ dải sang trạng thái có trật tự và có sự tuân thủ hơn để các thông tin lưu thông qua nó có thể được kiểm soát, "Ramamoorthy , một giáo sư hóa học và lý sinh, cho biết như vậy.

Các nhà khoa học đã suy đoán rằng curcumin trong bột nghệ hổ trợ sức khoẻ bằng cách tương tác trực tiếp với màng tế bào, nhưng những tìm kiếm thách thức khái niệm đó.
Thay vào đó, các nhà nghiên cứu cho thấy curcumin quy định các hành động của màng tế một cách gián tiếp, bằng cách thay đổi tính chất vật lý của màng tế bào.

Nhóm của Ramamoorthy cộng tác với giáo sư hóa học Masato Koreeda và nhà nghiên cứu của Viện Khoa học Jason Gestwicki để nghiên cứu một loạt các tính chất của curcumin, một số trong đó có nâng cao tiềm năng. "Chúng tôi muốn xem curcumin các tính chất của nghệ tương tác với màng tế bào, để xem sự tương tác đó giống như những gì chúng tôi đã quan sát trong các nghiên cứu hiện nay, "Ramamoorthy nói " Những nghiên cứu so sánh như vậy có thể dẫn đến sự phát triển của các hợp chất mạnh để xử lý
nhiễm trùng và các bệnh khác. "

Trích dịch từ dailyscience

Ấn Ðộ: Ðồng minh bị bỏ quên

Ngô Nhân Dụng

Thủ Tướng Manmohan Singh có nhiều lý do để nghi ngại trước khi đặt chân đến Washington gặp Tổng Thống Barack Obama. Chín tháng kể từ khi nhậm chức, ông Obama hầu như bỏ quên Ấn Ðộ, sau khi chính phủ Gorges W. Bush đã mở ra một giai đoạn ngoại giao mới đầy hứa hẹn.

Ðiều người Ấn Ðộ hận nhất là trong chuyến công du vừa qua sang Á Châu, ông Obama vẫn tiếp tục “quên” Ấn Ðộ. Tại Tokyo, ông tổng thống Mỹ nói đến vai trò quan trọng tương lai của Á Châu, nhưng trong cả bài diễn văn ông không nói đến chữ “India” một lần nào. Khi ông nhắc đến chữ này trong bản thông cáo chung với ông Hồ Cẩm Ðào thì lại chỉ làm cho Ấn Ðộ giận thêm. Vì ông chỉ nói đến tên nước Ấn Ðộ khi khuyến khích Trung Quốc hãy đóng vai tích cực hơn ở Á Châu, trong đó có việc trung gian hòa giải giữa Ấn Ðộ và Pakistan! Nói vậy khiến người Ấn Ðộ bực mình hai lần: Thứ nhất, vẫn ghép Ấn Ðộ vào cùng hàng với Pakistan; và thứ hai, ông Obama coi Trung Quốc là một cường quốc thế giới, còn Ấn Ðộ vẫn chỉ là một “vấn đề địa phương.”

Có lẽ để bù lại những sơ xuất ngoại giao đó, Tổng Thống Obama đã đề cao Thủ Tướng Singh bằng một buổi “quốc yến” (state dinner), một hình thức tiếp đón long trọng nhất mà ông chưa khoản đãi một quốc khách nào từ khi nhậm chức. Và ông Obama đã tuyên bố những lời có thể làm ấm lòng vị quý khách cũng như người Ấn Ðộ ở nước họ. Tổng thống Mỹ nói rằng “Hai quốc gia chúng ta là những đồng minh tự nhiên” (natuaral allies), một cách nhắc nhở rằng Ấn Ðộ và Mỹ là hai nước đông dân nhất thế giới cùng theo thể chế tự do dân chủ- trong khi dân Trung Quốc vẫn sống trong một chế độ độc tài đảng trị. Ông cũng đề cao mối liên hệ giữa hai nước như là “mối bang giao quyết định của thế kỷ 21” để cân bằng với những lời hoa mỹ đã dành cho Trung Quốc trong tuần trước!

Năm 2005, Ấn Ðộ và Mỹ cùng bước sang một giai đoạn bang giao mới khi Thủ Tướng Singh sang Mỹ, cùng Tổng Thống Bush tuyên bố hai nước sẽ bắt đầu hợp tác về kỹ thuật nguyên tử, chấm dứt lệnh cấm đã có từ năm 1998 khi Ấn Ðộ thử bom nguyên tử lần sau cùng. Sau đó bản hiệp ước hợp tác đã được ký kết nhưng trong hai năm nay vẫn chưa tiến được thêm tới những bước cụ thể. Ông Sing đã nhắc nhở, khi vừa bước chân đến Mỹ, là trong chuyến thăm viếng năm nay hai nước phải đạt được những thỏa thuận về chi tiết, trong đó phải vượt qua những giới hạn về trao đổi hiểu biết kỹ thuật nguyên tử mà phía Mỹ còn ngần ngại. Nhưng ông Singh hiểu hệ thống vận hành của một chế độ dân chủ cho nên đã trực tiếp nói với giới doanh nghiệp Mỹ về những cơ hội khi họ được phép đem kỹ thuật nguyên tử sang phát triển ở Ấn Ðộ. Nên biết, những nhà máy điện nguyên tử loại mới nhất của công ty General Electrics đã được thiết trí ở Ấn Ðộ vào năm ngoái, dù chưa đem dùng ở Mỹ. Ông Singh cũng lên tiếng mời các công ty Mỹ qua Ấn Ðộ tham dự vào các hoạt động, từ năng lượng, đến hạ tầng cơ sở và giao thông vận tải. Ông biết khích lệ các doanh nghiệp Mỹ tạo thêm áp lực trên chính phủ của họ, vì quyền lợi Ấn Ðộ! Mọi người chờ đợi hai chính phủ sẽ ký một bản thỏa thuận về vấn đề an toàn đối với kỹ thuật nguyên tử, một trở ngại khiến việc cộng tác còn giậm chân tại chỗ.

Ông Obama nhân dịp này cũng nhấn mạnh đến mối quan tâm chung của hai chính phủ về việc chống khủng bố toàn cầu, đặc biệt là tại Afghanistan, một nước láng giềng mà Ấn Ðộ đứng hàng thứ tư trong các quốc gia viện trợ. Ông cũng đề cao mối giao thương giữa hai nước, nhắc lại rằng Mỹ đứng đầu trong số các nước bạn hàng trao đổi thương mại với Ấn Ðộ, gia tăng liên lạc sẽ giúp cả hai nước tăng thêm số công việc làm và cùng sớm thoát ra khỏi cơn khủng hoảng kinh tế. Nhưng muốn người Ấn Ðộ tin tưởng và đạt được những thành quả cụ thể, ông Obama cần nói những lời nếu chưa phải là làm những hành động thân thiện hơn.

Ðể kêu gọi các doanh nhân Mỹ, Thủ Tướng Singh đã nhấn mạnh tới tài nguyên lớn nhất của Ấn Ðộ là “nhân lực hùng hậu.” Mỗi năm Ấn Ðộ sản xuất khoảng 350 ngàn kỹ sư (so với 70,000 ở Mỹ) mà các nhà nghiên cứu coi là 25% đủ tiêu chuẩn làm việc như các kỹ sư Mỹ (trong khi chỉ có 10% các kỹ sư tốt nghiệp ở Trung Quốc đạt được tiêu chuẩn này). Ông nói thêm rằng dân số Ấn Ðộ là một ưu điểm, vì đây là một nước với số người trẻ rất đông “trong khi ở các nước khác người già càng ngày càng nhiều hơn.” Ðây cũng là một cách so sánh Ấn Ðộ và Trung Hoa! Hiện nay hơn 50% trong số một tỷ mốt người Ấn Ðộ thuộc lớp tuổi từ 20 trở xuống. Một hấp dẫn khác của thị trường Ấn Ðộ với các công ty Mỹ là chính sách cởi mở trong nhiều lãnh vực, như ông Singh nêu ra, chính phủ Ấn đã chấp nhận các công ty công nghiệp quốc phòng được phép có 26% vốn ngoại quốc đầu tư. Một hành động cởi mở khác của Ấn Ðộ đối với Mỹ là việc thành lập một ủy ban giáo dục Mỹ-Ấn Ðộ, chú trọng đến bậc đại học. Hiện nay nước có nhiều du học sinh nhất ở Mỹ là Ấn Ðộ, với 105,000 sinh viên.

Người Mỹ cũng biết những ưu điểm của Ấn Ðộ là thành phần dân chúng trẻ, nhân lực khả dụng có trình độ kỹ thuật cao, nhưng quan trọng nhất là nước này theo chế độ tự do dân chủ, với hệ thống tư pháp có truyền thống tiến bộ làm nền tảng cho kinh tế thị trường. Ấn Ðộ có thể là một mô hình làm kiểu mẫu cho các quốc gia đang còn nghèo trên thế giới. Khi so sánh Ấn Ðộ với Trung Quốc người ta có thể nghĩ rằng Ấn Ðộ bị chậm chân vì sống dưới chế độ dân chủ, trong khi Trung Hoa theo đường lối độc tài nên đi nhanh hơn. Ðây là một lối nhìn thiển cận. Giáo Sư Hoàng Á Sinh (Yasheng Huang???) thuộc trường Quản trị Sloan Ðại học MIT đã so sánh sự phát triển kinh tế của hai nước Ấn Ðộ và Trung Hoa và thấy rằng tương lai Ấn Ðộ có những ưu điểm hơn Trung Quốc mặc dù trong hiện tại thì Ấn Ðộ còn đi sau về trình độ cũng như tốc độ phát triển (Ðây là một đề tài sẽ được mục này đề cập trong những ngày sắp tới).

Ðiều đáng ghi nhận là hai nước Mỹ và Ấn Ðộ đều theo chế độ dân chủ với những bản hiến pháp vững bền và ổn định nhất. Với những giá trị cùng chia sẻ như tôn trọng nhân quyền, tư pháp độc lập, giới công chức đứng ngoài chính trị, báo chí tự do, tôn giáo tự do, vân vân, hai nước có nhiều cơ hội hợp tác chặt chẽ hơn trong tương lai.

Ấn Ðộ chỉ thực sự theo kinh tế thị trường từ sau năm 1990, mà Thủ Tướng Sandar Monmohan Singh là một người khởi xướng khi ông làm bộ trưởng tài chánh. Từ đó liên lạc kinh tế giữa hai nước đã tiến rất nhanh. Giao thương giữa hai nước chỉ đạt tới con số 60 tỷ Mỹ kim một năm, nhưng so với năm 1990 thì đã tăng lên gấp 7 lần. Hai lãnh vực mà các công ty Mỹ sẽ gia tăng đầu tư vào Ấn Ðộ là xây dựng hạ tầng cơ sở và nền kinh tế tri thức, từ tin học, năng lượng sạch đến dược phẩm dùng sinh học, vì Ấn Ðộ có một đội ngũ công nhân trí óc rất tốt.

Bang giao giữa Mỹ và Ấn Ðộ cũng đang tiến nhanh trong lãnh vực hợp tác quân sự. Hai nước đã tổ chức một cuộc thao diễn huấn luyện chung trong hai tuần, vào cuối Tháng Mười 2009 vừa qua, với sự phối hợp của xe thiết giáp, xe chiến đấu và trực thăng. Ðây là một cuộc thao diễn lớn nhất của Ấn Ðộ với quân đội một nước khác, và đây là lần thứ năm của cuộc tập trận hàng năm của quân đội hai quốc gia. Ngoài ra, quân đội Ấn Ðộ đã gửi người sang huấn luyện tại Alaska, Hawaii và quân đội Mỹ đã sang Ấn Ðộ để được huấn luyện về chiến tranh rừng rú, chống nổi loạn và chống khủng bố. Hải quân Ấn Ðộ và Mỹ cũng dự những cuộc thao diễn chung hàng năm trong bốn năm qua. Một cuộc thao diễn chung khác mang tên Malabar được tổ chức mỗi năm với sự tham dự của các hàng không mẫu hạm và tầu đổ bộ của thủy quân lục chiến; vào Tháng Tư năm nay Nhật Bản đã được mời tham dự.

Trên mặt kinh tế, các nước Á Châu cũng gia tăng cộng tác với Ấn Ðộ vì mối lo ngại chung đối với Trung Hoa. Hầu hết tiền đầu tư vào Ấn Ðộ đến từ Á Ðông. Số đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Ấn Ðộ đã vượt lên cao hơn số đầu tư vào Trung Quốc và sẽ tiếp tục trong thập niên sắp tới, theo phân tích của Ngân Hàng Hợp Tác Phát Triển Quốc Tế Nhật Bản. Hơn 30% số viện trợ của Nhật Bản được đưa qua Ấn Ðộ. Các công ty điện tử và tin học Nam Hàn cũng vào Ấn Ðộ để cạnh tranh với các công ty Mỹ. Công ty LG quảng cáo bằng 12 thứ tiếng trong thị trường Ấn Ðộ.

Cuộc viếng thăm của Thủ Tướng Manmohan Singh sẽ “đánh thức” chính phủ Obama về mặt ngoại giao. Thay vì bị ám ảnh về vai trò Trung Quốc ở Á Châu và trên thế giới, chính phủ Mỹ cần phải hợp tác với nước “đồng minh tự nhiên” của mình hơn nữa. Trong 9 tháng qua ông Obama đã bỏ phí những cơ hội mà chính phủ Bush đã mở ra trong cuộc bang giao với Ấn Ðộ. Bây giờ là lúc phải bước nhanh hơn để bù lại. Ngày mai sẽ là kỷ niệm một năm ngày thành phố Mumbai bị khủng bố tấn công. Ông Obama sẽ không mất gì hết nếu nhân dịp này kêu gọi chính phủ Pakistan sớm đưa những tay tình nghi chủ mưu vụ đó ra xét xử, hoặc dẫn độ họ như chính phủ Ấn Ðộ vẫn yêu cầu. Mạnh bạo hơn, ông Obama có thể lên tiếng về việc cải tổ Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Hiện nay chỉ có 5 quốc gia thành viên thường trực của hội đồng này, trong đó có Trung Quốc. Các nước khác như Ấn Ðộ, Nhật Bản, Ðức và Brazil đã vận động để được tham dự vào câu lạc bộ đó. Các quốc gia đó xứng đáng được đứng ngang hàng với Pháp, Anh, Ðức, Mỹ và Trung Quốc. Chỉ nói một câu, dân chúng tất cả các nước trên sẽ hoan nghênh nước Mỹ. Họ thấy khẩu hiệu “Thay đổi” không chỉ là lời nói suông mà còn được áp dụng trên trường bang giao quốc tế.

12 THÁNG ANH ĐI