23 thg 3, 2010

Nga hạ thủy khinh hạm Gepard thứ 2 cho VN

Khinh hạm Gepard 3.9 giống loại Việt Nam mua của Nga.

MOSCOW (TH) - Công ty đóng tàu thủy của Nga ở Zelenodolsk loan báo họ hạ thủy hôm Thứ Ba, 16 tháng 3, 2010, chiếc khinh hạm thứ hai hạng Gepard tại công ty đóng tàu đặt tại tiểu bang Tatarstan, theo bản tin của hãng tin RIA Novosti.

Việt Nam đặt mua 2 chiếc khinh hạm Gepard 3.9 từ năm 2006, dự trù tiếp nhận chiếc đầu khoảng tháng 10 năm nay và chiếc sau vào cuối năm.

Chiếc Gepard đầu đã được hạ thủy chạy thử từ tháng 12, 2009, theo tin của đài truyền hình quân đội Nga Zvezda hồi đó. Tốn phí đóng hai tàu này không được cả hai bên loan báo nhưng giới chuyên viên quân sự phỏng định khoảng 350 triệu USD.

Về chi tiết kỹ thuật RIA Novosti nói các khu trục hạm loại nhỏ Gepard 3.9 có trọng tải 2,000 tấn, dài 102 mét, vận tốc tối đa 23 hải lý/giờ, thủy thủ đoàn 103 người với phạm vi hoạt động 5,000 dặm.

Tàu được trang bị một hệ thống hỏa tiễn chống hạm Uran-E, một khẩu đại bác 76.2mm, một hệ thống đại bác phòng không Palma, hai đại liên 30mm, các ống phóng thủy lôi. Sau đuôi có chỗ cho một trực thăng.

Những năm gần đây, Hà Nội mua sắm trang bị thêm cho lực lượng Hải Quân yếu kém một số tàu chiến và tàu ngầm trong kế hoạch hiện đại hóa binh chủng này một cách chậm chạp.

Cho tới nay, lực lượng Hải Quân Việt Nam chỉ có một số nhỏ tiểu hạm thích hợp cho các chuyến tuần tiễu hay hộ tống duyên hải. Hải Quân Việt Nam hiện có 3 chiếc khinh hạm Petya II trong tải mỗi chiếc 1077 tấn, 3 chiếc Petya III trọng tải mỗi chiếc 1040 tấn, 8 tàu hộ tống trang bị hỏa tiễn Tarantul mỗi chiếc trọng tải 455 tấn trang bị hỏa tiễn, bên cạnh 18 tàu tuần nhỏ trọng tải trên dưới 250 tấn mỗi chiếc. Còn 8 chiếc Tarantul nữa nghe nói cũng được chuyển giao dần dần cho Hà Nội.

Khi được chuyển giao, hai chiếc Gepard 3.9 sẽ là lực lượng nòng cốt của Hải Quân Việt Nam. Những tàu này có khả năng tác chiến chống hạm và tàu ngầm và cả các mục tiêu trên không.

Cuối năm ngoái, Hà Nội cũng đã đặt mua 6 chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga mà chiếc đầu tiên có thể được giao vào năm tới và sau đó mỗi năm nhận thêm một chiếc.

Cũng trong dịp ký hợp đồng mua 6 tàu ngầm, tin tức từ báo Nga cho thấy Hà Nội thảo luận để mua thêm một số chiến đấu cơ đa năng Sukhoi SUMK2 ngoài 8 chiếc đặt mua một năm trước đó.

Hồi tháng 2, 2010, RIA Novosti cho hay Việt Nam trở thành một trong những khách hàng quan trọng nhất về mua sắm trang bị quân sự của Nga. Số tiền mua 6 tàu ngầm lên đến 4 tỉ USD vì cộng thêm cả xây dựng và trang bị cho căn cứ chỉ huy tác chiến tàu ngầm ở Cam Ranh, thay vì chỉ có 2 tỉ USD như tin tức trước đây.

Chiến hạm Gepard 3.9 được mô tả, theo báo Izvestia, được sản xuất với kỹ thuật tránh Radar phát hiện và có 10 ngăn không thấm nước, phòng chống khả năng nước vào từng phần của tàu. Ngay cả khi 2 ngăn bị ngập nước, tàu vẫn không bị chìm và còn khả năng tác chiến.

Tin tức của đài BBC hồi tháng 12, 2009 nói rằng có thể Việt Nam tìm cách đóng lấy loại tàu này theo sự chuyển giao kỹ thuật của Nga.

22 thg 3, 2010

Phép màu giá bao nhiêu?

Một cô bé tám tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền. Chỉ có một cuộc phẫu thuật rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, và cha mẹ em không tìm ra ai để vay tiền. Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn vì họ không đủ khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.

Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”

Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”

- Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.

- Em cháu tên Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà bố cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?

- Ở đây không bán phép màu, cháu à. Chú rất tiếc. – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm thông với cô bé.

- Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”

- Cháu cũng không biết nữa. – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. – Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được phẫu thuật, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.

- Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”

Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu” .

Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa bé, và lòng tốt của người bác sĩ.

Vâng! Niềm tin, sự chân thành và lòng trắc ẩn của con người có thể khiến phép màu xảy ra!

Cái thế lực của nhà văn hào

Phan Khôi

Một vị hoàng đế hay là một chánh phủ có thế lực lớn đã đành, một nhà văn hào đứng bực(*) thì lại cũng có thế lực đối ngang với cái thế lực trên kia. Mà một đôi khi hai đàng gặp nhau, cái thế lực của hoàng đế hay của chánh phủ lại phải chịu sút cái thế lực của nhà văn hào, sự đó không phải là sự xưa nay chưa hề thấy.

Nếu vậy thì cái câu "Một mảnh giấy hơn mười vạn binh" chẳng phải là câu nói ngoa; mà chị em bạn gái ta nghĩ rằng: "Chẳng ham ruộng cả ao liền, ham vì cái bút cái nghiên anh đồ" cũng không phải là nghĩ bậy.

Nói thật không phải bỡn: cái ngọn bút của nhà văn hào đứng bực có thể chấp cả muôn binh ngàn tướng, tàu đồng súng sắt, lại chấp cả những thứ pháp luật nặng nề kia đặt ra để mà áp chế thiên hạ nữa.

Trong bao nhiêu vị văn hào trong thế giới, ta hẳn kể ra đây một vị ở nước Nga, là ông Tolstoy, mà ta quen đọc theo chữ Tàu là "Thác-nhĩ-tư-thái".

Ông Tolstoy sanh năm 1828, mất năm 1910, là một nhà văn học có tiếng nhứt ở nước Nga. Thuở nhỏ ông đi học trường đại học Kazan, rồi có đi lính một độ, sau về ở ẩn tại làng kia gần thành Moscou, chăm một việc học hành và làm sách rất nhiều. Ông nổi tiếng về thi ca và tiểu thuyết, mỗi lần bài của ông ra, người ta hay tranh nhau mà đọc. Ông chủ trương cái thuyết xã hội cải lương và tôn giáo thần bí, cố đem những cái lẽ tự do, bình đẳng mà rót vào trong đám óc bình dân. Ông lại là một nhà thực hành cái chủ nghĩa xã hội, ở nhà tranh vách đất, làm ruộng lấy mà ăn. Những sách của ông không hề giữ bản quyền, nói rằng: ấy là một vật chung của thế gian, mình không thể đem làm của riêng mình được.

Ông Tolstoy cũng phản đối nhà vua, phản đối nhà tư bổn, vì cớ ấy đã có hai lần bị chánh phủ bắt, song xét ra ông chỉ nói mà thôi, chớ không có làm việc gì phạm tội cả, nên được thả về............(**)

Sách vở của ông Tolstoy có nhiều chỗ nói bạo lắm, thử dịch sơ ra đây một đoạn mà nghe. Trong một cuốn sách kia, ông có tỏ ý mình về sự bỏ kinh đô về ở nhà quê mà rằng:

"Các chỗ đô hội lớn trong thế giới như Ba-lê, Luân-đôn phồn thạnh đến nỗi nào, chẳng cần phải nói. Tức như hai kinh đô cũ và mới (Moscou và Pétrograd) của nước Nga gần đây cũng đã thấy phát đạt mỗi ngày một hơn. Những lâu đài cung điện của nhà vua nguy nga đồ sộ là dường nào, gấm mây trăm thức, rực rỡ vàng son, đem cung thất của đế vương đời xưa mà sánh nhau, thật không thấm vào đâu cả. Người ta đến chơi đấy ai chẳng ngước mặt khen thầm, cho rằng nước Nga là nước lớn, xem đây đủ biết dân tộc Tư-lạp-phu (Slave) là hùng cường? Nào ngờ đâu! đó chỉ là cái bề ngoài mà thôi; còn nhân dân trong cả nước, chẳng biết bao nhiêu người khổ não phiền hà dưới cái oai chuyên chế, hằng ngày đổ mồ hôi, toát nước mắt lo mà cuốc bẫm cày sâu, có khi cả năm không hề được nghỉ, nhưng mà nào có ai biết tới! Ôi! những sự trang hoàng rực rỡ ở chốn kinh đô nầy có phải là bởi mồ hôi nước mắt ấy mà làm nên chăng? Làm sao kẻ ở dưng thì ngồi đó mà ăn chơi, còn kẻ khó nhọc lại không được hưởng? Trời sanh người ta ra, ai cũng như nấy, có ai lại hơn kém gì ai? Kẻ có quyền lực kia chẳng phải có ba đầu sáu tay hay là có phép lạ chước mầu gì, chỉ nhờ cái sức mạnh hơn người, rồi đang tay mà cướp bóc. Chúng lại dám khoát lên rằng: "Hỡi bay là lũ dân hèn, phải ra sức làm lụng để cung phụng chúng ta là con cưng của Trời đây! " Vậy ra đầy tớ trở khinh thầy, kẻ trộm trở ăn hiếp gia chủ, thì ai mà chẳng căm tức được?

"Mà hay! Cái chốn tòa ngang dãy dọc, võng lọng nghinh ngang là chốn kinh đô nầy, mà té ra là chỗ ổ ăn trộm đây! Chúng nó tụ họp trăm ngàn lu la, rồi bợ đỡ một vài thằng đại ác lên làm lớn, mài nanh rỉa vuốt, hút máu gặm xương, thì loài người còn có mấy nỗi mà chẳng tiêu mòn? ..............(**)

Cho nên người ta thường nói kinh sư là nơi "thủ thiện", mà ta thì bảo kinh sư là nơi "thủ ác". Bởi vậy ta chán không muốn ở đó nữa, mà về ở nơi thôn quê nầy để lánh chốn bụi hồng mà giữ lấy tấm thân sạch sẽ. May ra có ngày trời kia ngó lại, một trận gió đông quét sạch cái chỗ trần hiêu ô uế ấy, há chẳng sướng lắm thay! "

Một đoạn dịch đó, xin độc giả đừng kể văn chương, chỉ xem sơ qua cho biết cái tư tưởng của ông Tolstoy là thế nào.

Ông Tolstoy đã đem cái tư tưởng cách mạng sú(***) vào thơ văn mà sún(****) cho quốc dân nước Nga, nhứt là đám học sanh, làm cho hết thảy đều nẩy ra cái mầm cách mạng. Bấy giờ những tay thủ cựu trong Giáo hội thấy thế thì cho ông Tolstoy là bậy mà bỏ ông ra ngoài giáo hội. Những học sanh ở kinh đô nước Nga có đến vài ba vạn người, bình nhựt họ đã đọc sách của ông và kính phục ông lắm, gặp việc nầy, tài nào chịu được, họ bèn đứng phắt cả dậy, gây ra việc rất to, để cho chúng ta nhơn đó thấy cái thế lực của nhà văn hào.

Việc nầy chẳng xưa mấy, mới xảy ra cách 27 năm nay, nghĩa là vào năm 1901.

Bấy giờ mấy vạn học sanh đứng ra kêu oan cho ông Tolstoy mà kiện đến hoàng đế nước Nga. Hoàng đế không cho việc học sanh làm đó là phải, thì hạ lịnh cấm không cho ồn. Bọn học sanh tính bề không thể lấy lý sự mà nói được, ngày 17 tháng 3 năm ấy bèn nổi lên, quân cách mạng cờ xí toàn dùng sắc đỏ cả để chỉ nghĩa rằng phải đổ máu. Họ phát hành ra một bài hịch rất dài, kể tội ác của chánh phủ và nói quyết rằng bọn học sanh phải liều mình đổ máu để trừ khử hoàng tộc đi và lấy lại quyền tự do. Liền ngày đó, quân chánh phủ và quân học sanh hai bên giao chiến cùng nhau. Rút lại, bên học sanh vì ít người và không đủ khí giới thì phải thua to, chết mất hơn một ngàn người; còn bên chánh phủ cũng bị chết tròm trèm số ấy, hội hồng thập tự phải đem lính ra cứu, như khi hai cường quốc đánh nhau vậy.

Học sanh quân dẫu bị thua song cũng còn thâu góp nhau lại, tính bề quyết chiến với chánh phủ trận nữa. Họ trốn dấu khắp mọi nơi, chánh phủ không thể bắt giết hết cả được, thành ra việc càng thêm khó xong. Ngày 22 ông hội trưởng của giáo hội bị học sanh ném trái phá mà chết, lại các quan thượng thơ đều có được thơ hăm dọa của bọn học sanh, tức chẳng đã vua Ni-cô-la II bèn mở cuộc hội nghị trong cung, rồi xóa cái nghị bỏ ông Tolstoy ra ngoài giáo hội đi, lại cho học sanh khỏi đi lính và thay đổi chế độ trường đại học. Khi ấy học sanh quân mới chịu tan. Tuy vậy, kinh đô Pétrograd cũng đã rối loạn một tuần lễ. Trong một tuần lễ đó ông Tolstoy vẫn ngồi yên ở nhà, trong tay ông cũng chỉ có một ngòi bút.

Cuộc chiến tranh đó ban đầu thì bên chánh phủ được thắng mà bên học sanh bị hại, song rốt lại thì bên học sanh lại được thắng vì bên kia sau phải kiếm cách mà cầu hòa. Nói cho đến cùng thì sự thắng trận không phải của mấy vạn học sanh nước Nga mà là của ông Tolstoy, của ngòi bút ông Tolstoy.

Bên quân học sanh không có đủ binh lính súng đạn mà cũng thắng được bên quân chánh phủ có nhiều binh lính súng đạn. Còn ông Tolstoy không hề có một chút binh lính súng đạn gì hết, song cũng thắng được, ấy là nhờ ông có cái ngòi bút.

Sau đó không đầy 20 năm, ngôi vua nước Nga đổ, vua Ni-cô-la bị giết, nước Nga trở nên nước dân chủ, rồi lại trở nên nước cộng sản, người ta cho rằng ấy là nhờ thế lực của quân cách mạng bấy giờ và thế lực của bọn Lý-Ninh; nhưng lại có người nói rằng ấy là nhờ thế lực của ông Tolstoy, nhờ ngòi bút của ông Tolstoy vậy.

Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.727 (5.6.1928)

Người Việt trên đất Mỹ

BS.Nguyễn ý Đức
Hiệp Chủng Quốc Mỹ là đất hứa đối với nhiều triệu con người trên khắp thế giới khi họ bắt buộc phải rời bỏ quê hương chôn rau cắt rốn của họ. Họ ra đi để tránh sự đàn áp khủng bố chính trị, giới hạn tôn giáo, tước bỏ quyền tự do căn bản của con người, áp đặt bởi các chế độ độc tài, độc đảng toàn trị.

Từ năm 1975, nước Mỹ đã mở rộng cửa đón tiếp cả triệu người tỵ nạn chính trị từ miền Nam Việt Nam. Đây là số lượng cao nhất của những người tị nạn thuộc cùng một sắc dân được tiếp nhận vào Hoa Kỳ, một quốc gia mà dân chúng đa số được du nhập từ khắp nơi trên trái đất.

Trong số trên một triệu người Việt tại Mỹ, người cao tuổi chiếm một tỷ lệ khá cao. Họ đã cố hòa nhập với xã hội mới và cũng có nhiều vấn đề như những người già khác ở đây. Nhưng người cao tuổi mình đến Hoa kỳ từ một nền văn hóa, một nếp sống khác biệt, trong những hoàn cảnh bất lợi nên việc thích nghi có phần khó khăn hơn.

I-Các hoàn cảnh đưa đến việc Người Việt Nam di tản tới Hoa Kỳ.

Kể từ ngày 30 tháng Tư năm 1975, con số người Việt từ miền Nam Việt Nam tới định cư tại Hoa Kỳ tăng rất mau (tới 150%) nhất là trong các thập niên 1980 và 1990.

Theo kết quả cuộc thống kê dân số thực hiện năm 2007, số người Việt Nam hiện có trên đất Mỹ là 1,642,950 người, đứng hàng thứ ba sau người Trung Hoa, Phi Luật Tân. Đây là một con số nhẩy vọt khá nhanh. Quá phân nửa số trên một triệu người Việt tập trung ở các tiểu bang California, Texas. Trước năm 1975, chỉ có dăm ngàn người Việt sống trên đất Mỹ, mà hầu hết là vợ con các quân dân chính người Mỹ đã từng phục vụ ở miền Nam Việt Nam, hoặc du học sinh, nhân viên ngoại giao đoàn Việt Nam Cộng Hòa.

Người Việt tới Mỹ theo nhiều đợt khác nhau.

Khi miền Nam Việt Nam sắp thất thủ thì một số người có liên hệ với chính quyền Hoa Kỳ được ưu tiên di tản, cộng thêm quân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa có quen biết với tòa Đại sứ hoặc Bộ Tư Lệnh quân đội Mỹ tại Sài Gòn. Họ ra đi bằng máy bay. Sau đó một số khác chạy thoát bằng đường biển và được hạm đội đồng minh đón vớt ngoài hải phận Việt Nam. Với lo ngại sẽ có một cuộc tắm máu, trả thù bởi quân đội chiến thắng Cộng Sản, dân chúng đều tìm đủ mọi phương tiện ra đi. Đó là thời gian từ năm 1975 tới 1978.

Từ 1978 đến 1982, tại Việt Nam có phong trào chống kiều dân người Trung Hoa nên một đợt di tản khác lại xẩy ra gồm cả người Việt lẫn người Hoa. Họ ra đi bằng những chiếc thuyền lớn nhỏ đủ loại và được mệnh danh là “Boat People”. Người ta tìm cách vượt biên, vượt biển ra đi, tới các quốc gia lân cận Việt Nam như Phi Luật Tân, Mã Lai, Hồng Kông, Thái Lan, Tân Gia Ba.

Họ đi tìm sự sống trong cái chết, chỉ mong tới được bất cứ mảnh đất nào có tự do, dân chủ. Nhiều người, có khi cả gia đình, thiệt mạng trên biển cả vì bão tố, làm mồi cho cá mập, hoặc bị hải tặc cướp hiếp ngoài khơi.

Tới đất liền, những người sống sót được đưa vào trong các trại tị nạn, sống trong lo âu, thiếu thốn chờ đợi ngày được nhận vào các quốc gia đệ tam.

Cảnh vượt biển với nhiều chết chóc thảm thương đã khiến quốc tế lưu tâm tìm cách giải quyết. Cho nên sau nhiều điều đình, thảo luận, những chương trình nhân đạo ra đi có trật tự được thực hiện. Người Việt tới Mỹ bằng diện đoàn tụ gia đình, diện con lai mang dòng máu người Mỹ và diện tù nhân chính trị.

Diện cuối này còn được gọi là diện HO. Năm 1988, đích thân Tổng Thống Ronald Reagan đã ký ban hành đạo luật giúp đỡ những cựu tù nhân cải tạo từ ba năm trở lên tới định cư tại Mỹ.

Họ gồm quân dân chính các cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã bị chính quyền Cộng Sản tập trung, đưa đi cải tạo. Người dăm ba tháng, người vài ba năm, hầu hết mươi mười lăm năm, họ bị cô lập trong các trại tập trung rải rác khắp nước Việt Nam. Các phương thức kiềm chế, hành xác khắc nghiệt được mang ra áp dụng đối với tù nhân. Họ phải lao động chân tay ban ngày để tự sinh tự tồn, học tập về lý thuyết Mác, Lê ban đêm để “gột bỏ tàn tích đế quốc”. Nhiều người bỏ xác trong tù. Đa số có sức khỏe kém cả về thể xác lẫn tâm hồn khi được thả về với gia đình.

Về tới nhà, họ tiếp tục bị chính quyền quản thúc, theo dõi từng hành động. Họ không thể kiếm được việc làm vì là ngụy quân ngụy quyền, thẻ căn cước được đóng con dấu oan nghiệt phân loại đỏ chói. Con cái của họ không được học cao vì thuộc thành phần cha mẹ có “lý lịch xấu”.

Họ chịu nhiều cay đắng vì đã bị người bạn đồng minh bỏ rơi một thành trì bảo vệ tự do trước đây, rồi lại bị đối xử tàn tệ bởi chế độc độc tài, độc đảng. Họ cũng buồn lòng với những đồng ngũ, những cấp lãnh đạo đã bỏ chạy trước khi cuộc chiến chấm dứt. Một số khi trở về nhà, thì người bạn tao khang đã ôm thuyền bến khác hoặc đã rời khỏi quê hương, tìm đời sống mới.

Nghe nói hậu quả của thảm cảnh hành hạ tù đầy này đã được một số lãnh đạo đảng Cộng Sản cho là quá đáng, không nhân đạo.

II-Những khó khăn khi hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ

1-Khó khăn về ngôn ngữ, việc làm.

Ngôn ngữ xứ người là bước cản trở lớn nhất cho người tị nạn, từ kiếm việc tới mọi giao dịch. Đã có nhiều giai thoại tức cười cũng như đáng buồn xẩy ra vì sự không diễn tả được ý nghĩ bằng ngôn ngữ địa phương mới tới.

Vốn được đào tạo trong nền văn hóa Pháp rồi chuyển sang chương trình tiếng Việt, nên nhiều người chỉ có một vốn liếng rất giới hạn về Anh Ngữ. Họ gặp nhiều khó khăn trong việc đối thoại với người bảo trợ, với hàng xóm mới, khi đi tìm xin việc cũng như giao tế hàng ngày. Chỉ vì không biết tiếng Anh. Mà Anh ngữ là chiếc chìa khóa vạn năng giúp di dân hội nhập vào xã hội Mỹ nhanh chóng hơn.

Ngoài vấn đề ngôn ngữ, đa số người tị nạn đều không có một nghề nào khả dĩ có thể dùng ngay trong xã hội mới, ngoài việc làm lao động chân tay tại các nông trại, tiệm ăn, tiệm tạp hóa... Một số theo học các lớp Anh ngữ căn bản rồi học những nghề chỉ cần huấn luyện ngắn hạn. Mục đích của họ là làm bất cứ việc gì để có thể nuôi sống gia đình, khỏi trở thành cây chùm gửi trên đất Mỹ,.

Trong gia đình tị nạn Việt Nam, mọi người đều làm việc. Lợi tức thu hoạch được góp chung với nhau rồi chi tiêu dè sẻn, để dành. Cha mẹ nhiều khi làm hai, ba công việc, hết ngày lại đêm. Con cái đi học về là đi rửa chén bát, làm bồi bàn tại các tiệm ăn. Với sự lao động tối đa, chi tiêu tối thiểu, chỉ dăm năm sau là họ đã dành dụm được một số vốn đủ để mua nhà hoặc mở cơ sở thương mại. Họ đã nghiêm chỉnh áp dụng câu ngạn ngữ “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm” vào đời sống thực tiễn ở miền đất mà khi đó họ coi chỉ là tạm cư. Họ vẫn nghĩ đến một ngày có thể trở về quê hương trong hoàn cảnh thuận tiện, tự do, dân chủ.

2-Khó khăn trong đời sống mới:

Vào một xã hội hoàn toàn xa lạ, từ cách ăn uống, khí hậu, địa dư, đối xử, giao tế, sức khỏe, dịch vụ y tế, cho nên người tị nạn hoàn toàn lạc lõng. Chính quyền Mỹ, các cơ quan thiện nguyện đã phải kiên nhẫn lắm mới giúp họ làm quen với nếp sống này. Họ cố gắng hội nhập, đôi khi hầu như phải cắn răng nhẫn nhục, vì đâu đây vẫn phảng phất một phân biệt, một cái nhìn khác lạ tới mầu da của con người. Nhiều di dân đến trước đã có cảm nghĩ là Tượng Thần Tự Do quay mặt về Âu châu và xoay lưng về phía Á Châu, ám chỉ sự kỳ thị với người Mỹ gốc Á. Mỹ Trắng thì gọi là dân Mỹ, Mỹ Phi Châu gọi là Mỹ đen, còn các sắc dân khác thì là “công dân hạng hai”.

3-Khó khăn trong nếp sống gia đình.

Đa số gia đình Việt nam vẫn còn giữ được truyền thống tốt đẹp cũ. Tuy nhiên vài vấn vấn đề đã được nêu ra ở một số không nhỏ gia đình.

Khi hội nhập vào nước Mỹ, người Việt bị đặt vào môi trường trong đó họ phải đối diện với hai nền văn hóa khác biệt: Hoa kỳ với khuynh hướng tự do, cởi mở giữa con cái với cha mẹ; còn truyền thống Việt Nam thì dành cho cha mẹ quyền uy tối thượng, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó.

Trẻ con dù sinh ra ở Việt Nam, nhưng lớn lên ở Mỹ, chơi với bạn Mỹ, giáo dục theo lối Mỹ, yêu thích tự do nên đã mau chóng sống với nếp sống mới. Còn một số các bậc làm cha mẹ thì vẫn giữ quan niệm xưa, luôn luôn cho mình là đúng, rồi ra lệnh và sắp đặt. Cho nên sự mâu thuẫn giữa hai thế hệ là điều không thể nào tránh được, nếu không có sự tương nhượng, thông cảm.

Đã có trường hợp con cái kêu cảnh sát can thiệp vì cho là bị cha mẹ lạm dụng, hành hạ; những cảnh con cái bỏ cha mẹ vào nhà người già. Lại cũng có trường hợp, cha mẹ hy sinh vốn liếng, tài sản để các con vượt biên, đến các nước tự do. Sau vài năm, con cái làm ăn khá vững vàng bèn bảo lãnh cha mẹ già sang với mục đích phụng dưỡng, đền ơn sinh thành, dưỡng dục. Nhưng các cụ ở được một thời gian ngắn, niềm vui chưa trọn vẹn thì chuyện buồn đã đến nên muốn bỏ về. Lý do hoặc vì các con thay lòng đổi dạ, hoặc các cụ nhớ nhà, hoặc nghịch cảnh dâu, rể không sống chung với nhau được. Rồi lại những hôn nhân dị chủng, ly hôn ly dị của các con làm các cụ đau lòng.

Bình tâm mà nói, nếu nhiều người già coi đất Mỹ như đất tạm dụng, thì với giới trẻ có ý chí vươn lên, có nghị lực thắng vượt khó khăn và quyết tâm đạt đến mục tiêu đã đặt ra, nước Mỹ là mảnh đất tốt lành đã mang đến cho họ những cơ hội để phát triển khả năng. Đây là một cơ hội ít có nếu họ còn ở Việt Nam. Nước Mỹ luôn luôn tạo hoàn cảnh thuận tiện để mọi người, nhất là giới trẻ vươn lên, miễn là đừng quá biếng nhác

Rồi giữa vợ chồng với nhau, cũng có vài trục trặc đối xử. Tương quan vợ chồng bình đẳng hơn. Nhiều người nữ dễ hòa nhập nên thành công mau lẹ. Một số người nam gặp khó khăn thích ứng vì quá suy yếu trong thời gian cải tạo, quá vất vả trong những năm chiến tranh. Những so bì, bất đồng xẩy ra khiến một số gia đình đi vào tan vỡ, chia cách.

III-Thành công hội nhập vào xã hội mới

Trong hơn một phần ba thế kỷ, hơn một triệu người Việt này đã hình thành một khối thiểu số có những sắc thái đặc biệt vừa làm phong phú và vừa thay đổi một phần nào cấu trúc căn bản của Hiệp Chủng Quốc Mỹ.

Tới Mỹ không sửa soạn với hai bàn tay trắng. Họ tức tưởi rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn trong hoang mang, vội vàng, không kịp suy nghĩ, nói chi đến sửa soạn. Họ không biết là sẽ đi đâu, không biết tương lai sẽ ra sao miễn là xa lánh hiểm họa cộng sản. Họ vào nước Mỹ đa số không nói được tiếng Anh, hầu hết không có một Mỹ kim trong túi. Họ đến từ một văn hóa với nhiều khép kín, ràng buộc vào một nếp sống phóng khoáng, tự do. Họ lạc vào rừng người có cái nhìn khác biệt về chủng tộc, giống tính. Họ chóng mặt trước sự tiến bộ, phồn thịnh của một quốc gia mới chỉ có hơn hai trăm năm lập quốc.

Họ khởi sự lập nghiệp từ số không, không có một nền tảng có sẵn như người Trung Hoa hoặc di dân từ các quốc gia Âu Châu tới Mỹ từ cả trăm năm trước. Ho vật lộn với nhiều khó khăn để sinh tồn, để thích nghi với nếp sống mới và để tạo dựng một tương lai vững chắc cho thế hệ con cháu. Họ âm thầm làm việc, chịu đựng mọi thử thách, kỳ thị trong những năm đầu. Nếu đa số dân chúng Mỹ không muốn quay lưng trước hoàn cảnh tuyệt vọng của con dân một quốc gia đồng minh với họ trước đây, thì cũng có một thiểu số lạnh nhạt với lớp di dân này. Trong những năm đầu, họ được phân tán khắp 50 tiểu bang để sự cứu giúp được dễ dàng cũng như tránh sự tụ nhập quá đông người Việt ở một địa phương. Nhưng rồi dần dà, sau khi đã có lông có cánh, họ cũng tìm về với nhau, trong những tụ điểm thích hợp để tương trợ, dìu nhau mà đi lên. Dù sao thì “một giọt máu đào cũng hơn ao nước lã”. Và “Một cây làm chẳng nên non; Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”.

Với bản tính nhẫn nhục, cần cù, thực tế, dễ thích nghi, có nhiều sáng kiến nhỏ, họ đã tham gia vào nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống Mỹ quốc. Họ đã tạo dựng nên những cơ sở kinh tế, thương mại vững chắc, củng cố và phổ biến văn hóa Việt Nam vào nền đa văn hóa địa phương. Hầu hết lớp người tị nạn tới Mỹ vào thập niên 70 đã ổn định đời sống mật cách thỏa đáng.

Các thế hệ Việt Nam thứ hai đã mau lẹ tiến tới để thu nhập tinh hoa kiến thức qua nền giáo dục đa diện của nước Mỹ. Họ đã có nhiều đóng góp khoa học, kỹ thuật đáng khen ngợi cũng như cung hiến cho nền hành chánh tiểu bang và liên bang nhiều chuyên gia có khả năng điều hành, lãnh đạo.

Chúng ta đã có những đại diện dân cử cấp liên bang cũng như tiểu bang, thành phố. Đã có người giữ chức vụ cao trong hành pháp Hoa Kỳ, những vị chánh án liên bang. Con số các khoa học gia, khoa bảng bác sĩ kỹ sư nổi danh cũng không phải là ít. Đã có người phát minh ra khí giới có thể truy tìm địch thủ dễ dàng thì cũng có những phẫu thuật gia nổi danh ghép cơ quan nội tạng, cứu nhân độ thế, những khoa học gia không gian vũ trụ, những nhà toán học trẻ tuổi Việt Nam. Bằng sáng chế khoa học của người Mỹ gốc Việt có thể nói là nhiều vô kể. Sự thành công của thế hệ này đã tạo ra nhiều ngạc nhiên cho con dân bản xứ.

IV-Kết luận

Người Mỹ gốc Việt Nam tị nạn là một nhóm thiểu số có vận tốc hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ khá nhanh và rất thành công. Họ đã đóng góp nhiều cho quê hương thứ hai và trong tương lai chắc chắn sẽ dự phần quan trọng vào việc tạo dựng một Quốc Gia hùng mạnh, tự do dân chủ tại quê hương nguồn gốc Việt Nam. Một tự do dân chủ thực sự chứ không chỉ trên văn kiện, giấy tờ.

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức.

19 thg 3, 2010

Ta về

Tô Thùy Yên

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta

Tô Thùy Yên

18 thg 3, 2010

Đêm cuối cùng của Đảng Cộng sản Ba Lan

Grzegorz Sroczynski (Đinh Minh Đạo dịch)

Lời người dịch : 20 năm trước đây, ngày 27-01-1990 Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan (PZPR, tức Đảng Cộng sản Ba Lan) đã họp đại hội lần thứ XI và cũng là đại hội cuối cùng để tuyên bố giải thể. Sau 45 năm cầm quyền, Đảng Cộng sản Ba Lan đã phải chấp nhận Hội nghị Bàn tròn để tiền tới bầu cử tự do. Họ đã thất bại trong cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên này.

Sau khi giải thể, những đảng viên cấp tiến của Đảng đã đứng ra thành lập Đảng Xã hội Dân chủ Ba Lan. Đảng đã 2 lần thắng cử trong các cuộc bầu cử tự do dân chủ. Chủ tịch đầu tiên của Đảng, ông Aleksander Kwaśniewski đã hai lần trúng cử trong hai cuộc bầu cử tổng thống bằng phổ thông đầu phiếu toàn quốc, làm Tổng thống Cộng hòa Ba Lan hai nhiệm kỳ liên tiếp 10 năm.
Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Grzegorz Sroczyński, phóng viên nhật báo Wyborcza Ba Lan về đại hội cuối cùng của Đảng Cộng sản Ba Lan.

Warszawa tháng 03–2010

__________________

Kem dưỡng da nhãn hiệu Nivea đã bán hết sau 6 giờ khai mạc đại hội. Người bán hàng của quán bar phục vụ đại hội nói với ê kíp quay phim: “Ban tổ chức đã nhắc nhở, một số đại biểu đã bỏ nhiều thời gian đứng xếp hàng tại quầy bán kem dưỡng da, trong hội trường nhiều chỗ bỏ trống”. 16 tiếng đồng hồ sau, loại kem dưỡng da Bambino và quyển Đời sống riêng tư của Stalin cũng bán hết. Trong hội trường của đại hội, một đại biểu của đảng bộ tỉnh Gorzów đi đến micro số 6, với một thái độ rất bất mãn nói: “Tôi là Suchecki. Tôi muốn hỏi các đồng chí, có phải các đồng chí đến đây chỉ để tham quan và mua hàng?” Sau lời phát biểu, tiếng cười chế nhạo nổi lên, một nửa số đại biểu đã bỏ phòng họp ra ngoài.

Cuốn phim tài liệu Những ngày cuối cùng của Andrzej Fidyk quay về đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Ba Lan từ ngày 27 đến 29-01-1990. Trong phim, những bộ mặt buồn rầu, những đại biểu ngồi ngủ say sưa, cảnh xếp hàng mua kem dưỡng da, cảnh các đại biểu ngồi ăn bánh mì với xúc xích (giá 2200 zt) lần lượt hiện ra trông thật ảm đạm. Một vài đại biểu bước đi thong thả dọc theo hành lang của Cung Đại hội, thỉnh thoảng lại nhìn qua cửa kính quan sát những đám người biểu tình ở bên ngoài đang hô lớn: “Cộng sản cút đi”. Không lâu nữa, tất cả các đại biểu này sẽ giơ cao cánh tay biểu quyết thống nhất giải thể đảng của họ. Giờ phút lịch sử này không gây cho họ một ấn tượng nào, thời gian vẫn tiếp tục trôi.

Zbigniew Siemiątkowski[1], người đã tham gia đại hội nhớ lại: “Nước Cộng hòa Nhân dân Ba Lan đã phá sản, Công đoàn Đoàn kết (CĐĐK) đã bắt đầu một kỷ nguyên mới. Những ai không thuộc CĐĐK sẽ không có chỗ đứng tại Ba Lan. Thế là hết! Đó là tâm trạng của những người tham dự đại hội”.

Ngay cả những thành phần “bê tông” cũng đã hiểu

Một tháng trước đại hội, Vụ Thông tin Chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Ba Lan đã tổ chức cuộc thăm dò dư luận trong toàn bộ đảng viên của Đảng. Kết quả thăm dò được chuyển đến Mieczysław Rakowski[2], bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông đọc báo cáo và nhận xét:

“Tâm trạng của đảng viên thật đáng lo ngại.” Phần lớn đảng viên có thái độ thờ ơ và chờ đợi (41,8%), cảm giác thất bại nặng nể và lo lắng trước tương lai. Trước câu hỏi: Hiện nay lực lượng chính trị nào có ảnh hưởng ít nhất đến các sự kiện kinh tế, chính trị tại Ba Lan?, câu trả lời đều giống nhau: Đảng Cộng sản.

Đã bốn tháng nay, Thủ tướng là Tadeusz Mazowiecki[3]. Từ một tháng nay, hiến pháp đã thay đổi. Tên nước cũng thay đổi (Cộng hòa Nhân dân Ba Lan đổi thành Cộng hòa Ba Lan – ND). Trong hiến pháp, đã bỏ các điều khoản xác định vai trò lãnh đạo tất yếu của Đảng Cộng sản Ba Lan và tình hữu nghị đời đời với Liên bang Xô-viết.

Vẫn theo Z. Siemiątkowsk, cho đến tháng 09-1989 bộ máy lãnh đạo của Đảng vẫn tin rằng đại hội lần thứ XI sẽ không cần thiết phải thay đổi. Nhưng sau một tháng hoạt động của chính phủ Mazowiecki, họ đã bị sốc. Các thứ trưởng đại diện của Đảng Cộng sản trong các bộ của chính phủ bị loại bỏ, sau đó một tháng thì các vụ trưởng khăn gói rời các bộ. Đảng không hề được hỏi ý kiến. Trong tháng 10, xuất hiện sáng kiến cho rằng đại hội lần thứ XI chỉ cần thay đổi “biển hiệu” của Đảng, còn ban lãnh đạo của Đảng hãy giữ nguyên như cũ. Nhưng trong tháng 01-1990, sau khi hiến pháp được thay đổi và Kế hoạch Balcerowicz[4] đã đi vào đời sống xã hội, thì ngay cả thành phần bảo thủ nhất trong Đảng cũng hiểu rằng, số phận của Đảng đã được định đoạt. Nấm mồ với bia đá đang chờ đợi Đảng.

Walesa ủng hộ Fiszbach

Trong nửa đầu tháng 1, nhật báo Trybuna Ludu (Diễn đàn Nhân dân), cơ quan trung ương của Đảng đã tiến hành một cuộc trưng cầu ý kiến về tên mới của Đảng. Hai cái tên Đảng Xã hội Ba Lan và Đảng Xã hội Dân chủ Ba Lan được nhiều đảng viên tán đồng nhất. Đại biểu quốc hội của Đảng, ông Tadeusz Fiszbach tuyên bố: “Tên của Đảng phải bắt đầu bằng từ POLSKA (Ba Lan)”.

Lần đầu tiên, tất cả các đại biểu dự đại hội được lựa chọn một cách dân chủ với sự tham gia của tất cả các đảng viên của Đảng. Mặc dầu điều lệ của Đảng cấm tạo thành bè cánh trong Đảng, nhưng các nhóm đã được hình thành với những ý đồ khác nhau. Nổi bật nhất là nhóm Phong trào 8 tháng Bảy (trong đó có Tomasz Nałęcz, Zbigniew Siemiątkowski). Nhóm này muốn trên cơ sở giải thể Đảng Cộng sản, thành lập Đảng Xã hội Dân chủ. Đã xuất hiện tên những nhân vật có thể trở thành chủ tịch Đảng tương lai. Người đầu tiên được nêu tên là Tadeusz Fiszbach (cựu bí thư thứ nhất tỉnh Gdańsk, đã tham gia đàm phán với CĐĐK về Thỏa thuận tháng Tám[5] và phản đối việc tuyên bố Tình trạng Chiến tranh[6]). CĐĐK có cảm tình với Fiszbach. Ngày 15-01 phát biểu trước truyền hình, Lech Walesa[7] nói: “Fiszbach có thể là lãnh tụ tốt nhất của đảng cánh tả mới.”

Phát biểu của Lech Walesa như đổ thêm dầu vào lửa, chiều hướng vận động để Fiszbach trở thành chủ tịch của đảng mới bị chặn lại, Aleksander Kwaśniewski[8], một cựu bộ trưởng, ủy viên Trung ương Đảng trẻ ngày càng được nhiều người chú ý hơn.

Rakowski: hãy giữ gìn sự thống nhất của Đảng!

Một tuần trước khi khai mạc đại hội, Mieczyslaw Rakowski, bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đi về các địa phương, gặp gỡ tất cả các đại biểu sẽ dự đại hội Đảng lần thứ XI, thuyết phục họ đừng chia rẽ. Ông nói: “Cánh hữu (chỉ CĐĐK – ND) chỉ chờ đợi chúng ta chia rẽ để tóm chúng ta như bắt cá trong chậu! Không, tôi không giơ tay để làm tan rã Đảng”.

Trybuna Ludu tường thuật buổi gặp gỡ đầu tiên của bí thư thứ nhất: “Các đồng chí đảng viên già đã phát biểu với một niềm cay đắng và nỗi đau, rằng thật uổng phí cả cuộc đời đã cống hiến cho Đảng. Trong cuộc gặp mặt, những khuôn mặt của các công nhân đầy lo lắng về số phận của dân tộc và tổ quốc. Đây là hình ảnh người thợ nguội Zalewski, giơ bàn tay lao động chai dầy, với nỗi niềm cay đắng thổ lộ: “Các cháu tôi ở trường học nghe người ta nói rằng những đảng viên như tôi đã hủy hoại đất nước.”

Trybuna Ludu báo động về tình hình Đảng mất dần những bất động sản đang sử dụng. Chỉ trong ngày 16-01 đã có 3 địa điểm bị chiếm dụng. Trong ngày thứ ba lúc 11 giờ, một nhóm thanh niên đã đột nhập vào tòa nhà của ban chấp hành tỉnh đảng bộ Katowice, tuyên bố chiếm dụng, treo tấm biển với dòng chữ “Đây là món quà của Đảng Cộng sản tặng cho các sinh viên”. Sau đó họ đã thay đổi yêu cầu, chuyển tòa nhà cho khoa xã hội học và thư viện của trường Đại học Tổng hợp Slask.

Tiếp theo là hàng tít lớn: “Cuộc biểu tình khiêu khích của sinh viên trước trụ sở ban chấp hành Łódz”. Khoảng 100 sinh viên đã lấy đi tấm biển hiệu của tòa nhà, tổ chức bán đấu giá nó, tiền thu được chuyển cho quỹ chính phủ của Thủ tướng Mazowiecki. Tin cuối cùng, ủy ban những người vô gia cư đã chiếm giữ những phòng làm việc của văn phòng đảng ủy khu liên hợp gang thép Lenin tại Kraków.

Các cán bộ chuyên trách trong các cấp của bộ máy Đảng, hàng ngày với tâm trạng đầy thất vọng gọi điện thoại đến tòa soạn Trybuna Ludu: “Chuyện gì sẽ xẩy ra đối với những cán bộ đảng ở các địa phương, những người lương thiện, cả cuộc đời làm việc phụng sự cho Đảng? Thời gian làm việc chuyên trách cho Đảng có được tính vào thời gian làm việc để về hưu không? Nhân dân cảm thấy bị những người lãnh đạo của Đảng bỏ rơi, khi thấy họ không có phương cách gì giúp mình vượt qua những khó khăn trong cuộc đổi thay của của xã hội.”

Trong ngày khai mạc đại hội, trên trang nhất Trybuna Ludu đăng tin cuộc đối thoại qua điện thoại trực ban của ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Leszek Miller[9]: “Anna Szymańska ở Warszawa khóc òa lên trong điện thoại, rồi nức nở, nghẹn ngào: Với lòng kính trọng, tôi van xin các đồng chí đừng phá bỏ Đảng!”

Thất bại cho chúng ta một bài học đích đáng

Bên ngoài Cung Đại hội, nơi khai mạc đại hội ngày 27-01-1990, khẩu hiệu lớn được căng lên: “Chúng ta mong muốn được phụng sự tổ quốc Ba Lan – giá trị tối thượng của chúng ta”. Bên trong phòng họp, các nhà kỹ thuật trang trí khác hẳn so với các đại hội trước đây. Thông thường, bên trong được trang trí phần lớn bằng màu đỏ. Lần này họ trang trí toàn bằng màu xanh.

Buổi chiều 27-01, 1633 đại biểu đã có mặt khai mạc đại hội. Trong tài liệu lưu trữ, bên cạnh họ tên các đại biểu, có ghi nghề nghiệp như: nhà bình luận, cán bộ giảng dạy trường Đảng, ban thanh tra đảng của thành phố v.v. Nhưng nhiều nhất vẫn là các giáo viên, công nhân, các sĩ quan quân đội và 65 công an.

Trong diễn văn khai mạc đại hội, Mieczyslaw Rakowski nói:

Sự hiện hữu của Đảng chúng ta trong đời sống của dân tộc, đất nước, coi như đã chấm dứt. Nhưng thật không tốt, nếu như đại hội của chúng ta ghi vào nghị quyết lên án nó… Tôi cho rằng, điểm yếu kém cơ bản nhất của phong trào cộng sản và đồng thời là nguyên nhân của tất cả các thất bại của nó là sự từ bỏ dân chủ… Xã hội đã được giải phóng khỏi sự sợ hãi và xã hội đã ban thưởng cho CĐĐK lòng tin và hy vọng.

Nói một cách thẳng thắn: sự thất bại của chúng ta là bài học đích đáng.” Kết thúc bài diễn văn ông thông báo: “Tôi không có ý định ứng cử vào chức vụ lãnh đạo của đảng mới sẽ thành lập, và tôi tin rằng các đồng chí khác thuộc thế hệ của tôi cũng quyết định như vậy.” Đó là bài phát biểu duy nhất được vỗ tay dài nhất, to nhất trong suốt thời gian đại hội.

Chế nhạo nữ đồng chí từ Kalisz

Người đầu tiên ghi tên phát biểu là nữ đồng chí Henryka Minicka, đại biểu đến từ tỉnh Kalisz (nghề nghiệp luật sư), đã bị huýt sáo chế nhạo. Đây là việc chưa từng xảy ra trong hội trường mang tên Cung Đại hội này. H. Minicka nói: “Các đồng chí của tổ chức Đảng giao nhiệm vụ cho tôi phải giới thiệu lịch sử của nhân dân Ba Lan thông qua điển hình là thành phố Kalisz – bắt đầu đưa ra một tập giấy nhỏ – Đây là lịch sử của Kalisz, xuất bản năm 1977, từ trang 650. Những đảng viên của thành phố chúng tôi cho rằng đây là những năm tháng tốt đẹp nhất của đảng bộ thành phố… Tôi biết tại sao các đồng chí lại chế nhạo tôi, nhưng tôi đại diện cho các công nhân của thành phố chúng tôi… Tôi hy vọng rằng tôi đã làm xong công việc được giao phó và những người đã bỏ phiếu bầu tôi làm đại biểu sẽ tha thứ cho tôi.”

Khó khăn do Kwaśniewski đưa ra

Phong trào 8 tháng Bảy với khoảng 200 đại biểu ủng hộ chuyển sang tấn công. Một người trong nhóm đã đưa ra dự án phải thật nhanh chóng giải thể Đảng: “Đảng đã đánh mất thành quả và những ý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Ba Lan. Thời gian dành cho Đảng đã qua rồi.” Các buổi thảo luận do Leszek Miller chủ trì, rất nhiều vấn đề được đưa ra.

Tomasz Nałęcz (micro số 6): “Tôi muốn làm sáng tỏ để đồng chí Miller thấy rằng, chúng ta đang đứng trước quyết một định của đại hội. Quyết định này có thể sẽ dẫn tới những bi kịch. Chúng ta không thảo luận những vấn đề viển vông khác, chúng ta chỉ thảo luận lựa chọn hình thức nào để giải thể Đảng.”

Miller: “Tôi phản đối ý kiến này. Không có vấn đề nào là viển vông cả.”

Các đại biểu không hiểu chuyện gì xảy ra, họ sẽ biểu quyết vấn đề gì đây?

Aleksander Kwaśniewski đi đến micro: “Đồng chí bí thư cho phép tôi phát biểu. Tôi sẽ không nói với chủ tịch đoàn, tôi nói với tất cả các đại biểu đang ngồi dưới. Tôi đề nghị chúng ta xem xét các vấn đề một cách thật bình tĩnh. Nếu chúng ta ngay lập tức giải thể Đảng, có nghĩa là tài sản của nó sẽ trở thành của cải của kho bạc nhà nước. Vì vậy đầu tiên cần thành lâp đảng mới, sau đó Đảng sẽ chuyển giao tài sản[10] cho đảng mới này, khi đó đảng mới tuyên bố giải thể.” Đây là công việc trong ngày thứ hai của đại hội. Sau ý kiến của Kwaśniewski, cả hội trường thở phào nhẹ nhõm, những tràng vỗ tay vang lên không ngớt.

Một đồng chí không xưng tên (micro số 4) nói: “Thực chất các vấn đề đã được giải thích rõ ràng, đồng chí Kwaśniewski đã nói khá đầy đủ.”

Chỉ có đồng chí Okonieński từ Piaseczno là không bị thuyết phục, Sau phút im lặng, đi đến micro và tuyên bố: “Tôi muốn nói với các đồng chí rằng, dù chúng ta có làm việc gì khác, ngay cả việc thành lập đảng mới, chúng ta đã, đang và sẽ là cộng sản. Chúng ta không có cách gì để thay đổi tình hình.”

Quân đội ủng hộ dân chủ

Ở một góc của hội trường, những đại biểu của quân đội và công an trong các bộ đồng phục nghiêm chỉnh. Thái độ của họ ra sao? Họ ủng hộ ai?

Trong danh nghĩa của những người lính, đồng chí Lewandowski công tác tại tòa soạn tạp chí Chiến sĩ Nhân dân phát biểu:

“Hôm nay chấm dứt hoạt động của Đảng trong quân đội, với tư cách những người lính, chúng tôi hy vọng rằng, từ nay quân đội sẽ không ủng hộ bất cứ một đảng phái chính trị nào, không trung thành với bất cứ tư tưởng của đảng phái nào. Quân đội chỉ trung thành với nhân dân và tổ quốc.”

(vỗ tay)Trong danh nghĩa đại diện cho công an, đồng chí A. Marczewski từ Konin phát biểu: “Tôi là viên chức công an, chắc không lâu nữa sẽ được đổi tên thành cảnh sát. Dự thảo đạo luật mới quy định, viên chức cảnh sát không được gia nhập bất cứ đảng chính trị nào. Tôi và có lẽ các đồng sự cũng đồng ý như vậy, chúng tôi mong muốn phục vụ xã hội, chúng tôi mong muốn có nghiệp vụ thành thạo, làm việc hiệu quả. Trên tất cả, là hoạt động theo đúng luật pháp.” (vỗ tay)

Siemiątkowski nhớ lại câu chuyện cười được sáng tác truyền miệng sau đại hội: Người ta hỏi nhau hiệu nhuộm lớn nhất ở Warszawa nằm ở đâu? Nằm trong Cung Đại hội của Lâu đài Văn hóa. Ở đó, đưa vào hai nghìn người ĐỎ, lúc ra thành hai nghìn NHÀ DÂN CHỦ.

Suất ăn nhanh

16 giờ 45 Leszek Miller thông báo nghỉ giải lao. Các đại biểu được phát phiếu ăn tại quán bar phục vụ đại hội. suất ăn là xúc xích và bánh mì, họ vừa ăn vừa nhìn qua cửa sổ. Bên ngoài, trong khoảnh sân của Lâu đài Văn hóa, khoảng vài trăm người tập trung biểu tình. Biểu ngữ của các tổ chức NZS (Hội Sinh viên Độc lập), Hội Đoàn kết Đấu tranh, PPS( Đảng Xã hội Chủ nghĩa Ba Lan), Quốc tế Cộng sản Vô Chính phủ.

Họ đồng thanh hô:

“Cộng sản, hãy uống sữa đi vì ngày tận số của các ngươi sắp đến rồi!”, “Cộng sản, đi cọ rửa nhà vệ sinh!”, “Vũ khi của các ngươi để ở nhà tên tướng.”

Ở dưới một cửa sổ, một nhóm người vừa câm vừa điếc, yên lặng đe dọa các đại biểu bằng các động tác. Họ giơ tấm biểu ngữ: “Tòa nhà Đảng[12] dành cho Trung tâm Phục hồi Chức năng Câm Điếc.”

Bước đi ngẩng cao đầu

Thời gian tiếp theo, đại hội đã thảo luận các vấn đề sau:

- Sự kiện tháng Ba 1968:[13] Đồng chí Bogusław Zaleski (đại biểu trường Đại học Tổng hợp Warszawa) đề nghị đại hội ra tuyên bố phản đối chủ nghĩa bài Do Thái. Nhưng đồng chí Bohdan Poręba cho rằng trước hết hãy đòi hỏi công bố toàn bộ sự thật về sự kiện tháng Ba cùng những hoạt động phân biệt chủng tộc.

- Về những băng đeo cánh tay của ORMO (Chiến sĩ Tình nguyện Dự bị Công an Công dân): Đồng chí Mieczysław Mieszczankowski, giáo sư, nhà kinh tế học thuộc Viên Hàn lâm Khoa học phát biểu: “Nhận xét cho rằng Đảng Cộng sản Ba Lan đã đưa đất nước Ba Lan đến tình trạng phá sản là không có cơ sở.” Rồi ông nói tiếp: “Trong những năm 1946-47 tôi là hội viên của ORMO. Cho đến bây giờ, các con và cháu tôi đã giữ gìn dải băng đeo tay như một kỷ niệm gia đình. Câu hỏi được đặt ra: giờ đây người ta cho nó là điều xấu, cần phải lên án và vứt bỏ nó? Tôi mong muốn thảo luận vấn đề này.”

- Về báo chí phương Tây (đồng chí Sybilski, giáo viên từ Zielona Góra) cho biết, đã đọc Frankfurter Allgemeine Zeitung và thấy không yên tâm. Nội dung của nó chứa đựng nhiều điều không đúng về chúng ta, chủ yếu để tăng người đọc và thêm lợi nhuận.

- Về vấn đề không nên tổ chức cuộc họp tại Cung Đại hội[14] này: Đồng chí Kawecki đại biểu của Łodz đề nghị không thảo luận nữa: “Tôi nghĩ rằng Cung Đại hội gây cho chúng ta ấn tượng thất bại. Nhưng khi chuẩn bị đại hội, đồng chí Rakowski cho biết, có thể chuyển về họp tại Spodek của Katowice, nhưng sẽ tốn kém hơn rất nhiều, mà hiện nay chúng ta đang rỗng túi.”

- Đồng chí Ryszard Ulicki cho rằng: “Chúng ta đã thảo luận dài dòng nhiều vấn đề, tất nhiên mỗi vấn đề nhắc nhở về những năm tháng ngọt ngào hay cay đắng. Vì vậy tôi đề nghị chúng ta dừng thảo luận tại đây, bắt đầu chuyển sang thảo luận về việc thành lập đảng mới.”

Đảng mới được thành lập ngày 28-01 mang tên Đảng Xã hội Dân chủ Ba Lan (Socjaldemokracja Rzeczypospolitej Polskej). Ông Aleksander Kwaśniewski trở thành Chủ tịch Đảng, Leszek Miller là Tổng Bí thư.

Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan giải thể ngày 29-01 lúc 1 giờ đêm. Trong tuyên bố có đoạn viết: “Chúng tôi, các đại biểu của đại hội lần thứ XI Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan phản đối viêc áp dụng những hình thức trừng phạt đối với những người có quan điểm chính trị trong quá khứ. Trong lịch sử Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan đã xảy ra nhiều trường hợp như vậy. Nay chúng tôi tuyên bố xóa bỏ tất cả các hình thức kỷ luật mà Đảng đã áp dụng trong quá khứ đối với những người có quan điểm chính trị khác với quan điểm của Đảng.”

Lúc 1 giờ 35 họ đã hát Quốc tế ca và hạ cờ. Rất nhiều đại biểu nước mắt lưng tròng. Mieczysław Rakowski đã nói những lời cuối cùng: “Chúng ta hãy chờ đợi xem lịch sử sẽ phán xét Đảng của chúng ta như thế nào. Có thể như Cách mạng Pháp, phải đến 30, 40 năm sau, mới kết luận rằng những người làm cách mạng đã không đạt đươc mục tiêu đề ra. Tôi kêu gọi, hãy đừng ngược đãi PZPR, bởi vì, ngược đãi nó khác nào ngược đãi cuộc sống của chính mình. Bởi vì, sẽ tạo ra một tinh hình rất lạ lùng, là tự chúng ta cũng không yêu chúng ta. Như vậy, chúng ta hãy bước đi và ngẩng cao đầu.”

Nguồn: Nhật báo Wyborcza 29-1-2010
Đinh Minh Đạo

17 thg 3, 2010

Cười một chút

T2 chôm chỉa.

1. Không sống nổi đến lúc đó

Ba cổ động viên đang ở trong nhà thờ cầu nguyện cho đội bóng của mình.
Người Anh hỏi: - Chúa ơi! Bao giờ đội Anh mới lại giành được Cúp Thế giới?
- 5 năm nữa - Chúa trả lời.
- Nhưng lúc đó thì tôi chết rồi.
Người Thái hỏi:
- Chúa ơi, khi nào thì đội Thái Lan được dự vòng chung kết Cúp Thế giới?
- 10 năm nữa - người phán.
- Thế thì lúc đó tôi cũng đã chết rồi.
Đến lượt người Việt Nam hỏi:
- Chúa ơi! Bao giờ thì Việt Nam vô địch châu Á?
Chúa buồn rầu nói:
- Lúc đó thì ta cũng đã chết rồi.

2.Bằng lòng
David là một người bố rất chiều vợ và con. Ông có một cô con gái xinh đẹp đang ở tuổi đôi mươi và đương nhiên, cô bé đã có người theo đuổi.
Một buổi tối, David gọi con gái lại:
"Người yêu của con vừa xin phép bố cho cưới con. Bố đã bằng lòng. Chúc con hạnh phúc".
Cô bé phản ứng lấy lệ: "Kìa bố, con muốn sống với mẹ...".
"Bố cũng bằng lòng luôn. Con cứ đưa mẹ theo".

3.Đối đáp ngắn
"Đừng cho tiền vào mồm thế, em yêu! Vi khuẩn đầy trên đó đấy", anh chồng nói.
"Anh đừng có mà dở hơi. Làm gì có vi khuẩn nào sống nổi trên số tiền anh kiếm được", cô vợ trả lời.
***
Chồng: Nhìn đôi kia hạnh phúc chưa kìa mình.
Vợ: Chắc gì, có lẽ bọn họ cũng nói như thế về chúng ta đấy.
***
Bác sĩ tâm lý: Chúc mừng anh đã khỏi bệnh!
Bệnh nhân: Mừng gì mà mừng! Trước đây tôi là Alexander Đại Đế, giờ tôi chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt!
***
Quan toà: Có phải anh cướp ngân hàng kia trong 3 đêm liên tiếp không?
Bị cáo: Đúng, thưa ngài!
Quan toà: Tại sao?
Bị cáo: Bởi vì vợ tôi muốn có một chiếc váy!
Quan toà: Thế sao lại tận 3 lần?
Bị cáo: Vợ tôi bắt tôi đổi 2 lần!

4.Dị ứng
Bốn người đàn bà đang chơi bài Bridge và tán gẫu. Một người nói: "Ông xã em mới từ Paris trở về. Anh ấy đã mua cho em hàng đống nước hoa".
Hãy tưởng tượng mà xem, những hai bốn chai, mỗi chai chứa đến 170ml với giá 50 đô la mỗi ml, thật là một món quà tuyệt hảo. Nhưng em lại không dùng được vì em chợt phát hiện ra rằng em bị dị ứng với nước hoa!
Một người đàn bà khác bảo:
- Chứng bệnh dị ứng thật là khủng khiếp. Ông xã em đã mua cho em một chiếc áo choàng bằng lông chồn. Em không thể mặc được chiếc áo đó vì em dị ứng với lông chồn đấy!
Người đàn bà thứ ba cất giọng oang oang nói:
- Thì em cũng vậy đấy. Ông xã em đã mua cho em chiếc vòng nạm kim cương đẹp này, nhưng em đâu có đeo được vì em dị ứng với kim cương!
Người đàn bà thứ tư đứng bên cạnh nôn thốc tháo tất cả những gì đã ăn trong bữa trưa vào giữa chiếc bàn mọi người đang chơi. Các bà hỏi: Gớm quá chừng đi, cái gì bỗng dưng lại làm cho chị phát mửa lên vậy?
Người đàn bà ấy bảo: Chỉ vì em dị ứng với những người phét lác!

5.Cứng hàm
Một doanh nghiệp mới thành lập có nhu cầu tuyển dụng nhân viên văn phòng. Họ treo một tấm biển ngoài cửa sổ trụ sở công ty, có ghi hàng chữ: "Tuyển dụng - Mọi ứng viên đều có cơ hội nếu đánh máy thạo, sử dụng tốt máy tính và biết một ngoại ngữ".
Một con chó hoang đi qua trụ sở công ty nhìn thấy bảng quảng cáo liền đẩy cửa đi vào. Nó ngước nhìn người lễ tân, vẫy đuôi, bước lại chỗ tấm biển và kêu rít lên.
Hiểu ý, người lễ tân liền gọi trưởng phòng tới. Ông ta cực kỳ ngạc nhiên khi biết ứng viên là một con chó. Tuy nhiên, vì vị khách bốn chân này có vẻ rất quyết tâm, ông vẫn cho nó vào phòng riêng để phỏng vấn. Đầu tiên, ông từ chối:
- Một chú cún con không thích hợp cho vị trí này. Công việc đòi hỏi ứng viên phải biết đánh máy.
Con chó chạy lại chỗ máy chữ và soạn thảo một lá thư hoàn chỉnh. Nó lấy tờ giấy ra và chạy lại đưa cho ông trưởng phòng rồi nhảy lên ghế ngồi chễm chệ.
Ông trưởng phòng choáng váng nhưng vẫn tìm lý do khác:
- Tấm bảng quảng cáo nêu rõ, ứng viên cần phải thành thạo máy vi tính.
Con chó chạy lại chỗ đặt máy tính, thao tác một cách cực kỳ ngon lành và hoàn tất một biểu mẫu tính thuế hoàn chỉnh.
Lần này, ông trưởng phòng nói không nên lời. Nghẹn giọng mất một lúc, ông mới lên tiếng:
- Tôi thấy rằng cậu là một chú chó rất, rất thông minh và có một số khả năng thú vị. Tuy nhiên, tôi vẫn không thể giao công việc này cho cậu được.
Con chó nhảy xuống ghế, chạy lại chỗ một bản copy của bảng quảng cáo tuyển dụng và đặt chân trước lên dòng chữ: Mọi ứng viên đều có cơ hội.
Ông trưởng phòng nhún vai:
- Đúng vậy, nhưng công việc còn yêu cầu ứng viên phải biết một ngoại ngữ.
Con chó nhìn ông trưởng phòng một cách bình thản và cất tiếng:
- Me..e..e..o..o..o!

6.Chuyện lớp học
Các lớp học lịch sử thường làm cho bọn trẻ buồn ngủ và do đó, cũng không mấy khó hiểu khi chúng tỏ ra vui mừng vì được biết hôm nay có thể về sớm. Bà giáo tuyên bố: "Bất cứ em nào trả lời được câu hỏi của tôi, có thể ra khỏi lớp trước khi chuông reo"
Thật là tuyệt vời, Dick nghĩ như vậy vì nó biết rằng mình rất thông minh và có thể trả lời bà ấy vanh vách như một cuốn bách khoa toàn thư.
"Nào, bắt đầu. Ai đã nói: đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc?"
"J.F. Kennedy thưa cô !" - một cô gái đầu bàn đã kịp giơ tay và dĩ nhiên cô nàng có thể ung dung ra về.
"Tốt lắm Allen, câu tiếp theo đây: Ai đã nói Tôi có một giấc mơ...?"
"Ô", thêm một cô nàng khác đã cướp lời trước, "Martin Luther King".
Cáu lắm, Dick buột miệng "Khi nào thì cái lũ ấy mới câm cái mồm thối tha của chúng nhỉ?"
Bà giáo sửng sốt và thét lớn "Ai đã nói câu ấy?"
"Bill Clinton thưa cô" - Dick mừng rỡ - "Bây giờ em có thể về được rồi phải không ạ?"

7.Trộm cướp
Một người bị kết án tử hình khẩn cầu tòa giảm án. Quan tòa bảo: "Anh đã phạm tội tày trời làm sao chúng tôi tha được? Nhưng có thể chấp thuận cho anh được quyền chọn lựa cách chết".
Tử tù vội nói:
- Xin đội ơn ngài. Xin cho tôi được chết... già!

8.Đàn ông và đàn bà
Đàn ông phát hiện ra vũ khí, họ nghĩ đến đi săn. Phụ nữ phát hiện ra nghề đi săn, họ nghĩ đến áo lông thú.
Đàn ông phát hiện ra màu sắc, họ nghĩ đến hội hoạ. Phụ nữ phát hiện ra hội hoạ, họ nghĩ đến trang điểm.
Đàn ông phát hiện ra ngôn ngữ, họ nghĩ đến nói chuyện. Phụ nữ phát hiện ra cách nói chuyện, họ nghĩ đến "buôn dưa lê".
Đàn ông phát hiện ra nghề nông, họ nghĩ đến thức ăn. Phụ nữ phát hiện ra thức ăn, họ nghĩ đến ăn kiêng.
Đàn ông phát hiện ra tình bạn, họ nghĩ đến tình yêu. Phụ nữ phát hiện ra tình yêu, họ nghĩ đến hôn nhân.
Đàn ông phát hiện ra cách buôn bán, họ nghĩ đến tiền. Phụ nữ phát hiện ra tiền, và đàn ông gặp tai hoạ từ đó!

9.Lầm từ lâu
Hai cặp vợ chồng rủ nhau đi nghỉ hè và thuê trọn một tầng gồm hai phòng của khách sạn nọ. Buổi tối, cánh đàn ông đang ngồi ở quầy bar thì đột nhiên điện phụt tắt, họ đành phải lần mò về phòng ngủ. Một trong hai anh chồng rất sùng đạo.
Trước khi lên giường, anh này cầu nguyện rất lâu và thành kính. Vừa chui vào chăn thì điện sáng trở lại, chàng ta nhận ra mình đã lầm phòng và vội vàng chạy ra cửa. Cô vợ bạn trên giường gọi giật lại:
- Không kịp đâu anh ơi! Ở phòng bên kia họ "vào lầm" từ lâu rồi!

10.Tím hết cả mình mẩy
Ông chủ nọ gọi về cho vợ biết là phải làm việc trễ tối nay. Gọi xong, ông mời cô thư ký xinh đẹp đi ăn và ông ta gặp may được cô ta rủ về phòng mình!
Hai tiếng sau, ông vào phòng tắm sửa soạn lại để trở về nhà mình. Bỗng ông ta hoảng hồn vì thấy trên cổ mình có một vết cắn bầm do cô thư ký để lại. Ông hoang mang vì không biết phải nói sao nếu bị vợ hỏi.
Ông mở cửa vô nhà và con chó becgiê nhảy chồm lên mừng chủ. Ông lanh trí vội vàng ôm lấy con chó làm bộ vật lộn với nó rồi la toáng lên và chạy vào phòng. Ông ta một tay lấy ôm cổ ra vẻ đau đớn nói với vợ:
- Em xem nè! Con chó quỷ cắn bầm cổ anh này!
Vợ ông ta vội phanh áo mình ra phân bua liền:
- Anh coi đó! Nó cũng cắn tím bầm mình mẩy em này!!!

11.Bác sĩ nhãn khoa
Một bác sĩ nhãn khoa sau khi thực hiện thành công một ca phẫu thuật mắt cho một hoạ sĩ nổi tiếng bị mù. Để tỏ lòng biết ơn, ông hoạ sĩ nọ bèn hoạ chân dung của bác sĩ và lồng trong một con mắt thật lớn.
Mấy hôm sau, họa sĩ nọ mang tranh đến tặng bác sĩ. Khi đó, ông bác sĩ nhãn khoa đang có bài thuyết trình trước những quan khách nổi tiếng. Nhận được tranh rồi, vị bác sĩ toát mồ hôi hột, nghĩ thầm:
- Cũng may mình học nhãn khoa, chứ nếu học phụ khoa thì hôm nay được một phen bẽ mặt.

12.Chưa nói hết đã hiểu
Trung tâm y tế của bến cảng có một bác sĩ rất hay nói bậy. Các nữ y tá bàn nhau, mỗi khi ông ta nói bậy thì họ sẽ cùng nhau ra khỏi phòng. Một hôm, có một chiếc tàu mới cập bến, bác sĩ phải xuống tàu kiểm tra phòng dịch. Khi trở lên bến, ông kể chuyện oang oang:
- Sáng nay tớ khám bệnh cho cánh đàn ông trên tàu, người thì lùn, da vàng, mũi tẹt, chân tay nhỏ, chỉ được cái...
Mới nói đến đó, các nữ y tá đã chạy hết ra khỏi phòng. Ông ta ngạc nhiên gọi với theo:
- Các cô vội gì mà phải tranh nhau như vậy?! Họ còn ở đây một tuần cơ mà.

13.Công bằng và minh bạch
Một phiên tòa kéo dài đã nhiều ngày vẫn không phân thắng bại. Một bữa nọ, giữa công đường, ông chánh án gọi luật sư của cả bên nguyên và bên bị, nghiêm sắc mặt nói: "Trò đút lót không giải quyết được gì đâu!"
Dừng một lát, ông chánh án tiếp:
- Hôm qua tôi đã nhận được tiền hối lộ của cả hai ông. Luật sư Dương đưa 150.000 USD, còn luật sư Hoàng đưa 200.000 USD.
Hai luật sư tái mặt, nhìn nhau run rẩy. Ông chánh án rút ví móc tiền ra và đề nghị với luật sư Dương:
- Luật sư nhanh chóng hối lộ tôi thêm 50.000 USD để chúng ta còn tiếp tục tranh tụng một cách thật công bằng và minh bạch.

14.Sự chào đón bất ngờ
Mỗi tối sau bữa ăn, Harry lại đi đến quán rượu và chỉ trở về khi đã quá nửa đêm trong tình trạng say mèm. Anh ta thường không thể tra nổi khóa vào cửa và lần nào vợ anh ta cũng phải ra mở giúp. Rồi cô ta chửi mắng chồng liên tục mà Harry vẫn tính nào tật nấy.
Một ngày nọ, cô vợ tuyệt vọng tâm sự với bạn về ông chồng của mình. Cô bạn nói: "Tại sao bạn không đối xử với anh ấy khác đi mỗi khi anh ta trở về. Thay vì nhiếc móc anh ấy, hãy nói những lời ngọt ngào và đón chào anh ấy bằng một nụ hôn. Có thể anh ấy sẽ thay đổi". Cô vợ cho đó là một ý kiến hay.
Tối hôm đó, Harry lại bỏ đi sau bữa ăn và trở về lúc nửa đêm trong tình trạng quen thuộc. Vợ anh ta nghe thấy tiếng liền vội vàng ra mở cửa. Thay vì lu loa như mọi lần, cô nàng dìu anh ta vào phòng, đặt lên ghế rồi cởi giày cho anh ta. Vừa nắn bóp, cô vợ vừa thì thầm vào tai Harry: "Anh yêu, đã muộn rồi, chúng mình lên gác ngủ nhé anh".
Harry trả lời với giọng nói ngắc ngứ: "Ừ

15.Phụ nữ ở những lứa tuổi khác nhau
Sự khác biệt ở những cô gái tuổi 8, 18, 28, 38, 48 và 58 là gì? 8 tuổi - Bạn đưa nàng lên giường và kể cho nàng một câu chuyện. 18 tuổi - Bạn kể cho nàng một câu chuyện và đưa nàng lên giường.
28 tuổi - Bạn không cần kể câu chuyện nào và đưa nàng lên giường.
38 tuổi - Nàng kể cho bạn một câu chuyện và đưa bạn lên giường.
48 tuổi - Bạn kể cho nàng một câu chuyện để tránh phải lên giường.
58 tuổi - Bạn ở lỳ trên giường cả ngày để tránh phải nghe câu chuyện của nàng.

16.Cuộc gọi di động
Mấy người đàn ông đang ngồi trong phòng thay đồ tại một CLB tennis. Một chiếc di động trên băng ghế bỗng reo lên và anh chàng ngồi bên liền trả lời bằng chức năng tự động. Mọi người xung quanh chăm chú lắng nghe.
Người đàn ông: Xin chào.
Người phụ nữ: Anh yêu, em đây. Anh đang ở CLB, đúng không?
- Đúng.
- Em đang ở siêu thị. Em thấy cái áo khoác lông này rất đẹp. Nó chỉ có 1.000 USD thôi. Em mua nó có được không anh?".
- Ừ, em cứ mua đi.
- Em cũng vừa qua gian hàng Mercedes và thấy một model mới. Em rất thích nó anh à.
- Bao nhiêu?
- 60.000 USD
- Được đấy, nhưng với giá đó, anh muốn mọi phụ tùng đi kèm.
- Tuyệt vời. À còn một điều nữa... Ngôi nhà mà chúng ta muốn mua năm ngoái lại được rao bán anh à. Người ta đòi 950.000 USD.
- Được, thế thì em liên hệ đi, nhưng đề nghị 900.000 USD thôi.
- OK. Em sẽ gặp anh sau. Em yêu anh.
- Chào em. Anh cũng yêu em.
Người đàn ông tắt máy. Mọi người khác trong phòng vẫn đang tròn xoe mắt.
Người đàn ông liền hỏi: "Có ai biết điện thoại này là của ai không?".

17.Bác sĩ hẹn
Một cô gái đến phòng khám sản, bác sĩ khẳng định cô có bầu, rồi lặng thinh đóng lên bụng cô một con dấu gì đó.
Về nhà cô bảo chồng đọc xem nội dung con dấu trên bụng cô là gì. Phải dùng kính lúp, anh chồng mới đọc được. Đó là: "Khi nào có thể đọc được dòng chữ này bằng mắt thường, hãy đưa cô ấy đến nhà hộ sinh".

18.Thời tiết xấu
Một anh chàng thường xuyên đi câu cá vào các sáng chủ nhật. Anh ta dậy sớm, chuẩn bị bữa trưa, buộc thuyền lên xe và đi câu cả ngày.
Một buổi sáng chủ nhật như thường lệ, anh chàng dậy sớm, lặng lẽ mặc quần áo, chuẩn bị bữa ăn, mang theo cần câu và lái xe đi. Khi ôtô ra khỏi garage, trời đổ mưa như trút, gió thổi ầm ầm. Anh chàng đành quyết định quay về. Cất đồ nghề đi, chàng lặng lẽ cởi quần áo rồi leo lên giường.
Tại đó, cô vợ vẫn đang thiu thiu ngủ, anh chàng vuốt ve lưng vợ và thì thầm nói: "Thời tiết hôm nay thật kinh khủng".
Cô vợ ngái ngủ đáp: "Anh có tin được không, giờ này mà gã chồng em vẫn đi câu!".

19.Tiền
Một phụ nữ, thuộc phe quá khích đòi quyền nam nữ bình đẳng, đã cởi hết quần áo bước vào quán bar và gọi bia ra uống. Sau ly bia thứ ba, cô ta phát hiện người bồi bàn cứ nhìn mình soi mói. Đây là thời cơ tốt để cô này phát biểu chủ đề.
- Nhìn gì mà nhìn, bộ chưa từng thấy sao? Đây đâu phải là chuyện kỳ lạ hay quái dị. Các ông đã có thể không mặc áo nơi công cộng thì phụ nữ cũng có quyền như vậy và còn có thể làm hơn nữa...
Người bồi bàn ngắt lời cô ta:
- Rất tiếc là tôi không quan tâm đến chuyện đó. Tôi chỉ nhìn xem bà để tiền ở chỗ nào để thanh toán cho những ly bia thôi.

20.Nếu có tiền
Nhìn thấy một chiếc Rolls-Royce lộng lẫy, chồng quay sang vợ tấm tắc:
- Em xem kìa! Xe thế mới gọi là xe chứ!
- Nhưng xe này không đi picnic, không ra rừng ngoại ô được.
- Ôi dào, nếu em đã có tiền mua chiếc xe như vậy, thì người ta sẽ mang cả rừng đến tận nhà cho em.

21.Đoán tên
Ba bà dắt ba đứa con vào gặp một vị bác sĩ tâm lý. Bác sĩ hỏi bà thứ nhất: "Cháu bé tên gì vậy, thưa bà". Dạ cháu tên là Mỹ Kim.
Bác sĩ reo lên: Vậy tôi nghĩ bà rất là ham tiền, đầu óc bà lúc nào cũng lởn vởn đồng đôla nên bà đặt tên cháu bé là Mỹ Kim.
Quay qua bà thứ hai, bác sĩ hỏi: Còn cháu tên gì vậy bà?
- Dạ cháu tên Đường!
Bác sĩ hớn hở: Vậy tôi nghĩ bà chắc thèm ăn đồ ngọt, lúc nào bà cũng tơ tưởng tới những nồi chè, những ly kem...
Đột nhiên bà thứ ba đứng dậy nói:
- Đoán như thế mà cũng đoán. Rồi bà quay sang thằng con: Mình về thôi Cu!

22.Đi trước một bước
Một người đàn ông bị đưa ra xét xử vì tội giết người và nếu bị kết án, sẽ phải lên ghế điện. Người anh trai liền tìm cách hối lộ một thành viên trong hội thẩm đoàn và hứa sẽ trả 10.000 USD nếu em mình chỉ bị kết tội ngộ sát.
Về nhà, anh khoe khoang về tài năng xếp đặt của mình. Cả gia đình đều vui vẻ và đưa 10.000 USD cho anh.
Hội thẩm đoàn đi nghỉ trong cả tuần và quay trở lại với bản kết án về tội ngộ sát. Sau phiên xử, người anh trai đến cảm ơn rối rít và trả cho vị thẩm phán nọ 10.000 USD.
Viên thẩm phán cho biết, không hề dễ để thuyết phục cả hội thẩm đoàn thay đổi bản án sang tội ngộ sát. Họ đều muốn thả phạm nhân đi.

23.Lý do chính đáng
Một anh chàng mới tậu được một chiếc Mercedes mới toanh và quyết định thử tốc độ trên một con đường vắng vào buổi tối. Khi kim đồng hồ chỉ tới 130km/giờ, anh bất chợt nhìn thấy chiếc đèn nhấp nháy xanh đỏ ở phía sau.
"Họ không thể nào bắt kịp được chiếc Mercedes này", anh tự nhủ và tăng tốc. Kim đồng hồ chỉ tới 140, 150 và cuối cùng 200 mà ánh đèn vẫn bám đuổi phía sau.
Cuối cùng chàng ta đành phải tấp vào lề đường. Viên cảnh sát đi tới, cầm lấy bằng lái xe mà không nói một lời nào. Sau khi xem xét, anh ta nói: "Hôm nay tôi đã có một ca làm việc tồi tệ và đây là lần bắt xe cuối cùng của tôi. Tôi không muốn đụng đến giấy tờ nữa, vì vậy nếu anh có thể đưa ra một lý do cho việc đi quá tốc độ mà tôi chưa từng nghe thấy, thì tôi sẽ để anh đi".
"Tuần trước, vợ tôi đã bỏ đi cùng với một cảnh sát", anh chàng nói, "và tôi lo sợ rằng anh đang đem trả lại cô ấy cho tôi".
"Chúc anh một buổi tối vui vẻ", viên cảnh sát trả lời.

24.Điều đơn giản
Phóng viên hỏi một triệu phú về bí quyết làm giàu: "Nhờ ai mà ông trở thành triệu phú như hiện nay?".
Triệu phú thản nhiên đáp: "Tất cả là nhờ vợ tôi. Tôi sẽ chẳng thể trở thành triệu phú nếu không có sự giúp đỡ của cô ấy".
Phóng viên: "Chà, bà nhà hẳn là người tuyệt vời. Thế trước khi cưới bà nhà thì ông là người thế nào?".
Triệu phú chua chát: "Lúc đó tôi là tỷ phú, cô ạ!".

25.Phong trào làm việc tốt
Cô giáo lớp 1 dạy học sinh: "Chúng ta cần phải phát động phong trào làm việc tốt. Từ mai trở đi, khi đến lớp mỗi em phải kể cho cô nghe một việc tốt nhé!".
- Thưa cô vâng ạ!
Ngày hôm sau:
- Em nào có việc tốt kể cho cô nghe.
- Dạ thưa cô - một em đứng lên - Hôm nay em dẫn một bà già qua đường ạ!
- Tốt, tất cả lớp phát huy học tập theo bạn nhé!
Ngày hôm sau:
- Nào, thế hôm nay những ai đã làm việc tốt?
- Dạ thưa cô, hôm nay chúng em học tập bạn hôm qua và đều đã làm việc tốt ạ! - cả lớp đứng lên đồng thanh nói.
- Vậy là rất tốt. Các em đã làm những việc gì nào?
- Chúng em cùng dẫn một bà già qua đường ạ.
- Tốt lắm! Nhưng tại sao có một bà già mà cả lớp cùng dẫn qua đường hả?
- Dạ thưa cô, vì bà ấy... không thích qua đường ạ.

26.Như mọi khi
Về nhà khuya, người chồng biết thân biết phận lên giường với vợ nhưng khi nhìn xuống cuối giường lại thấy 6 cái chân. Anh tức giận hỏi: "Mọi khi tôi với cô chỉ có 4 chân, sao hôm nay lại là 6?".
- Nốc cho lắm rượu vào. Anh thử xuống tận cuối giường đếm từng cái xem!
Chồng nghe lời đi xuống cuối giường đếm từng cái một và công nhận:
- Đúng là chỉ có 4 cái chân, như mọi khi.

27.Nhan sắc
Một cặp vợ chồng vừa chuyển tới sống ở một ngôi nhà tập thể mới. Chị vợ đề nghị với anh chồng: "Mình này, phải mua ngay một tấm rèm cửa sổ, nếu không khi em thay quần áo, hàng xóm nhìn thấy hết".
- Chi tiêu phí phạm làm gì? - Anh chồng đáp - Anh dám cá rằng khi nhìn thấy em như vậy, thì họ sẽ phải tự trang bị rèm cho cửa sổ nhà mình thôi.

28.
Ngụy trang

Chỉ huy gọi một anh lính trẻ lên để khiển trách: "Vì sao trong đợt hội thao vừa rồi, đồng chí lại làm lộ trận địa mai phục của quân ta. Không những thế còn mắng nhiếc, sỉ nhục, thậm chí suýt hành hung hai người dân địa phương?".
- Thưa chỉ huy, thực hiện nhiệm vụ được giao, em đã ngụy trang thành cái gốc cây. Đôi "người địa phương" ấy dẫn nhau đến ngồi dưới gốc cây. Đầu tiên, họ nói chuyện anh anh em em, chim xa tổ lá xa cành, rồi thề non hẹn biển... Mặc dù phải nghe toàn điều lừa đảo nhưng em vẫn một mực nín nhịn, quyết không làm lộ trận địa của ta. Sau đó đến màn ôm ấp, vuốt ve, hôn hít, rồi đòi hỏi này nọ... Mặc dù bản thân cũng rất bị kích động, em vẫn quyết không làm lộ trận địa.
- Những điều đó chẳng liên quan gì đến việc đồng chí để lộ trận địa mai phục của quân ta.
- Đúng thế, thưa chỉ huy. Nhưng đến lúc anh "dân địa phương" dở con dao nhíp ra và định khắc tên chị "dân địa phương" vào... mông em thì em không thể chịu đựng thêm được nữa...
TT

12 THÁNG ANH ĐI