29 thg 8, 2011

Mắt của trái tim



Mắt Của Trái Tim
Vũ Kế Dũng

Xilin Diweng có một bài hát: Because you love me.
Lời ca viết rằng:
“Nếu anh không nhìn thấy,
em sẽ là mắt anh,
khi anh không nói,
em sẽ là tiếng anh”.


Lời hát đã khiến tôi nhớ đến
đôi vợ chồng mù ở trong thôn bà ngoại.

Đôi vợ chồng mù trong thôn bà ngoại tôi năm nay đã sắp sửa tám mươi tuổi, đã có một đống con cháu. Nghe bà ngoại kể lại, khi cưới nhau, chồng ngồi xe bò đi đón vợ. Tuy cô dâu chú rể đều không nhìn thấy mầu sắc, song chú rể vẫn sai người cuốn đầy lụa điều lên đầu bò và xe bò. Đón cô dâu về nhà, chú rể dắt tay vợ rà mò từ nhà trên xuống nhà bếp, rò mò khắp lượt các ngóc ngách trong gia đình. Viêc khó hơn cả là múc nước ở cạnh giếng, lần nào cũng thế, hai người dắt nhau đi, vợ sờ thấy cây gỗ ở cạnh giếng, một tay ôm chặt cây, còn tay kia níu chặt tay chồng. Chồng quỳ trên sàn giếng thả gầu xuống múc, kéo nước lên. Trong thôn có người giúp, hai người thường từ chối, họ bảo:”các anh giúp được 1 giờ, không giúp được chúng tôi một đời”. Cứ như thế, hai vợ chổng luôn luôn tay dắt taynhau gánh nước cho đến khi đứa con đầu tiên có thể gánh nổi 1 gánh nước. Dân làngcảm thấy lạ lùng, đã có mười mấy trai gái trẻ trong thôn đã từng vì đất trơn trượt chân ngã xuống giếng, nhưng hai vợ chồng chưa bao giờ như vậy. Càng lạ lùng hơn là chuyện, mặc dù có đông người đang cùng nhau nói chuyện hỉ hỉ hả hả, hai người mù vẫn có thể nhờ vào tiếng hít thở dài dài tìm ra nhau.

Bởi không nhìn thấy, dù mưa dù gió, người ta thường trông thấy hình ảnh hai người dắt tay nhau. Dù làm việc gì, họ cũng tay trong tay. Tay trong tay, hình tượng để nhiều nhà văn viết đi viết lạiấy, đã xuất hiện suốt nửa thế kỷ ở trong cái thôn nhỏ bé không ai biết đến này.

Ông chồng là tay thổi kèn trong ban nhạc của thôn quê, thường đến các đám cưới của người khác thổi nyhững bài: “Trăm con chim nhìn Phượng Hoàng”, “niềm vui đầy nhà”..măc dù đi thổi kèn ở đâu, ông cũng chỉ có một yêu cầu, cho người vợ mù cùng đi. Khi chồng thổi kèn, vợ ngồi bên ông lặng lẽnghe, dường như những điệu nhạc vui nhộn này đều là thổicho bà. Trên khuôn mặt người vợ mù thường hay đỏ ửng lên, khiến ai nấy cũng cảm thấy người đàn bà mù đang ngồi lặng lẽ kia xinh đẹp biết chừng nào.

Về sau này, hai vợ chồng đều đã già, không bao giờ đi ra ngoài nữa, chỉ quanh quẩn trồng nhiều hoa trong sân to nhà mình, đều là giống hoa tươi rực rỡ, đến kỳ hoa nở, cả sân đỏ rực. Một lần ông sơ ý bị ngã què chân. Trong những ngày ông nằm ở bệnh viện, bà bốn ngày liền không ăn một hạt cơm vào bụng, bà bảo, không sờ thấy bàn tay quen thuộc kia, bà không còn hồn vía nào nữa.

Con cái sáng mắt cũng đã từng vui đùa hỏi bố mẹ: nếu ông trời giành cho bố mẹ một cơ hội, liệu bố mẹ có định dùng mắt nhìn nhau không?.

Bà mẹ mù trả lời:” các con nhìn người bằng mắt, bố mẹ nhìn người bằng trái tim, tim sáng hơn mắt, thật hơn mắt”.

Ông bố mù bảo:”Dắt tay nhau một đời, có bao nhiêu đường vân trong lòng bàn tay mẹ con, đã đều in vào trái tim bố. Bố chưa bao giờ trông thấy một người đẹp nhất, trong trái tim bố, thì mẹ con là người đẹp hơn cả. Cần mắt để làm gì, mắt là thứ tham lam nhất trần đời, nhìn cái gì cũng chia ra tốt, xấu, xinh không xinh, nhìn cái gì muốn có cái đó, trên mặt người ta có một cái rỗ cũng có thể để trong tim suốt đời.

Cũng có người nêu ra ví dụ, nếu vợ mù trông thấy mặt chồng bị bỏng sẽ có cảm tưởng như thế nào. Lại có người giả thiết, nếu chồng nhìn thấy hai tròng mắt vợ lõm hẳn xuống, liệu có hối hận lời mình nói không. Bởi vì chúng ta có mắt, cho nên khi chúng ta nhìn người, chỉ dựa vào cảm giác của mắt, mà quên dùng trái tim. Đúng như người vợ mù đã nói, con mắt của trái tim mới sáng nhất, thật nhất.

26 thg 8, 2011

LM NGUYỄN VĂN KHẢI NÓI VỀ ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC


THƯỢNG KHẨN & RẤT QUAN TRỌNG : MỜI NGHE LM NGUYỄN VĂN KHẢI NÓI VỀ ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC

Trân trọng kính chuyển để QUÝ VỊ mở nghe, hiếu rỏ hiện tình đất nước, phổ biến rộng rãi trong ngòai nước trên mọi phương tiện. Quốc dân đồng bào lại một lần nửa hoanh nghênh, trân quý, rất khâm phục tinh thần yêu nước thương dân, yêu đạo của LM PHERO NGUYỄN VĂN KHẢI (GIÁO XỨ THÁI HÀ). Lm Khải rất can đảm đã trình bày sự thật ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC mà không sợ tà quyền CSVN, trả thù đàn áp, thủ tiêu, giết hại. Đây là tấm gương soi sáng để các Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng ni, Mục sư và Lãnh đạo các tôn giáo khác (thuần túy hay quốc doanh hèn nhát) noi theo.

VUA LÝ THANH TÔNG NÓI : ''NẾU LẤY MỘT TẤC ĐẤT CỦA THÁI TỔ LÀM MỒI CHO GIẶC THÌ TỘI PHẢI CHU DI''. Còn các Lãnh dạo bạo quyền CSVN đã nhượng đất, nhượng biển, và sẽ bán nước cho quan thầy chúng là giặc Tàu cộng thì tội chúng, tòan dân gần 90 triệu người xữ lý thế nào?.

Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý xây dựng của đồng bào trong ngòai nước, Luật gia, Luật sư, Trí thức, các Lãnh Đạo tôn giáo, các đảng Phái chính trị, các Hội đòan có lương tri, yêu nước, chúng ta phải tìm phương cách nào hửu hiệu để bảo vệ ĐẤT NƯỚC & DÂN TỘC VIỆT-NAM. Các ý kiến xây dựng sẽ được chúng tôi lần lượt cho phổ biến trên một trăm ngàn émails quốc nội & hải ngọai.
Kính mến,
Bs LÊ Thị Lễ

22 thg 8, 2011

Chuyện về một hầu bàn người Nhật


Chuyện về một hầu bàn người Nhật
Nguyễn Quang Thiều

Một lời từ chối lịch sự, một cái cúi đầu, một bước đi lùi, một nụ cười thân ái, một gương mặt tự tin chỉ của một người hầu bàn đã một lần nữa làm nên nhân cách người Nhật.

Cả lượt đi và về Hà Nội - Boston và Boston - Hà Nội, tôi đều quá cảnh ở sân bay Narita, Tokyo chừng dăm tiếng đồng hồ. Khi mua vé, một số người khuyên đừng đi qua Nhật vì có thể bị nhiễm phóng xạ. Nhưng có lẽ vì tôi đã quá cảnh Tokyo nhiều lần rồi nên thành thói quen và cũng thấy nhớ. Và thú thực, tôi cũng muốn được quan sát nước Nhật đang sống như thế nào sau cơn " tiểu hồng thủy" mới tràn qua cho dù chỉ ở một trong không gian nhỏ là một sân bay. Báo chí đã nói về bản lĩnh và nhân cách người Nhật sau thảm họa sóng thần cũng như bản lĩnh và nhân cách người Nhật sau khi người Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống đất nước này. Và cả bản lĩnh của người Nhật ngay khi dân tộc họ trở thành một trong những dân tộc giàu có nhất thế giới.

Ở nhiều nơi trong khu vực sân bay Narita, người ta có dán một tờ giấy với nội dung nước Nhật đang gặp khó khăn sau thảm họa sóng thần nên thiếu năng lượng, vì vậy quản lý sân bay xin lỗi hành khách khi hệ thống điều hòa trong khu vực sân bay không thể phục vụ hành khách như trước kia. Lúc đầu không nhìn thấy lời xin lỗi đó, tôi tỏ ra khó chịu với sự nóng bức trong sân bay sau một chuyến bay quá dài. Nhưng khi đọc được lời xin lỗi đó thì tôi lại thầm xin lỗi những người Nhật. Lúc đó, tôi thấy mình thật ích kỷ. Sống tử tế thật khó. Có lẽ chỉ khi chết rồi con người mới có thể tuyên bố rằng mình đã sống hoàn toàn tử tế.

Tôi là kẻ nghiện thuốc lá. Bởi thế, xuống đến sân bay là tôi đảo mắt kiếm tìm phòng hút thuốc. Cho đến bây giờ, chỉ ở Mỹ là tôi không tìm thấy phòng hút thuốc trong sân bay còn tất cả các sân bay tôi đã từng qua đều có phòng hút thuốc. Nhưng chưa ở đâu, phòng hút thuốc trong sân bay lại rộng, đẹp và sạch như ở sân bay Narita. Tất cả mọi thứ trong phòng hút thuốc ở Narita đều đẹp và sạch như là một phòng khánh tiết. Nhìn là biết những người quản lý sân bay đã quan tâm đến cái phòng hút thuốc như thế nào. Nhưng xin bạn nhớ rằng họ quan tâm không phải vì họ khuyến khích người ta hút thuốc mà là lối sống văn hóa của họ. Hút thuốc có hại sức khỏe cho người hút thuốc và cũng có hại phần nào đó cho người bên cạnh. Nhưng không vì sự có hại đó mà người không hút thuốc tẩy chay người hút thuốc. Phép ứng xử với những người hút thuốc qua cách thiết kế và chăm sóc các phòng hút thuốc là một phép ứng xử văn hóa của những người quản lý sân bay Narita. Hút thuốc không có tội, nghĩa là không vi phạm luật pháp trừ khi anh hút thuốc ở nơi cấm hút. Và vì vậy, người hút thuốc phải được ứng xử một cách văn hóa và bình đẳng. Tôi nói vậy vì tôi thấy phòng hút thuốc ở nhiều sân bay trên thế giới giống như địa ngục. Một cái phòng nhỏ xíu chỉ dăm người vào hút thuốc là chật cứng. Những người hút thuốc chen nhau trong mù mịt khói thuốc trông thật thảm hại. Có lẽ những người quản lý ở các sân bay đó tìm cách đày đọa và sỉ nhục những người hút thuốc để cho họ phải bỏ thuốc chăng ?

Tôi còn nhớ mãi một trong những câu chuyện đau lòng trong các trại giam giữ những người Việt Nam vượt biên ở Hongkong những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Cảnh sát Hongkong cai quản những trại đó đã ra lệnh những người Việt Nam vượt biên mỗi ngày mỗi người phải bắt 50 con ruồi thì mới được phát khẩu phần ăn. Đó là một sự sỉ nhục. Đó là vô lương tâm. Tôi đã trực tiếp trò chuyện với một số người từ trại đó trở về. Họ đã khóc khi kể lại câu chuyện bắt ruồi để được ăn. Trước kia tôi không nghĩ đến việc bỏ thuốc lá. Nhưng khi nhìn những phòng hút thuốc ở sân bay Narita và cách những người lao công lau chùi phòng hút thuốc đã làm tôi nghĩ tới việc bỏ thuốc lá. Người ta chỉ có thể thức tỉnh con người bằng văn hóa chứ không bao giờ thức tỉnh con người bằng áp bức dưới bất cứ hình thức nào được.

Vì thời gian quá cảnh ở sân bay Narita quá dài nên chúng tôi tìm đến một quán ăn trong sân bay. Tôi gọi một bát mì hải sản. Theo trí nhớ của tôi thì giá một bát mì như vậy vẫn không có gì thay đổi sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và đặc biệt sau thảm họa sóng thần. Lúc đó, nghĩ lại những cơn bão giá ở trong nước như trận đồ bát quái mà người tiêu dùng không thể tìm thấy đường thoát ra. Khi chúng tôi ngồi vào bàn thì một người hầu bàn bước đến cúi đầu chào chúng tôi và hỏi chúng tôi dùng gì. Rồi anh mang nước cho chúng tôi. Lúc đó, tôi vô tình chạm vào tay anh và làm đổ cốc nước. Nước làm ướt một chiếc giày của tôi. Trong khi tôi lúng túng chưa biết làm gì thì người hầu bàn đã nói lời xin lỗi và quỳ xuống lau chiếc giày của tôi bằng một chiếc khăn trắng tinh. Tôi thực sự bất ngờ và thấy xấu hổ. Tôi nghĩ đến cách ứng xử của những người Việt Nam ở những nơi công cộng. Người hầu bàn lau chiếc giày bị ướt của tôi kỹ lưỡng như đang lau một viên kim cương. Tôi cam chắc rằng nếu một người hầu bàn trong những quán ăn ở Việt Nam cúi xuống lau giày cho khách thì họ sẽ rất xấu hổ. Nhưng họ biết đâu rằng : chính tôi, người có chiếc giày được lau, mới là người thấy xấu hổ chứ không phải là người lau chiếc giày ấy cho tôi.

Khi ăn xong, tôi đã để lại một món tiền tip kha khá vì muốn bày tỏ sự biết ơn của mình với người hầu bàn đó. Nhưng người hầu bàn nói họ không nhận tiền tip. Một lần nữa, tôi thực sự ngạc nhiên. Tôi cố tìm cách đưa tiền tip cho người hầu bàn nhưng người hầu bàn vẫn nhã nhặn từ chối. Năm 1992, trong chuyến đi đầu tiên của mình đến Mỹ, tôi có đến một quán ăn người Việt ở New York. Khi ăn xong tôi đã để 10 đô la tiền tip lại. Người hầu bàn là một người Mỹ gốc Việt đã tỏ ra vô cùng bực bội với tôi vì tôi đã không để 12 đô la mà chỉ để 10 đô la. Sau này tôi mới biết họ tính phần trăm tiền tip theo tổng giá của bữa ăn. Tôi thực sự không biết điều đó. Sao người hầu bàn kia không giải thích cho tôi? Và sao người hầu bàn kia không có thể nói: "Quý ông còn thiếu 2 đô la tiền tip theo quy định, nhưng nếu quý ông không có 2 đô la thì cũng không sao. Mong quý ông trở lại nhà hàng chúng tôi để chúng tôi được phục vụ quý ông". Nếu nói như vậy, người hầu bàn và nhà hàng của anh ta sẽ không bao giờ mất 2 đô la (vì đương nhiên tôi sẽ trả thêm) mà còn được một cái gì đó giá trị gấp ngàn lần giá trị của 2 đô la kia. Và chắc chắn những lần tới New York sau đó tôi sẽ tìm đến nhà hàng đó. Bởi có gì hạnh phúc hơn khi được trở lại một nơi chốn đã từng gieo vào lòng mình sự xúc động và kính trọng. Nhưng bây giờ, trong các nhà hàng ở Mỹ, người ta tính tiền tip vào luôn hóa đơn thanh toán. Nghe rất khoa học và sòng phẳng nhưng vẫn không ổn ở một khía cạnh nào đó.

Sau khi từ chối tiền tip, người hầu bàn hỏi chúng tôi có cần gì nữa mà anh ta có thể phục vụ chúng tôi. Chúng tôi cảm ơn anh. Anh cúi đầu chào chúng tôi và bước lùi một bước mời chúng tôi đi. Một lời từ chối lịch sự, một cái cúi đầu, một bước đi lùi, một nụ cười thân ái, một gương mặt tự tin chỉ của một người hầu bàn đã một lần nữa làm nên nhân cách người Nhật. Họ đã từ một đất nước nghèo nàn và tan hoang vì chiến tranh trở thành một đất nước văn minh, văn hóa và giàu có. Họ không bán hàng giả, hàng độc hại, họ không dùng tiền hay vũ khí đe dọa người khác.

Sự nhẫn nại của người Nhật là sự rèn luyện nhân cách, là ứng xử văn hóa, là sự tôn trọng con người và ý chí vươn lên. Sự nhẫn nại đó không chứa đựng những tham vọng ngông cuồng và những mưu mô. Cũng như người Nhật đã dạy cho con em của họ về những khó khăn mà dân tộc Nhật phải đương đầu, dạy cho mỗi người Nhật hãy bằng hành động trung thực của mình làm cho văn hóa Nhật, nhân cách Nhật cũng như giá trị những sản phẩm made in Japan lan tỏa vào lòng con người trên toàn thế giới chứ không phải là những cuộc "xâm lăng" đầy mưu tính đôi khi phi nhân và ác độc.

GỞI NGƯỜI DƯỚI MỘ
by Ðinh Hùng


Trời cuối thu rồi - Em ở đâu ?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu ?
Thu ơi ! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu .

Em mộng về đâu ?
Em mất về đâu ?
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
Đấy màu hương khói là màu mắt xưa .

Em đã về chưa ?
Em sắp về chưa ?
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ
Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.

Em hãy cười lên vang cõi âm,
Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
Những hồn phiêu bạt bao năm trước,
Nay đã vào chung một chỗ nằm.

Cười lên em !
Khóc lên em !
Đâu trăng tình sử,
Nép áo trần duyên ?
Gót sen tố nữ
Xôn xao đêm huyền.
Ta đi, lạc xứ thần tiên ,
Hồn trùng dương hiện bóng thuyền U Minh.

Ta gởi bài thơ anh linh,
Hỏi người trong mộ có rùng mình ?
Nắm xương khô lạnh còn ân ái ?
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình ?

Hỡi hồn tuyết trinh !
Hỡi người tuyết trinh !
Mê em, ta thoát thân hình,
Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.

Em có vui thêm ?
Em co' buồn thêm ?
Ngồi bên cửa mộ ,
Kể cho ta biết nỗi niềm.

Thần chết cười trong bộ ngực điên,
Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
Hơi đất mê người -- Trăng hiện lên.

21 thg 8, 2011

Cám ơn lòng can đảm



Vũ Đông Hà

1. Bố mẹ chúng tôi đã đào mồ chôn sâu lòng can đảm từ mùa đông Cải cách ruộng đất, từ những ngày Trần Dần đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Can đảm đã biến mất trên cuộc đời khi mảnh đất tổ tiên trở thành một phần của hợp tác xã, khi những miếng thịt không còn trong cửa hàng mậu dịch, và hơi thở tự do của Nhân Văn Giai Phẩm đã vào tù. Từ ấy, chúng tôi ra đời. Sữa mẹ ngọt nhưng luôn có mùi sợ hãi. Sợ hãi! Gia tài lớn nhất để lại cho con. Can đảm? Làm sao chúng tôi mất đi cái chưa bao giờ có - từ thuở lọt lòng cho đến lớn khôn!?

2. 3 giờ sáng thứ Hai sau biểu tình Chủ nhật lần thứ 9. Bạn không ngủ được, réo vào Skype. Buồn quá! Bức xúc quá! Cả một nước bao nhiêu triệu người mà chỉ có mấy trăm mạng tuần hành biểu tình! Mấy thằng bạn của mình ở Cầu Giấy, ở Hàng Buồm, còm say sưa trên mạng. Kêu gọi, bàn mưu tính kế, nên dùng khẩu hiệu này, nên hát bài hát kia... Chống TQ không đếch đủ, phải đả đảo tụi bán nước... Kiếm địa chỉ thằng Minh đi, tao sẽ làm thịt nó... Thả truyền đơn phải làm như vậy này... 9 giờ sáng, số người tuần hành đông ra phết, mình máu lên gọi tụi nó... Không sao, ra đi! Nhắn luôn qua thôn Danlambao... Chẳng thấy đứa nào! Về nhà mới biết tụi nó bình an hoan hô và đả đảo bằng còm!... Lại đọc cái còm: hôm nay trời mát mà, sao giải tán sớm thế...!

3. Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội... Tôi muốn nói với bạn về những điều đã viết nhưng cũng bằng thừa. Đã mất mát quá nhiều để có thể bù đắp bằng lời, tự an ủi hảo với nhau. Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, Biên giới Việt Bắc... Những mất mát to lớn. Nhưng thế hệ chúng tôi và thế hệ đàn anh đã mất đi nhiều thứ tủi nhục hơn mà chính những mất mát đó đã dẫn đến những mất mát được viết thành khẩu hiệu xuống đường ngày hôm nay. Chúng tôi mất đi lòng can đảm, mất tinh thần làm chủ vận mạng chính mình và vận mạng đất nước, mất đi ý chí hy sinh bình an cá nhân để đạt được những lợi ích chung. Mất hay không có? Làm sao có thể mất được những thứ mà chúng tôi không có ngay từ thuở lọt lòng!?

4. Đã bao nhiêu năm chúng tôi đã bị bao vây, gò ép, uốn nắn như những con cá mòi trong hộp sắt với nước sốt màu đỏ để từng ngày, mỗi tháng, nhiều năm chúng tôi nghiễm nhiên trở thành những cái đinh, con ốc của guồng máy. Trong căn nhà nhỏ, bố chúng tôi bao vây chúng tôi bằng quá khứ kháng chiến, bằng thúc đẩy tương lai chúng tôi phấn đấu vào đoàn. Mẹ bao vây với lời khuyên lẫn nước mắt - thôi con! ai sao mình vậy. Anh bao vây bằng cảnh báo - liệu hồn, đừng làm ảnh hưởng đến vị trí, công ăn việc làm của anh. Bố mẹ anh chị tự bao vây chính họ và bao vây chúng tôi. Đó là cách sống an toàn nhất.

5. Trong ngôi nhà lớn chúng tôi bị bao vây, gò ép, uốn nắn để ngày còn bé khăn quàng đỏ xiết cổ, nằm mơ chỉ mong gặp lãnh tụ vô vàn kính yêu. Lớn lên chỉ có một đường yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Cuộc đời chúng tôi và đất nước này đã có đảng lãnh đạo, soi đường dẫn lối với 700 tờ báo bao vây, 300 kênh truyền thanh truyền hình bao vây, một rừng luật rừng bao vây. Chúng tôi bị bao vây bởi hào quang của những chiến thắng thần thánh, bởi lãnh tụ vĩ đại, bởi tấm bảng chỉ đường vĩ đại, bởi lừa dối từ những người bị lừa dối. Bạn bè chúng tôi bao vây lẫn nhau - đừng sống khác nhau, đừng tìm kiếm để đừng có những gì mà anh em muốn nhưng không dám có: tự do, độc lập và can đảm. Hãy sống như nhau! Và để đảm bảo an toàn nhất, chúng tôi học cách tự bao vây chính mình. Quay lưng lại với thế kỷ trước và bước sang kỷ nguyên mới thế hệ chúng tôi mang theo một cái tên đáng nguyền rủa: Mackeno.

6. Vậy thì phải tiếp tục xuống đường! Nhìn lại quá khứ, con người, hoàn cảnh mới thấy ý nghĩa và bước ngoặc to lớn của 9 lần xuống đường yêu nước ngày hôm nay. Phải cắt bỏ cái tên Mackeno đang dính liền với thế hệ mình. Phải bước ra bóng đêm tự nguyền rủa và giỏi đổ thừa. Bạn tôi kết luận. Chúng ta xuống đường để đòi lại biển đảo, đất đai đã mất và bảo vệ những gì có thể sẽ mất. Nhưng sâu thẳm hơn, cấp kỳ hơn, quan trọng hơn chúng ta xuống đường để phá tan những vòng vây oan nghiệt, để tìm lại những gì đã bị lấy mất ngay trước khi chúng ta chào đời. Không tự tìm lại được những thứ đó cho mỗi chúng ta, và từ đó, cho cả dân tộc thì mọi thứ khác sẽ mất. Sẽ không còn gì trên một mảnh đất của những xác chết còn thở.
Bài viết này thân tặng YUNC - người bạn suốt đêm không ngủ. Xin viết với lòng biết ơn gửi đến các cụ, cô chú, anh chị và những người em thân yêu trên đường phố Yêu Nước. Những bước chân can đảm ấy sẽ giúp những bàn chân sợ hãi bước theo. Lịch sử sang trang bởi một thiểu số người dấn thân khai đường mở lối. Xin gửi niềm quý mến đến các bạn Sài Gòn lặng lẽ biểu tình ngồi - tưởng như là sợ hãi nhưng trong tôi, các bạn là những người can đảm nhất.

20 thg 8, 2011

Những cọng rêu dưới đáy ao


Tưởng Năng Tiến

Cọng rêu mới được phát hiện là một thanh niên – có tên là Nguyễn Chí Đức – vừa được công luận biết đến, sau khi anh bị công an Hà Nội đạp vào mặt giữa lòng “thủ đô của lương tâm nhân loại.”... Đã ba thế hệ người Việt bị liên tiếp xô đẩy đến “tận cùng” như thế. Và vẫn theo lời nhà văn Nguyên Ngọc thì “xã hội này không còn sống được nữa.” Nó đã đến mức “báo động đỏ” rồi...
*
Lúc nhỏ, có lần, tôi nghe học giả Nguyễn Hiến Lê khuyên là nên tập thói quen viết nhật ký. Nghe thì cũng thấy hay hay nhưng thử làm mới biết là không dễ. Tôi loay hoay mãi cũng không thấy có điều gì cần phải ghi lại cho bản thân (hay cho ... hậu thế!) về cuộc sống vô cùng nhạt nhẽo, hay lạt lẽo, của mình.

Chỉ đôi khi, khi chịu hết nổi sự tẻ nhạt thường nhật, tôi mới (lén) làm một hai câu thơ – cho nó đỡ buồn:

Xưa mộng kình ngư tung bể sóng.
Bây giờ mương rạch kiếp lòng tong!

Trời, nói gì nghe … thấy thương quá vậy – cha nội?

Thì cũng nói (đại) vậy cho nó đỡ kỳ, chút đỉnh, chớ hồi giờ – nói nào ngay, ngay cả lúc mộng mơ hết cỡ – tôi cũng chưa bao giờ dám nghĩ gì đến những hình ảnh (thấy ghê) cỡ như “kình ngư” hay “bể sóng.”

Còn chuyện “mương rạch kiếp lòng tong” – có lẽ – là thân phận chung của phần lớn thiên hạ, chớ đâu phải là bi kịch của riêng ai, đúng không? Tôi nói vậy tưởng đã buồn (thảm thiết) ông Võ Văn Trực lại còn nghĩ ra một cách ví von (nghe) thảm sầu hơn nữa.

Nhà văn của chúng ta ví von phận người như những “Cọng Rêu Dưới Đáy Ao.” Kiếp rong rêu vốn đã lặng lờ; đã vậy, lại còn nằm chìm lỉm tuốt luốt dưới đáy ao nữa thì (ôi thôi) kể như an bình tới phát ớn luôn. Ai cũng tưởng vậy nhưng không phải vậy. Sự bình an nơi cái ao Việt Nam (chắc) chỉ có thể tìm được nơi những trang sách giáo khoa:

“Cơm nước xong, trời vừa tối. Ngọn đèn treo, thắp giữa nhà. Cha ngồi đọc nhật báo. Anh đang ngồi cúi xuống xem sách hay làm bài. Mẹ và chị, kim chỉ vá may. Ở bên cạnh, hai đứa em nhỏ đang nghe bà kể câu chuyện cổ tích, thỉnh thoảng lại khúc khích cười với nhau rất vui vẻ.”

[Tối Ở Nhà. Quốc Văn Giáo Khoa Toàn Thư (Trần Trọng Kim, et al) Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư Xuất Bản, ấn bản đầu tiên năm 1935]

Trước đó không lâu, vào năm 1930, mười ba công dân ưu tú của nước Việt đã bị thực dân Pháp hành hình chỉ vì họ không cam chịu sống trong vòng nô lệ. Hình ảnh một buổi tối gia đình quây quần vui vẻ, được mô tả năm năm sau đó, dưới chế độ thuộc địa (e) hơi gượng gạo.

Nhiều người dân Việt không “vui vẻ” gì lắm trong cảnh sống an bình giả tạo như thế. Trong số này có ông Võ Quang Hiền. Theo lời nhà văn Võ Văn Trực, bào đệ của ông, ngay từ lúc thiếu thời ông Hiền đã hăng hái tham gia vào cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam.

Sổ tay của ông “... trang nào cũng dán vài tấm ảnh. Những tấm ảnh thiêng liêng: Các Mác, Ăng- ghen, Lê-nin, Mao Trạch Đông, Sta-lin, Ăng-ve Hốt-gia, Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Gốt-van, Ti-tô, Vô-rô-si-lốp, Đi-mi-tơ-rốp, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt…” (Võ Văn Trực. Cọng Rêu Dưới Đáy Ao. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Công ty Văn Hoá & Truyền Thông Võ Thị, 2007. Bản điện tử do talawas chủ nhật thực hiện).

Lòng nhiệt tình của Võ Quang Hiền với cuộc cách mạng vô sản chỉ (chợt) nguội, sau khi ông tham dự vào Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất ngay tại làng quê của mình. Từ đây, sổ tay của ông bắt đầu xuất hiện những dòng chữ đậm nét băn khoăn:“Ông Thìn làm giáo học mà cũng địa chủ, bà Mến biết cái cóc gì mà cũng thường vụ Quốc dân Đảng, địa chủ cả nút thế này thì lấy ai làm nông dân… Chúng nó kích bà con nông dân tố nhau lộn nhào lộn nhút…”

Sự gian xảo và tàn ác của “chúng nó” khiến ông dần dần thay đổi thái độ: “Con đường tham gia công tác xã hội của anh xuống từng nấc thang: sĩ quan quân đội, cải cách ruộng đất, cán bộ thông tin xóm, Đảng viên trơn… và cuối cùng là phó thường dân! Tưởng là ‘dứt bỏ đường công danh’, vui thú điền viên tham gia việc làng việc xóm cho vui, đến bây giờ anh mới nhận thức ra rằng việc làng việc xóm cũng là việc xã hội, mà làm ‘việc xã hội’ là thế nào cũng bị va chạm, xô xát. Anh hoàn toàn giành thì giờ lo việc gia đình nhưng vẫn bị Đảng uỷ để ý, cho là ‘phần tử bất mãn’, là ‘cố ý chống đối’… Thì ra cái ‘cọng rêu dưới đáy ao’ mà anh tưởng là ‘yên thân’ như các nhà nho ngày trước, có ngờ đâu cái cọng rêu ấy trong thời buổi này cũng phải đối mặt với mọi biến động của xã hội...”

Những “va chạm xô xát” của cọng rêu Võ văn Hiền, dưới đáy ao, tuy không mạnh bạo gì cho lắm nhưng cũng đủ khiến cho nó trở nên xơ xác:

“Không có một cuộc họp chính thức nào của các ông lãnh đạo xã và thôn cấm chỉ anh Hiền dạy tiếng Pháp hoặc cấm mở lớp dạy học. Nhưng người ta xì xào bàn tán rất nhiều về lớp học của anh. Sao thằng Pháp cai trị ta tám mươi năm, bây giờ lại dạy tiếng của nó? Sao ông Hiền đi đánh Pháp chín năm, bây giờ thắng nó rồi, lại đem tiếng của nó ra mà dạy? Ông Hiền dạy tiếng Pháp làm gì nhỉ, đào tạo bồi cho Tây à? Đào tạo thông ngôn cho Tây à?”
...

“Cả sáu học trò lần lượt bỏ học. Gian nhà trở lại hai tấm phản với hai chiếc ghế dài, ảnh ông Khổng Tử với câu ‘Tiên học lễ hậu học văn’, và một… thầy đồ tân thời mặt buồn rười rượi.”

Qúi vị lãnh đạo cách mạng nơi làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu (tỉnh Nghệ An) đã lần lượt đẩy ông Võ Quang Hiền từ nỗi buồn này, sang nỗi buồn khác. Chung cuộc, ông chết dần mòn trong bệnh tật và nghèo đói:

“Tôi đặt lên ngôi mộ tấm ảnh của anh - không phải tấm ảnh gày gò của ông lão sáu mươi, mà là tấm ảnh người thanh niên cường tráng những năm tháng hào hùng ở Việt Bắc: mặc áo trấn thủ, đội mũ lưới đính quân hiệu. Hàng trăm cặp mắt chăm chăm nhìn vào tấm ảnh, chợt thức dậy trong tiềm thức của họ những kỷ niệm về anh và về làng xóm thuở Cách mạng sơ khai.”

Nhà văn Võ Văn Trực quả là khéo nói, hay khéo lách, chớ cách mạng Việt Nam thưở nào - “sơ khai” hay “thoái trào” - cũng đều tạo ra vô số những cọng rêu (bầm dập te tua) dưới đáy ao đục ngầu của nó. Ông Vi Đức Hồi - nguyên trưởng ban tuyên giáo, giám đốc trường đảng, thường vụ huyện ủy huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn - là nhân vật điển hình cho loại rong rêu (muộn màng) này.

Vi Đức Hồi thuộc thế hệ người sinh trưởng trong lòng cách mạng. Theo lời ông, ngay khi vừa mở mắt chào đời, bé Hồi đã được ru (ngủ) bằng những câu của thời đại mới:

“Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bác Hồ hơn mẹ, hơn cha...”

Chả trách, chương mở đầu cuốn hồi ký (Đối Mặt) của ông ghi đầy những dòng chữ hồ hởi (và phấn khởi) như sau:

“Nhớ lại hồi khi tôi mới lớn lên và bắt đầu tìm hiểu về đảng, tôi nhận thấy đúng là ‘đảng là ngôi sao sáng, sáng nhất trong muôn vì sao’, tôi yêu đảng, tôi mến mộ đảng đến tột độ và chỉ mong ước mình sớm được đứng trong hàng ngũ của đảng để được cống hiến sức mình cho đất nước, cho dân tộc đó là nghĩa cử cao đẹp của mỗi công dân yêu nước bình thường. Khi tôi đọc cương lĩnh đầu tiên của đảng năm 1930, tôi thật sung sướng vì đảng chỉ ra rằng: Khi cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đảng đưa cả nước ta tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Xã hội mà đảng hướng tới là một xã hội đỉnh cao của sự văn minh nhân loại, ở đó sẽ không còn chế độ người bóc lột người, mọi người sống với nhau bình đẳng bác ái, nhà nước là của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của đảng tiên phong của giai cấp công nhân, đảng bao gồm những người tiên tiến nhất, tiên phong nhất, là những người công bộc của dân, vì nhân dân mà phục, đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân tộc... “

Càng qua những chương sau, Vi Đức Hồi càng hay lập đi lập lại những câu “đảng nói không biết ngượng, đảng nói một đàng làm một nẻo, đảng nói như hát hay...” Ông dần dần xa lánh đảng, rồi trở nên “đối mặt” với nó, và bị khai trừ.

Sau đó - cũng như trường hợp của ông Võ Quang Hiền, hồi đầu thế kỷ - Vi Đức Hồi cũng quyết định biến mình thành một “cọng rêu dưới đáy ao,” nơi làng quê khốn khó của mình:

“Quê tôi, một trong những Xã nghèo nhất Nước ta, là một trong 9 Xã cuả Tỉnh Lạng sơn và là một trong hai Xã duy nhất của Huyện Hữu lũng chưa có bóng dáng điện lưới quốc gia; là Xã vùng sâu,vùng xa, Xã đặc biệt khó khăn ...”

“Tuy vậy, người dân quê tôi sống trọn nghĩa, trọn tình. Ở đâu đó tình người có những lúc đầy vơi, nhưng người dân quê tôi thì cho dù thời cuộc có những biến đổi đến đâu, nhưng lòng người thì vẫn một mực thuỷ chung, son sắt.”

“Thế nên tôi cố tìm cách để tỏ lòng biết ơn, thể hiện tấm lòng của mình đối với những người láng giềng xung quanh tôi, tạo thêm sự gắn bó, sự mật thiết tình làng, nghĩa xóm. Tôi mạnh dạn trao đổi với mấy người bạn của tôi, đề nghị họ giúp và thế là tôi có được ít tiền của bạn bè cho vay, cộng với chút ít của tôi giành dụm. Tôi mua được một chục cặp lợn con, giúp cho 10 hộ nghèo nhất ở làng tôi để họ chăn nuôi, khi nào lợn xuất chuồng bán thì hoàn trả gốc cho tôi, để tôi chuyển cho hộ khác. Nhiều người phấn khởi, nhận lợn và cảm ơn.”

“Tin này Xã báo cáo Huyện... Thường trực Huyện uỷ triệu tập cuộc họp cán bộ chủ chốt ở xã Tân lập (quê tôi) để nghe cơ sở báo cáo tình hình. Huyện uỷ quán triệt: đây là một trong những âm mưu rất nguy hiểm của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, hơn lúc nào hết, chúng ta phải nêu cao cảnh giác cách mạng, chặn đứng mọi hành động nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân, gây mất ổn định an ninh chính trị. Ngay lập tức phải họp toàn dân quán triệt về những thủ đoạn, ‘âm mưu diễn biến hoà bình’ của bọn chúng, kiên quyết từ chối mọi sự giúp đỡ của Vi đức Hồi.”

Ông bị cô lập ngay tại quê nhà, rồi bị bắt giam. Cuối cùng, ông cũng trở thành một cọng rêu nhưng không nằm dưới đáy ao mà nằm trong lòng nhà tù cách mạng.

Cọng rêu mới được phát hiện là một thanh niên – có tên là Nguyễn Chí Đức – vừa được công luận biết đến, sau khi anh bị công an Hà Nội đạp vào mặt giữa lòng “thủ đô của lương tâm nhân loại.” Sự kiện này đã được nhà văn Nguyên Ngọc ghi nhận như sau:

“Trong việc này còn có một điều rất đáng chú ý: Qua tất cả vụ việc, qua những ứng xử của Nguyễn Chí Đức từ khi tên anh được nhắc đến, ta có thể thấy rõ đó là một con người hết sức bình thường, rất an phận, không hề không muốn làm bất cứ điều gì để khác dù chỉ một chút những người chung quanh, một công dân lầm lũi và tội nghiệp, ngay cả khi bị hại nặng nề cũng sẵn sàng cho qua, quên đi, ‘không muốn đi quá sự việc’ như anh nhiều lần nói khi có người quan tâm đến anh và vụ của anh. Một người tuyệt đối trung thành và tin tưởng ở đảng, trong bất cứ tình huống nào, ngay cả lúc bị hại khi mình đấu tranh vì đảng, vì nước…, vâng một người như vậy đấy ..., một người vô cùng nhỏ bé và vô danh, luôn muốn thu mình lại đến mức nhỏ bé nhất để sống yên thân…, con người tội nghiệp ấy bây giờ sau tuyên bố bình thản của ông Nguyên Đức Nhanh, đã phải đau đớn nói rằng anh đã bị đẩy đến đường cùng... khi những người ở tận đáy xã hội, nhỏ bé nhất trong xã hội, suốt đời chỉ mong được yên phận như Nguyễn Chí Đức và bố mẹ anh đã thấy bị đẩy đến đường cùng, đã thấy xã hội này là không còn sống được đối với họ nữa, thì là chuyện khác hẳn rồi đấy. Là báo động đỏ!Vụ Nguyễn Chí Đức không hề nhỏ đâu, đặc biệt sau tuyên bố phủi tay của ông Nguyễn Đức Nhanh. Có gì như là dấu hiệu của sự tận cùng.”

Đã ba thế hệ người Việt bị liên tiếp xô đẩy đến “tận cùng” như thế. Và vẫn theo lời nhà văn Nguyên Ngọc thì “xã hội này không còn sống được nữa.” Nó đã đến mức “báo động đỏ” rồi.

Tôi chỉ là một thường dân, một cọng rêu phiêu bạt. Sống bên ngoài nỗi đau mà cả dân tộc đang phải chịu đựng nên tôi không đủ tư cách thể phát biểu những lời lẽ khí khái (và hừng hực lửa) như nhà văn Nguyên Ngọc. Những sự kiện vừa nêu – về ba cọng rêu dưới đáy ao của dất nước – chỉ khiến tôi thốt nhớ đến lời phát biểu của nhà văn Nguyễn Trọng Tân, trong buổi toạ đàm về tác phẩm Ba Người Khác (của Tô Hoài) vào hôm 22 tháng 12 năm 2006, tại Hà Nội:

“Đội cải cách ruộng đất về làng như một cơn gió độc, cuốn lộn tùng phèo mấy chục nóc nhà giống như mấy chục cái đụn rạ của thôn tôi lên.”

Chủ nghĩa cộng sản cũng đến Việt Nam theo cùng một cách. Nó cũng như một cơn gió độc, cuốn lộn tùng phèo cuộc đời của (mấy thế hệ) người dân ở đất nước tôi lên.

Tưởng Năng Tiến

11 thg 8, 2011

CAO TUỔI HAY GIÀ


CAO TUỔI HAY GIÀ.
Đọc xong thì tui tính ra mình không thuộc vào người già, vì tối ngày mình toàn tính chuyện đi đâu, làm gì cho ba mươi năm tới, tại sao 30 năm ư? Thì cứ tính cho nó tròn ấy mà, 10 năm thì còn sớm quá, mà 20 thì chưa đủ, nên 30 cho đủ...già. Và cũng chả phải năm nay tớ đã 70 rồi cộng 30 cho tròn "bách niên" đâu. Mình cứ tính một người 30 tuổi là coi như trưởng thành, cho nên cứ tính đến lúc đó là... trưởng thành, không nói mà ai cũng sợ (vì lúc ấy chắc gì còn nhớ gì mà nói), từ xa mà gặp mình là mấy đưá nhỏ sẽ tự động chắp tay lậy cụ, oai ra phết ấy chứ!

Già hay cao tuổi
Làm thế nào mà khi về hưu , một số người chỉ đơn thuần là trở thành " cao tuổi " thôi, trong khi người khác thì thành "già " ?

Là bởi vì cao tuổi khác với già. Trong khi người cao tuổi chơi thể thao, khám phá, đi du lịch, thì người già lại nghỉ ngơi .

Trong khi người cao tuổi có tình yêu để cho đi, thì người già lại tích luỹ lòng ganh tỵ và oán hờn.

Trong khi người cao tuổi có những dự tính cho tương lai của mình, thì người già luyến tiếc quá khứ.

Trong khi quyển nhật ký của người cao tuổi gồm toàn là những " ngày mai ", thì quyển nhật ký của người già chì chứa những " ngày hôm qua ".

Trong khi người cao tuổi thích những ngày sẽ tới, thì người già đau khổ với những ngày ít ỏi còn lại của mình.

Trong khi người cao tuổi có những giấc chiêm bao khi ngủ, thì người già lại gặp những cơn ác mộng.

Không có cái chuyện cho tôi, cho chúng ta để mà già .
Có thể chúng ta cao tuổi, có lẽ vậy, nhưng chúng ta không muốn già , bởi chúng ta có lắm tình yêu để cho đi, lắm dự tính để thực hiện, lắm thứ để làm.

Bởi chúng ta không có quyền, cũng chẳng mong muốn già đi.
Dù sao, đây cũng là tôi mong ước cho bạn trong năm tới!

12 THÁNG ANH ĐI