26 thg 5, 2012

Tuổi 70, Cám Ơn Người

Philato Tác giả tên thật là Tô Văn Cấp, sinh năm 1941, định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. 1, hiện làm việc tại học khu Ocean View. Ông đã góp nhiều bài viết về nước Mỹ, bài nào cũng cho thấy tấm lòng, tình đồng đội và sự lạc quan, yêu đời. Sau đây là bài viết mới nhất. Vừa rời ghế nhà trường là tôi vào quân trường rồi lăn lộn với chiến trường từ Bến Hải tới mũi Cà Mau, sau ngày 30/4/75, ngày đau thương của đất nước, tôi lại phải đổ mồ hôi và nước mắt gần 10 năm trời trong rừng núi Thượng Du Bắc Việt, rồi tha hương vật lộn với đời tỵ nạn nên gần như tôi không còn nhớ ngày giỗ cha cúng mẹ, thường quên chưa một lần tổ chức sinh nhật cho những người thân yêu trong gia đình, và dĩ nhiên trong đầu tôi không có chữ “happy birthday” cho chính mình. Rồi một buổi sáng đẹp trời mùa Đông nắng ấm, có người đến gõ cửa giao cho một lẵng hoa thật đẹp với tấm thiệp “Happy Birthday to Mom”, có lẽ đây là lẳng hoa sinh nhật đầu tiên và thật đẹp đến với gia đình tôi, đó là quà của vợ chồng cậu con trai từ Dallas gửi về tặng mẹ. Vợ tôi cảm động, người cười với những bông hoa khiến tôi thấy nàng cũng là một đóa hoa và từ ngày đó, tôi bắt chước con trai, đến ngày sinh nhật của nàng, tôi cũng mua một bông hồng, và chỉ một bông thôi với giá $5 rồi len lén để bên bàn phấn, không có thiệp chúc mừng sinh nhật, cũng không nói gì, vì tôi không có thói quen “tỏ tình” kiểu lãng mạng và dễ thương này, nhưng thú thật là tôi có nói thầm trong lòng: - “Chúc em đẹp như bông hồng và anh chỉ có một bông hồng là em mà thôi”. Còn đến với ngày sinh nhật của tôi thì các con thực tế hơn, một bao thư trên bàn viết với câu chúc hài hước “nhờ sinh nhật của bố 11/11, chúng con có ngày holiday”. Biết trong bao thư chứa đựng đầy ắp tình cảm, nhưng tôi để nguyên niềm vui đó và chỉ mở ra khi gặp những khoản chi bất ngờ ngoài dự trù, hay chia xẻ một chút quà cho anh em TPB quê nhà, vì chính tôi cũng là một thương binh. Nhiều sinh nhật đã đi qua, những bao thư cũ mới các con tặng bố vẫn nằm đấy, ngày dầy thêm, tôi thêm tuổi ..già! Thời gian qua đi như “bóng câu qua cửa sổ”, các cụ nói thế và đúng thế thật. Những gì xẩy ra vào ngày 30/4/75, ngày “gẫy súng”, như còn đang đảo lộn trước mặt của người lính TQLC ở tuổi 34, giờ phút ấy tôi thẫn thờ nhìn đồng đội, họ chửi thề và dương súng quạt từng băng đạn bắn ông “Thiên”. Rồi tuổi 34 vào tù, gần 10 năm đổ mồ hôi, nước mắt ở rừng núi Lào Cai, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn Thượng Du Bắc Việt. Tuổi trẻ của tôi bị giam hãm chết lần chết mòn trong ngục tù, bao cay đắng như còn quanh quẩn đâu đây, chừng nào mới thoát khỏi gông cùm này? Thương nhớ vợ con, cha mẹ, anh chị em, tôi hét lên.. Ác mộng làm tôi giật mình tỉnh dậy mới hay mình đang nằm trong chăn ấm, cánh tay gối đầu cho người bạn đời. Tôi thở dài: “mình đã 70”, 35 năm trời lãng phí, không giúp gì được cho gia đình, mình thì trắng tay. Khi tôi bước vào tuổi “tri thiên mệnh”, hai con tôi, Tô Vân Yến và Tô Quốc Việt nhỏ to qua điện thoại với nhau hình như các con muốn tổ chức “thượng thọ” cho bố vào đúng ngày 11/11/2011, tôi nghe con gái mời dì Thu Hà, cô em út của mẹ các cháu từ Pháp sang chơi vào dịp này. Nhưng rồi dì út Hà không sang được, vợ chồng con trai và cháu nội cũng chưa về đúng ngày nên mọi chuyện vẫn trôi qua bình thường như những năm trước, không có gì khác ngoài một tấm thiệp của con gái để trên bàn viết: - “To our Dad and Grandpa. You’ve the best Dad and grandfather we could have and ask for. Thank you for everything you’ve done for us. We love you and wish you healthy and happy life”. (Steve, Van, Amy, Vince, Rosa, Maddie”. Một tấm thiệp đầy tình nghĩa cha con ông cháu là quá đủ, nhưng rồi tin vui đến thêm, nhân dịp lễ Tạ Ơn 11/2011, vợ chồng con trai và cháu nội từ Dallas về đoàn tụ cùng bố mẹ và gia đình chị gái. Niềm vui nào tả xiết, lời nói nào cho đủ, già 70 ngồi nhìn hai cháu nội ngoại tuổi thơ vui chơi mà ông mỉm cười sung sướng, cháu thấy ông cười, cả hai cùng chạy lại đòi ông bế. Với tôi, đây là một hình ảnh đẹp và hạnh phúc, chiêm ngưỡng hoài không mỏi mắt, nghe trẻ thơ bi-bô ngôn ngữ Mỹ Việt mà thấy hay, hay hơn những bản nhạc danh tiếng, ngắm các cháu múa hát thì không danh ca nào sánh kịp. Nhưng có điều từ hôm cháu nội về chơi thì bà nội cứ nhắc ông nội cạo râu hớt tóc quần áo cho tươm tất, điều này làm tôi thấy hơi phiền vì “ không gì quý hơn tự do”. Bà bắt ông cạo râu vì có thể do kinh nghiệm của bà trong quá khứ, bà sợ râu ông làm các cháu nhột, còn y phục thì tôi vẫn tươm tất nhưng có lẽ bà muốn nhắc tôi về những cái áo, cái quần, cái ca-vát mới đủ màu đủ kiểu mà thường bà tự ý mua về xếp trong tủ trong khi tôi thì không thích “thay áo” mới. Mải vui với hai cháu nội ngoại mà tôi quên hết những gì xung quanh, trời xẩm tối con gái nhắc bố: - Bố chuẩn bị mặc đẹp để đi chụp hình với 2 cháu rồi ghé tiệm ăn cơm tối luôn. Ngày nay thì gia đình nào cũng có máy quay phim, máy chụp hình, mỗi cell phôn là một máy chụp hình, chụp bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu nhưng để có một tấm hình gia đình đoàn tụ đẹp treo tường thì lại phải nhờ thợ chuyên nghiệp nên tôi không ngạc nhiên khi nghe con gái nói và rồi con chở đi đâu, tiệm nào, nhà hàng nào tôi cũng không quan tâm, tôi cũng không đề ý đến những chuyện xung quanh, vì trong mắt tôi, trong lòng, trong tay tôi đã có hai cháu. Xuống xe, tôi toan bế cháu nội, vì cháu ngoại tôi bế thường xuyên rồi, thì con dâu can: - Bố đừng bế cháu, bố dắt hai cháu hai bên thì đẹp hơn. Có lý, đẹp cả đôi bề, tôi dìu hai cháu đi mà như bước trên mây, nghe như có nhạc đâu đây, hình như những người xung quanh đang nhìn ba ông cháu tôi cười, nhưng thực ra thì có nhạc gì đâu, và cũng chẳng ai bận tâm nhìn ông cháu tôi, vì “lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ” thì ngược lại, lòng tôi đang vui và hạnh phúc nên thấy cảnh đẹp, nhạc hay, đúng là tôi đang mơ. Con gái mở cửa phòng “dinner”, ba ông cháu tôi vừa bước vào thì tôi giật mình vì nhiều tiếng vỗ tay, nhiều tiếng cười càng khiến tôi sửng sốt, tôi không hiểu chuyện gì nhưng khi tai nghe văng vẳng tiếng nhạc nhè nhè “happy birthday, happy birthday”, trong tích tắc, tôi hiểu chuyện gì đang diễn ra nơi đây rồi. Thì ra các con tôi đã âm thầm tổ chức lễ “thượng thọ” cho bố, còn mẹ các cháu thì muốn tôi trẻ mãi nên gọi là sinh nhật thứ 70. Tôi bất ngờ, quá nhiều bất ngờ, tôi không bao giờ nghĩ là sẽ có chuyện này, và thực tâm nếu biết tôi sẽ khuyên không nên ồn-ào, không nên tổ chức tiệc tùng như thế này để khỏi làm phiền anh chị em, bạn bè trong lúc đang cần sự “yên lặng để nghỉ ngơi”, trong lúc có quá nhiều thiệp mời. Thiệp mời là phải đi với đóng góp hay quà-cáp v.v.. mà đã có lần tôi mượn tên bài ca của nhạc sĩ VTA gọi đùa thiệp mời là “những bản tiền ca không tên” khiến những người về hưu ca theo muốn hụt hơi. Ông Bà Tô với con trai & dâu, cháu nội, bên trái; con gái & rể, cháu ngoại, bên phải. Các con hiếu thảo nào cũng mong muốn được tổ chức tiệc kỷ niệm ngày cưới và thượng thọ cho song thân để an ủi tuổi già và cũng là dịp nhắc lại cho các con biết là đã được sống trong một gia đình ấm cúng, hạnh phúc, còn đầy đủ cha mẹ. Thông thường thì người cha nào cũng đơn giản, không muốn bày vẽ, vả lại càng già thì càng cần tiết kiệm, tôi cũng vậy, nhưng một khi các con kín đáo tặng cho món quà bất ngờ thì cũng thấy vui. Thoáng trong ký ức, tôi nhớ về mẹ già, mỗi lần các con biếu mẹ “đồng quà tấm bánh”, cái áo mới thì cụ mắng yêu “con vẽ chuyện, mẹ không cần đâu”, nhưng ánh mắt cụ vui, môi mỉm cười. Cụ cười không vì cái áo mới mà cảm động vì tấm lòng của các con nghĩ đến mẹ, săn sóc mẹ. Nay bước vào tuổi già như mẹ ngày xưa nên tôi cũng tâm trạng ấy, tâm trạng chung của các bậc cha mẹ Việt Nam, tôi không thích rình rang ồn ào mặc quần áo mới, nhưng tôi thực sự xúc động vì chuyện bất ngờ này, xúc động vì người thân yêu đã cư xử khá tinh tế. Tim tôi đập nhanh, mắt mờ hơi sương khiến không nhận ra những ai xung quanh và chân tôi như tê, như muốn đứng yên tại chỗ cho đến khi nghe tiếng con trai nhắc: - Bố chào các bác, các cô chú đi. Đã bao lần đứng trước hiểm nguy, giữa sống và chết tôi không nao núng, tôi chưa bao giờ bị lúng túng trước đám đông, nhưng khi nghe con nhắc, mở mắt ra, tôi cảm thấy rung động và lúng túng như “trẻ con” trước những người mà tôi luôn quý mến. Bên tay mặt là những bạn thân thiết đồng khóa 19 Võ Bị như các anh chị Hồng Miên, Dương Chiến, Tiễn San, Quang Giáng, Tiến Tấn, Trần Vệ, Kim Khôi, những người đã thuộc về “giai cấp cổ lai hy” mà mỗi khi gặp nhau vẫn “mày tao mi tớ”, và hôm nay vẫn thế, các chị vẫn sang đẹp lịch lãm như thường lệ như những bông hoa lan mang đến, nhưng còn các anh thì vẫn ồn ào náo nhiệt vui như tết, tôi vẫn nghe tiếng cười chọc quê: - Đi chào bàn đi chứ chú rể. Thường thì ít khi tôi lép vế vì bị chọc phá nhưng sao hôm nay tôi ríu ríu nghe theo, cúi đầu chào quý chị và bắt tay các anh cứ như chú rể đi chào các bô lão trong họ ngoài làng. Quay sang bên trái, lại là những đồng đội TQLC thân thiết nhất, những người bạn mà chúng tôi gặp nhau thường xuyên mỗi sáng Chúa Nhật ở tiệm café, nhưng sao hôm nay tôi thấy những “con cọp” này hiền lành hơn, tươi hơn, một lời khen “huề vốn” kèm theo nhiều tiếng cười: - Con trai giống bố quá, nhưng đẹp trai hơn. Có lẽ hiểu được tâm trạng ngày vui của bố, con trai tiếp tục đưa tôi đi “chào bàn” như trước đây tôi đã dẫn con đi chào bà con họ hàng trong ngày thành hôn của các con. Nhìn quanh toàn là anh chị em trong đại gia đình nội ngoại, toàn những người tôi luôn luôn quý mến nên tôi cũng nhận lại được những nụ cười và bàn tay ấm áp, trong đó có anh chị cả của tôi cùng con cháu gần hai chục người từ tiểu bang Arizona sang tham dự chung vui với em, với chú, đây là một tấm lòng quý giá trong tình huynh đệ. Niềm vui đến bất ngờ càng tăng thêm ý nghĩa nhưng tôi thắc mắc không hiểu sao, ngoài anh chị em trong gia đình thì những người bạn có mặt đều là những người rất thân, tôi hỏi con: - Sao con biết các cô chú K19 Võ Bị và TQLC này thân thiết với bố mà mời? Con gái tôi chưa biết trả lời sao thì bà xã tôi lên tiếng: - Mẹ nó mời chứ ai? Hú hồn, thế ra “nhà tôi” biết hết đường đi nước bước của tôi rồi, ngày xưa khi còn là lính ngoài tiền tuyến thì em không biết tôi đi đâu, ở đâu và làm gì nhưng nay ở hậu phương thì khác, nàng biết rõ tôi thân thiết với ai, giao du thân mật với ai thì không qua khỏi tầm nhìn, nếu tôi đi ngang về tắt thì làm sao có ngày hôm nay? Tôi cười lại ý muốn nói: - “Em biết hết, điều gì cũng biết, nhưng không sao, sinh nhật của em anh chỉ tặng em một bông hồng và anh cũng đã thầm nói chỉ có một bông hồng là em mà thôi”. Vợ chồng tôi nắm tay nhau đứng bên các con cháu để nghe con gửi lời chào và cám ơn đến các bác, các cô chú và anh chị em: - “Hôm nay là sinh nhật thứ 70 của bố cháu và đồng thời cũng là kỷ niệm 40 năm thành hôn của bố mẹ các cháu, chúng cháu xin cám ơn..” Tôi giật mình khi nghe con gái nói hôm nay cũng là kỷ niệm 40 năm ngày cưới của chúng tôi, lại thêm một bất ngờ đặc biệt nữa. Thú thật là chúng tôi ở bên nhau, ngồi bên nhau, đi bên nhau đã 40 năm, và hiện đang nắm tay đứng bên nhau, nhưng chưa một lần tổ chức kỷ niệm ngày cưới hay tặng quà, điều này có thể khiến người bạn đời không vui. Phụ nữ nhớ lâu những kỷ niệm đẹp về tình yêu và hay nhắc lại, phái nam cũng biết “miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời” nhưng thường dấu kín trong lòng, nếu có ông, anh nào tổ chức lễ “hấp hôn” thì hẳn phải là chàng có tính ga-lăng hay giới trưởng giả, còn tôi, gốc bình dân, vẫn nhớ kỷ niệm lần đầu quen em khi từ Đà Lạt về phép, nhớ nhiều về ngày cưới nhưng chỉ tự nói với chính mình rằng: - “Em vẫn “nóng” (hot) và anh vẫn ấm, mình đã nguội đâu mà cần hấp, mà dẫu có nguội thì anh vẫn vâng lời mẹ dạy ngày xưa: “ăn cơm nguội cho ấm vào thân” Hôm nay tôi nhận được những món quà mà trước tuổi 70 chưa bao giờ được nhận, những món quà tinh thần quý giá từ các bạn và anh chị em khiến tôi phân vân, tuổi 70 chưa cám ơn người thì lại nợ thêm ân tình. Một cuốn album hình ngày cưới, hình tuổi trẻ 40 năm về trước của chúng tôi được các cháu trao tặng cho chú thím. Trải qua bao nhiêu biến cố, thời gian gần nửa thế kỷ, mấy ai giữ được những hình kỷ niệm quý giá này, chính chúng tôi cũng không còn, vậy mà các cháu vẫn giữ được, hình càng cũ càng quý. Hình cũ mới cũng chỉ là những tấm hình, mấy ai giữ hình của người khác bao giờ vậy mà các cháu đã gìn giữ nâng niu, mang từ VN sang để tặng chú thím vào ngày kỷ niệm 40 năm ngày cưới thì quả thật cảm động, và tôi tự an ủi rằng vị trí và uy tín của tôi đối với anh chị em con cháu trong gia đình không tệ lắm. Cháu tặng hình ngày cưới cho chú, quà của bố các cháu, anh cả tôi, lại là những vần thơ hay đầy đủ ý nghĩa viết theo lối chữ “thư pháp” trên mành tre gửi từ VN sang, không nói về màu sắc, chưa bàn về ý thơ mà chỉ ý tưởng thực hiện món quà cũng đáng trân quý, thơ rằng: Tạ ơn Thiên Chúa Ba Ngôi, Mừng em đã trọn tuổi đời 70. 40 năm hôn phối đẹp đôi, Cấp-Tô Thúy-Nguyễn trọn đời bên nhau. Mừng em đã có rể dâu, Gái trai hiếu thảo cùng nhau thuận hòa. Chúc em vui hưởng tuổi già, Bên con bên cháu chan hòa tình thương. Anh chị cả Tô Văn Tiệp. Từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác, việc tổ chức thượng thọ cho bố mẹ thì con nào cũng có thể làm được, tặng bố mẹ một chuyến đi du lịch, du thuyền cũng không khó, nhưng nghĩ đến và tìm ra tấm hình cô dâu là mẹ, chú rể là bố, phóng to, đóng khung làm quà tặng bố mẹ kỷ niệm 40 năm ngày cưới thì quả thật là sáng kiến đáng khen. Ngắm cô dâu ngày ấy với mà núm đồng tiền thêm chiếc răng khểnh đứng bên chú rể có vẻ ngô-ngố man-mán mà buồn cười và thương cho “cây quế”. Hiểu được ý các con mong bố mẹ khỏe mạnh và trẻ lại 40 tuổi, hiểu ý các con mong bố mẹ mãi bên nhau. Yên tâm đi các con, bố mẹ sẽ theo gương ông bà ngoại, các con sẽ tổ chức kỷ niệm 50, 60 năm .. ngày cưới để các con noi gương ông bà cha mẹ. Nghe con đọc tiểu sử của bố mà tôi thẹn với lòng, ngượng với gia đình và bạn bè, tiểu sử của tôi bình thường như mọi thanh niên khác, tới tuổi thì đi lính, đánh giặc rồi bị thương rồi bị thượng cấp bẻ gẫy súng, không tội mà phải ngồi tù, đường binh nghiệp ba chìm bẩy nổi với chiến công là 5 ngôi sao đỏ (chiến thương bội tinh) đã không lo được cho gia đình bất cứ điều gì lại còn thêm 10 năm trong lao tù CS chỉ làm gia đình thêm lo âu vất vả. Hình ảnh các con tôi, 2 và 4 tuổi mà phải theo chân mẹ vượt ngàn trùng đến chốn hoang vu Vĩnh Phú thăm bố trong trại giam, nghe như một chuyện hoang đường, nhưng là chuyện có thật khó quên, có thật như những vết sẹo vì súng đạn trên người không bao giờ mòn mà thỉnh thoảng còn nhức nhối theo thời tiết đổi thay. Nhưng có lẽ các con tôi lại hãnh diện vì những gian nan vất vả và bất hạnh bố đã trải qua mà ngày nay vẫn còn được bình an mạnh khỏe bên con, bên cháu nội ngoại. Nhiều người bạn đùa vui cho rằng cuộc sống của chúng tôi sau cuộc chiến và tù đày chỉ còn là những “bonus”. Nói thế để an ủi nhau khi có bạn bất ngờ ra đi, nói thế để tự an ủi tuổi già mà tự rong chơi khi bổn phận chưa tròn, vẫn còn “nợ đời ở tuổi 70.” Trong thánh lễ, vị chủ tế rao giảng lời Chúa phán rằng: “cái gì của Caesar thì trả lại Caesar” và rồi ngài đem lời ngụ ngôn ấy vào đời sống hiện tại, nhắc nhở tín hữu đóng góp quỹ mục vụ. Điều đó hoàn toàn đúng, ăn cây nào thì rào cây ấy, đi nhà thờ thì phải đóng góp vào quỹ mục vụ, đến nhà Chúa cầu xin được mạnh khỏe, được giầu sang mà quên bổn phận thì gọi là đi lễ “chùa”. Đối với đạo là thế, nhưng đối với đời, “Caesar” của tôi là quê hương tôi, xã hội tôi đang sống, đồng đội, đồng môn và những người xung quanh, gia đình, những người thân đến chúc mừng tôi “thượng thọ” khiến tôi nghĩ đến ở tuổi 70 vẫn còn nợ người và phải cám ơn người. Khi đọc tiểu sử của bố cho các cô chú bác nghe, giọng con tôi nghẹn ngào khi nhắc đến đoạn bố bị thương nặng, tuy được giải ngũ nhưng vẫn tiếp tục xin ở lại quân đội cho đến giờ phút chót và đã hoàn thành nhiệm vụ người trai. Ngày tôi bị loại khỏi cuộc chiến, ngày 19/6/69, thì lá thư của người yêu, mẹ các cháu sau này, để trên ngực áo chưa kịp đọc đã bị đạn xé rách thì chưa có cháu, làm sao cháu biết? Tôi chưa bao giờ kể về đời lính của mình cho các con nghe, nhưng các con có dòng máu lính nên đã tìm hiểu và hãnh diện vì bố đã làm tròn nhiệm vụ. - “Các con à! Làm tròn thì chưa, nhưng nếu nói bố đã “làm xong” thì có lẽ đúng hơn, xong việc nhưng kết quả không được như mong đợi, mặc dù bố đã đi đến tận cùng của 4 vùng chiến thuật, máu và nước mắt đã rơi xuống đất Đức Cơ, Kontum, Phò Trạch, Quảng Trị, Hố Bò Tây Ninh, kinh Cán Gáo, Chương Thiện, và ngay cả tại thủ đô Saigon trong trận Mậu Thân 1968. Dù đủ tiêu chuẩn thương tật để trở về đời sống dân sự, dù cho “chân thấp chân cao” nhưng vẫn còn đứng vững thì tại sao lại bỏ mộng ban đầu khi đã chọn nghiệp lính? Chính nhờ tiếp tục ở lại cùng đồng đội nên bố mới chứng kiến cái tàn nhẫn của chiến tranh và cái “nhanh chân” của những cấp lãnh đạo và chỉ huy vô trách nhiệm đã đẩy cả một đoàn quân tinh nhuệ hơn 3 ngàn người của LĐ,147/TQLC ra bãi biển Thuận An rổi bỏ mặc họ cho địch bắt và bắn! Những bộ xương 30 năm sau vẫn còn phơi trên bãi cát, trong số đó có Tô Thanh Chiêu, em của bố, tức chú của các con. Nhờ ở lại với đồng đội, bố mới biết cái ranh giới tử sinh chỉ là sợi tóc, những giờ hấp hối của đất nước bố bơi ra biển Đà Nẵng, vào Cam Ranh, Vũng Tàu và dừng chân tại căn cứ Sóng Thần Thủ Đức và bị ông tướng Tổng Tư Lệnh Quân Đội ra lệnh đầu hàng, vứt súng đi để nhận 10 năm trong lao tù của CS. Như vậy thì bố chưa làm tròn nhiệm vụ, chưa trả nợ xong Tổ Quốc, nhưng đã làm xong bổn phận”. Bổn phận với đồng đội TPB ở quê nhà, với cộng đồng và đất nước hiện tại thì đã và đang góp sức, và luôn phải biết cám ơn đồng đội, đồng bào, cộng đồng và đất nước tạm dung. Nhưng bổn phận đối với gia đình thì đành bó tay, “chí tuy còn mong tiến bước, nhưng sức không kham nổi đoạn trường”, trễ rồi! Nợ vợ con cháu còn quá nhiều, nợ 10 năm, 20 năm, 30 năm nữa cho tới khi rũ sạch nợ trần. Thôi thì bước tới đâu hay tới đó, cố gắng bước cho vững, đi cho đúng đường, cư xử cho đúng nghĩa, nói năng cho đúng mực đừng vô ý hay cố tình mà “sa ngã” vào luẩn quẩn, làm phiền gia đình. Đó cũng chính là gửi lời cám ơn đến anh chị em và nhất là với người thân yêu: Thúy, các con Yến-Thanh Việt-Rosa, hai cháu nội ngoại Madison&Amy. “Tuổi 70… Cám Ơn Người” Philato

30 thg 4, 2012

Viết Cho Tháng Tư.

Tôi sinh trưởng sau năm 1975 và gia đình tôi không có liên quan gì nhiều đến cả hai phía trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì thế mối tương quan tình cảm của tôi với những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị xã hội trong cuộc chiến hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có. Những gì ít ỏi mà tôi được hiểu biết về nó chỉ đơn thuần là kiến thức. Đứng trong vị thế đó, tôi tạm thời có thể yên tâm rằng lập trường của tôi, và những gì tôi nói ra sau đây sẽ được hiểu một cách thiện chí và không bị gán ghép hay chụp mũ. Tôi không sợ bị chụp mũ, nhưng thiết nghĩ điều đó cùng với những nguỵ biện không có lợi cho sự tiến bộ. Gần đây, tôi tình cờ đọc được một nhận xét của tướng William Childs Westmoreland – Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam – về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội Bắc Việt như sau: “Of course, he was a formidable adversary…. By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius… ”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm…. Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự….” Dù chúng ta là ai, đứng bên nào của cuộc chiến, chúng ta cũng phải đồng ý với Westmoreland rằng, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự như nhiều người vẫn rêu rao. Câu nói này của viên tướng Hoa Kỳ làm tôi suy nghĩ rất nhiều về sự “nguy hiểm” của những người Cộng sản Việt Nam. Họ nguy hiểm bởi họ là những người luôn hành động theo phương châm “mục đích biện minh cho phương tiện”, nghĩa là bất chấp mọi thứ, miễn đạt được mục đích. Đối với tôi, nó không chỉ là lời nhận xét về tướng Giáp mà là một câu nói nêu bật lên bản chất của những người Cộng sản Bắc Việt, và cả chế độ mà họ dựng nên. Và những việc họ đã làm suốt từ những ngày đầu có mặt tại Việt Nam đến nay, từ việc “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” đến gần đây nhất là vụ cướp đất của nông dân đã chứng minh tất cả. Một kẻ đối địch ghê gớm có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đó là một kẻ thù đáng gờm, là đối thủ khó đánh bại vì có mãnh lực vũ trang, có chiến lược, chiến thuật hành động khôn ngoan… Nhưng khi nhìn xoáy vào chữ “formidable” mà Westmoreland đã dùng, tôi chú ý nhiều đến nghĩa “arousing fear” (gợi nên sự sợ hãi). Với nghĩa này, nó gần giống với “terrorise” (làm cho sợ hãi). Mà làm cho người khác sợ hãi có nghĩa là “khủng bố”. Chúng ta có thể hiểu theo hai cách về một “đối thủ ghê gớm” như tôi đã tạm phân tích ở trên. Nhưng biết đâu, cách hiểu thứ hai mới là điều mà ông tướng Mỹ kia ngụ ý? Xin hãy cho tôi tiếp tục trình bày mà tạm quên đi những mối thành kiến nào đó có thể đang dâng lên trong lòng quý vị. Khi căn cứ vào những dữ kiện lịch sử – những điều không thể chối bỏ, những điều đã được trải nghiệm bằng chính xương máu của những người đã kinh qua cuộc chiến ấy – chúng ta sẽ có cái nhìn tường minh hơn. Riêng phần mình, với kiến thức ít ỏi về chiến tranh Việt Nam, tôi đã có thể tìm thấy những hình ảnh có khả năng “làm cho sợ hãi” của quân đội Bắc Việt qua nhiều biến cố như Tết Mậu Thân, và các “trận đánh” của đội Biệt động Sài Gòn như: “trận đánh” tàu nhà hàng Mỹ Cảnh, “trận đánh” cư xá Brinks…; và chưa kể đến những câu chuyện ghê gớm mà tôi từng được nghe những người già kể lại về vô số những “trận đánh” như thế vào trường học, khu dân cư, cầu cống…. Đến nỗi, khi nghe nói quân đội Cộng sản Bắc Việt sắp vào đến ngã ba Cai Lang, thành phố Đà Nẵng, những người dân sống ở Đà Nẵng khi đó đã run cầm cập vì nghe tin đồn rằng người Cộng sản mà vào họ sẽ rút hết móng tay móng chân người dân. Đó có thể là điều sợ hãi thái quá, nhưng nó cho chúng ta thấy khả năng gieo rắc sợ hãi đến trình độ đỉnh cao của những người tự xưng là “quân giải phóng”. Những ai đọc lịch sử, những ai có đủ lương tâm và tầm tri thức trung bình, đều thấy rằng, những cái mà quân đội Bắc Việt và những người “nằm vùng” gọi là “trận đánh” gây nhiều tiếng vang đều không nhằm vào những mục tiêu trên tiền tuyến, để giành chiến thắng quân sự trực tiếp mà đánh vào những nơi ăn chốn ở cốt để gây sợ hãi. Gây sợ hãi cho người dân nhằm làm xáo trộn xã hội, gây sợ hãi đánh vào tâm lý Quốc hội và dư luận Mỹ…. Ngày nay, ai đi qua đường Hai Bà Trưng, đều nhìn thấy “Bia chiến công trận đánh cư xá Brinks”. Cái mà người ta gọi là trận đánh thực ra là một cuộc đánh bom một nơi ở của cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do hai thành viên Biệt Động Sài Gòn thực hiện. Điều mà họ gọi là “trận đánh” sao tôi thấy nó hao hao giống cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, chỉ khác một chỗ là họ không tự sát. Đối với thế giới ngày nay, những kẻ đánh bom như thế thật sự là những kẻ “nguy hiểm”, “ghê gớm”. Ngoài cái cách thể hiện “formidable” như trên, quân đội Bắc Việt còn khiến người ta sợ hãi hơn gấp bội vì sự coi thường tính mạng binh sĩ của họ. Thông thường, con người sợ hãi những kẻ thù tấn công mình một cách tàn ác, nhưng người ta sẽ kinh hoàng đến rợn người khi biết về những hành động coi tính mạng của người phe mình như cỏ rác, cốt chỉ nhằm đạt được mục đích của kẻ chỉ huy. Người Cộng sản đã lấy chính nghĩa chống giặc ngoại xâm để lừa dối, tuyên truyền, kích động hàng triệu Thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến như con thiêu thân. Chúng ta được nghe nói rất nhiều về những tấm gương đầy nhiệt huyết và sự hy sinh anh dũng của những người trẻ tuổi mới chập chững vào đời. Đối với những cái chết đó, tôi không có bất cứ tình cảm tích cực nào ngoài sự thương tiếc. Cả một thế hệ người đã bị lừa gạt vì không nhận chân được bản chất của chế độ, của cái chủ thuyết mà nó rêu rao. Âu tất cả cũng chỉ là những sản phẩm lịch sử của một thời đại! Để rồi sau cái ngày “thống nhất” ấy là những chuyến vượt biên vượt biển của hàng trăm ngàn người, và đã có cả hàng ngàn người phải bỏ xác ngoài biển khơi; là những năm tháng bao cấp, đói khổ đến cùng cực; đến nay đỡ đói khổ một chút, nhưng dân Việt ta vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm thuê, ở đợ cho thiên hạ; đặc biệt vẫn còn cam chịu làm thần dân phục tùng các ông vua Cộng sản. Thế nhưng bất chấp cái thực tế đau buồn ấy, nhiều ngụy biện về thống nhất, về “công lao chống Mỹ cứu nước của Đảng” vẫn tồn tại ngay cả trong lớp người “có học” ở Việt Nam. Thiết nghĩ một sự hy sinh chỉ nên có và đáng được ngợi ca khi đánh đổi với nó là một giá trị to lớn hơn. Bằng lập trường đề cao cá nhân, tôi cho rằng, mọi ý niệm: thống nhất, giải phóng dân tộc, kẻ thù… phải được đặt trong mối tương quan của chúng với những giá trị an sinh hạnh phúc thực sự của người dân. Suy cho cùng, mọi thứ bao gồm: thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chính trị… chỉ là những phương tiện để đạt đến những giá trị nhân bản, để bảo vệ và phục vụ con người. Mọi định chế, mọi nỗ lực chính trị và xã hội đều nhằm vào cái đích đến quan trọng nhất của nó là CON NGƯỜI. Nếu mục đích cuối cùng ấy không đạt được thì mọi phương tiện kia chỉ là mưu đồ của kẻ lãnh đạo. Thật điên rồ thay cho những kẻ luôn hô hào “mục đích biện minh cho phương tiện”. Chúng ta biết rằng, tính chính đáng của phương tiện phụ thuộc vào sự thích nghi và mối tương quan về bản chất của nó đối với mục tiêu. Nói rõ hơn, chúng ta không thể dùng một phương tiện phi nhân để giành lấy một mục tiêu nhân bản. Kết quả là, “sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước” đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn; mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước “giải phóng” hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì? Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Hay như Lê Duẩn từng nói: “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước XHCN, cho cả nhân loại”. Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt. Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày “giải phóng”, giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn. Thống nhất hai vùng địa lý nhưng vẫn vắng bóng một sự Hoà hợp trong tình tự dân tộc. Vết thương cũ do cuộc tiến chiếm miền Nam chưa kịp lành thì chúng ta lại có thêm những chia cắt mới: chia cắt giữa một bên là một nhóm người cam phận làm tay sai cho ngoại bang, với một bên là những con người yêu nước không khoan nhượng; chia cắt giữa một phía là nhóm người lãnh đạo Quốc gia cùng những kẻ ăn theo cố gắng bám giữ ngôi vị độc tài để tiếp tục nô lệ hoá người dân, với một phía là những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh cho tự do và phẩm giá con người. Tôi vẫn nghĩ rằng, một con người trở nên dũng mãnh nhờ có ý chí. Một dân tộc trở nên hùng mạnh, cũng như vậy, phần nhiều dựa vào tinh thần và khí chất. Nhưng tinh thần và khí chất ấy chẳng thể có được nếu dân tộc ấy chia rẽ. Chính sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sự Hoà hợp dân tộc có thể góp phần giúp chúng ta tạo lập một mãnh lực mới cho dân tộc. Chỉ e Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bỏ lỡ những chuyến tàu thời đại nếu trong lòng dân tộc còn có những chia cắt chí mạng như thế. Nhưng thiết tưởng, sự Hoà hợp có khả năng xoá bỏ mọi ngăn cách, hàn gắn mọi vết thương, mang mọi người Việt về trong cùng một chí nguyện chỉ có thể đạt được trên tinh thần Hoà giải thiện chí, trên quyền lợi dân tộc và trên những nguyên tắc hướng thiện chứ không phải là sự thoả hiệp với cái xấu ác. Chỉ e những người Cộng sản Việt Nam quá u mê và tham lam để khởi động một chương trình Hoà hợp, Hoà giải và thay đổi chính trị đầy tham vọng như thế. Chỉ e những người Cộng sản chẳng thể làm nổi những gì mà nhà cầm quyền độc tài Miến Điện đã làm. Chỉ e…. Bởi đến hôm nay, họ vẫn một lòng một dạ coi mối quan hệ với Trung cộng là “chủ trương nhất quán”, là “ưu tiên hàng đầu” như lời Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyên bố mới đây tại Bắc Kinh. Mỗi năm tháng Tư về, bao nhiêu lễ lạt, đình đám vẫn diễn ra bất chấp mối hoài niệm về quá khứ vẫn nặng trĩu trong lòng nhiều người Việt, bất chấp mối ưu tư về tương lai đất nước vẫn canh cánh trong lòng những người có tâm huyết với đất nước. Những con người có lương tâm và tự trọng không bao giờ vui sướng được trong nỗi thống khổ to lớn ấy của dân tộc. Thử hỏi xương máu của hàng triệu con người đã ngã xuống trong cuộc chiến chỉ để tạo nên một Việt Nam thống nhất trong chia rẽ, thống nhất trong sự Hán hoá, thống nhất trong sự mất tự do và quyền làm người hay sao? Ba mươi tháng Tư – xin cầu nguyện cho tự do và nhân phẩm, cho sự Hoà hợp dân tộc và nền công lý. Sài Gòn, ngày 20 tháng 4 năm 2012 Huỳnh Thục Vy

23 thg 4, 2012

Hồn Tử Sĩ

Trần Mộng Tú
Gửi đến vong linh cố Thiếu Tá BĐQ Trần Đình Tự cùng 12 chiến sĩ BĐQ của TĐ 38 bị VC giết tập thể ngày 30/4/ 75 tại Củ Chi.

Mấy hôm nay, ngày nào người đàn ông cũng thức dậy rất sớm, ông rón rén ra khỏi gian buồng bé nhỏ của mình, băng qua cái sân, lén mình lách qua cánh cổng chùa khi cả nhà sư và mái chùa còn yên ngủ trong sương sớm. Ông lặng lẽ như một chiếc bóng đi bộ ra bến xe đò. Bến xe còn vắng người, ông tìm một cái xe có nhiều chỗ, rồi tự mở cửa vào kiếm cho mình một chỗ ở chiếc ghế cuối cùng, ông hy vọng ông chẳng lấy chỗ của ai. Ông sẽ đứng nép vào một góc nào đó nếu có ai cần ghế. Từ chỗ ông ở tới nơi ông muốn đến có 30 cây số, đường không xa lắm, sau đó nếu kiếm được một anh xe ôm không có khách cùng đi về hướng đó, ông sẽ nhẩy lên yên sau lưng anh, ông nhẹ lắm, anh ta sẽ không cảm thấy gì đâu, sẽ cho ông quá giang đoạn đường còn lại. Để đếnđịa điểm đó cũng phải đi thêm khoảng 20 cây số nữa. Con đường này ông quen thuộc lắm rồi. Hàng năm cứ đến ngày 30 tháng 4 ông và mười hai (12) người chiến sĩ đồng đội rủ nhau tìm về đây. Ba bốn hôm nay rồi, thằng bé nhà ông nó cũng vật vờ hồn xác theo đám người đi về cái hướng này. Cái thằng lúc ông đi xa nó mới 16 tháng tuổi mà sao bây giờ nó lớn thế. Ông thở dài, thời gian nhanh quá, ông không nhận nổi ngay chính con mình, làm sao nó nhận ra ông được, vì nó chỉ biết ông qua mấy tấm hình ngày cũ. Ông không nỡ để con đi một mình, nên ngày nào ông cũng đi theo nó. Hôm nay họ bắt tay vào việc bốc mộ mười hai chiến sĩ Biệt Động Quân của Tiểu Đoàn 38, nên ông phải ra khỏi chùa thật sớm,đi cho kịp. Ông đứng khá xa đám người đang xúm lại chung quanh mô đất. Chẳng ai chú ý đến ông, họ còn bận công việc của họ. Buổi trưa đã đứng bóng, nắng chiếu xuống cánh đồng cỏ, tiếng cuốc bổ xuống
đất thong thả như tiếng cầu kinh, mấy cây nhang đã tàn nhưng trong không gian còn vương vấn một chút hương thơm thoang thoảng. Người đàn ông tiến gần thêm chút nữa, ông đứng chen cả vào với đám người, vừa phu đào đất vừa thân nhân của người đi bốc mộ, nhưng họ vẫn chẳng để ý đến ông, ông khom người xuống nhìn mấy người đào huyệt đang mang lên từng thứ một. Lóng xương này ư? Ông chịu không đoán ra được của ai, mặc dù trước đây ông vào sống ra chết với họ. Xương da họ đã mục nát vào với đất bùn, thế mà nhìn kìa, tấm thẻ bài, nhìn kìa, mấy tờ Chứng Minh Thư quân đội bọc ni-lông thì hãy còn nguyên. Cái căn cước của người lính VNCH không hề mục nát với thời gian. Sợi giây trói oan nghiệt làm chứng tích cho tất cả sự dã man, tàn bạo, vô nhân đạo của chiến tranh là có thật, sợi giây vẫn còn cả cái mầu xanh của nó. Ông chợt nghĩ cái mầu xanh đó, khi được chôn xuống đất cùng với những chiến sĩ thì ước gì nó trở thành một giải mây xanh vắt ngang thân họ cho họ được an ủi phần nào. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc bỗng như bật lên từlòng huyệt. Ông thấy đau nhói trong lồng ngực. Ông nhớ là ông đã đến đây, đã chứng kiến những người lính cùng đơn vị của ông bị xử tử nơi này. Họ đã ngã xuống như những thân cây bị đốn trong rừng, thân xác họ chồng lên nhau. Đất bên mương chôn hờ một nắm. Ông đã giang tay ôm họ vào lòng. Ông đã khóc, nước mắt ông đã nhỏ xuống huyệt này trong ngày đó. Hôm nay, ông cũng giang tay ra ôm đứa con ông vào lòng khi thấy nó cùng tham dự vào việc bốc mộ cho 12 người chiến sĩ vị quốc vong thân này. Ôi cũng chính cái hốnày, vợ ông cũng đến tìm ông mà không gặp. Nước mắt ông lại đầm đìa.
Ông còn nhớ như in trong đầu mình cuộc rút quân từ Tây Ninh về. Bốn mươi chiến sĩ mang hết hồn xác ra vừađánh vừa rút quân cho đến viên đạn cuối cùng và chỉ còn lại 13 người kể cả ông. Con số 13 vô cùng nghiệt ngã. Tiếng súng nổ, tiếng đạn bay xoáy trong không gian vẫn như còn đang rung lên trong óc ông. Ôi ông còn óc không nhỉ? Ông nhớ,chao ôi là nhớ! Những khuôn mặt phờ phạc căng thẳng nhưng đầy dũng cảm của đồngđội. Là cấp chỉ huy ông đã chọn một lối ứng xử đầy phẩm giá của một sĩ quan BiệtĐộng Quân và chúng đã lôi ông đi thật xa đồng đội và xử ông cách riêng. Ông đãđược xử không bằng chỉ một viên đạn, vì hình như một viên đạn chưa đủ uy lực để“Giải Phóng” một sĩ quan Biệt Động Quân của quân lực VNCH. Ông nhớ, chao ôi là nhớ! Một ngày sau ông đã quay lại nơi này, đã chứng kiến những người chiến sĩ bị đốn nhưcây đổ trong rừng. Những chiến sĩ, đồng đội của ông, máu của họ đã chan hòa thấm vào lòng đất mẹ. Ông giang tay ra, ôm tất cả vào lòng. Họ và ông lúc đó đã thành những khối tinh thể không tan biến. Mấy hôm nay những vong linh của các chiến sĩ này đã tìm đến chùa gặp ông, họ đang xúc động mạnh vì biết là những mảnh xương chưa tan biến hết của họ sắp được đào lên và chuyển đi nơi khác. Ông đứng im lặng nhìn đám người đang vây quanh công việc bốc mộ: Những người dân tò mò đứng nhìn, những người phu đào huyệt, thân nhân của một gia đình, con trai ông, vị ni cô nữa. Tất cả mỗi người mang một cảm xúc khác nhau, nhưng cùng giống nhau ở một điểm là họmong mỏi cho những lóng xương oan khốc này, được vào một chốn êm ấm hơn nhưtrong thánh đường hay một ngôi chùa nào đó nếu không có thân nhân nhận mang vềnhà. A, họ đã đến kia rồi. Cả 12 chiến sĩ đều có mặt, cộng thêm ông nữa là đủ con số 13 oan khốc. Họ đứng sát vào ông, cùng cúi xuống lòng huyệt, nhìn những người làm công việc bốc mộ, xong họ lại nhìn nhau. Ông hiểu lắm, họ cảm động vì lòng xót thương, tình gia đình, tình đồng loại, của người cùng chung một chí hướng một đời sống trước đây. Nhưng hình như họ không muốn bị tách ra khỏi nhau và mang ra khỏi đất. Máu họ đã thấm chung vào nhau, xương họ đã chồng lên nhau, không còn phân biệt được lóng xương này, mẩu xương kia của ai nữa, cả những sợi giây trói họ vào với nhau, họcũng không muốn được tháo ra. Họ muốn tất cả hãy cứ như thế, như thế mãi, như từngày 30 tháng tư, 1975, như cái phút giây oan nghiệt bắn đi nốt viên đạn cuối cùng về phía địch cũng là kết thúc đời mình. Thân xác họ đã chôn chung một huyệt, hồn thiêng họ đã quyện thành một khối, họ không muốn tách rời ra nữa. Trên mảnh đất này họ đã hy sinh đời sống cá nhân họ, gia đình họ. Họ sống cho đất và chết về với đất. Họkhông muốn nắm xương khô bị mang đi, rời xa quê mình. Dù là nấm mồ vô chủ bênđường, nhưng vẫn là đất mẹ. Ông giang tay ôm những chiến hữu của mình vào lòng, trong không gian rất mong manh và linh thiêng này cả mười ba linh hồn đã thành một. Họ hiểu hơn ai hết là xương thịt sau khi chết đi chỉlà những vật vô tri, cái còn lại là những mảnh hồn kết tinh tìm đến với nhau. Những người bốc mộ đã hoàn tất công việc, họ hỏa thiêu những lóng xương cùng với những di vật họ gom lạiđược dưới bùn đất. Phần tro than này sẽ được đem vào gửi nhờ trong một ngôi giáo đường, chờ thân nhân đến mang về. Cái hố oan khiên đó lại được lấp xuống như nó chưa từng được đào lên. Ông biết chắc, dù nấm mộbây giờ đã được san bằng, mai kia mốt nọ chẳng còn vết tích gì để lại nhưng ông và những chiến sĩ này, sẽ vẫn mỗi năm vào ngày 30 tháng 4, sẽ lại rủ nhau đếnđây, đến ngôi trường tiểu học trong cái xã Trung Lập này để nhìn lại nơi họ đã tử thủ đến viên đạn cuối cùng và sẽ cùng nhau ra nhìn nắm mộ đã san bằng bên bờmương, nơi họ đã nằm chồng lên nhau hòa chung xương thịt. Mọi người đã lên xe ra về đem theo tàn tro của xương cốt. Chỉ còn mười ba mảnh hồn kết thành một khối bay bay trong vùng không gia huyễn hoặc, la đà trên huyệt mộ vừa lấp, đất chưa khô. Trần Mộng Tú Viết sau khi đọc bài của cháu Trần Đình Thế về cái chết của Bố và việc bốc nấm mộ tập thể (Tháng 9/2011) của 12 chiến sĩ BĐQ bị hạ sát trong ngày 30 tháng 4/1975.

20 thg 4, 2012

Anh Ở Đây

 Tác giả: Nhạc Sĩ: Thục Vũ ( Cố Trung Tá Vũ Văn Sâm )& Nhạc Sĩ -Trung Tá Vũ Đức Nghiêm QLVNCH - Ca Sĩ: Đoàn Chính

16 thg 4, 2012

Người Tự Do Giải Quyết Chiến Tranh Hai Miền


Vi Anh

Hoa kỳ và Việt Nam, hai nước đều có trải qua một cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc. Hoa kỳ dùng tình thương xóa bỏ hận thù để chấm dứt chiến tranh, để tác động tốt cho quân sĩ, để hòa giải dân tộc và để tái tạo nội lực quốc gia. Còn VN, Cộng sản Hà nội dùng hận thù để chấm dứt chiến tranh, tạo thêm một cuộc chiến trong thời hậu chiến bình yên, không súng nổ nhưng đầy tù đày, chết chóc, tỵ nạn; 37 năm sau oan nghiệt vẫn còn.

Năm 1994, tạp chí Readers Digest số 9/1994 có đi một bài tiêu biểu đầy ý nghĩa: Chiến tranh Nam Bắc Mỹ (1861-1865) — Ân Xá ở Appomattox (Mercy at Appomattox). Tác giả là một nhà khảo sử William Zinsser. Một đốc sự hành chánh của VNCH, Ô Lê Ngọc Diệp đọc nhiều lần, nhơn Tết Mậu Thân thứ 40 rồi thấy CS Hà nội còn ăn mừng chiến thắng rầm rộ, nên phiên dịch để so sánh cách giải quyết chiến tranh rất khác nhau giữa người tự do và người CS.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc ở Mỹ từ năm 1861 đến 1865; ở VN, từ 1960 đến 1975. Số thương vong quân sự ở Mỹ gần 600,000 trong vòng 4 năm; ở VN, không có số thống kê chánh thức nhưng ít ra cũng 3-4 lần nhiều hơn trong 15 năm. Ở Mỹ lý tưởng tự do, chiến đấu giải phóng nô lệ Da Đen thắng. Còn ở VN, lý tưởng bảo vệ tự do, dân chủ, chiến đấu tự vệ ở Miền Nam thua, chủ nghĩa độc tài đảng trị toàn diện Cộng sản ở Miền Bắc thắng. Nhưng khác biệt quan trong và sâu sắc nhứt là hai bên Nam Bắc kết thúc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc.

Hoa Kỳ lấy tình thương xóa bỏ hận thù để tái tạo nội lực dân tộc trong niềm tương kính những chiến sĩ sống cũng như chết đã anh dũng chiến đấu cho lý tưởng của mình. Sau khi thủ đô Richmond của Miền Nam mất, quân Miền Nam hết sức suy yếu, đói rách, một viên sĩ quan đề nghị với Tướng Lee, tư lịnh Miền Nam, phân tán và đánh du kích. Tướng Lee không đồng ý. Ông giải thích tiếp tục đánh nhau chỉ gây thêm đau khổ không cần thiết cho dân miền Nam. Ông nói: “Không còn giải pháp nào khác hơn là tôi phải đến gặp tướng Grant, nếu không, tội của tôi đáng chết ngàn lần!” “Ngày 9 tháng 4, tướng Lee ra lịnh viên sĩ quan tùy viên, đại tá Charles Marshall, đến một ngôi làng kế bên, Appomattox Court House, để tìm một địa điểm cho ông và tướng Grant gặp mặt. Tướng Lee đến trước, mặc lễ phục mang dây biểu chương và đeo kiếm, tướng Grant mặc đồ tác chiến thường ngày, quần và giày còn bám đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về cuộc sống quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ. “Sau cùng, tướng Lee đề cập đến “mục đích của buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay“. Tướng Grant bèn lấy cây viết chì, viết vội vã những điều kiện đầu hàng và trao lại cho tướng Lee. Sau khi xem qua những điều tướng Grant trao, tướng Lee nói: “Những điều kiện nầy sẽ là môt tác động tốt cho quân sĩ của tôi“. Điều kiện đầu hàng không đòi hỏi sự trả thù địch quân, họ được tự do về lại quê nhà. Tướng Lee đề cập đến nhiều binh lính của ông dùng ngựa đi đánh trận [tức có xem ngựa là vũ khí phải giao nộp theo luật chiến tranh không] ông hỏi tướng Grant rằng những quân lính nầy có thể giữ lại ngựa của họ được không? Tướng Grant chấp nhận và ông nói rằng hầu hết là những người nông dân và nếu họ không có ngựa, ông e rằng họ khó lòng trồng trọt để sống qua mùa đông. Tướng Lee trả lời: “Điều nầy sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc của chúng ta“.Trước khi chia tay, ông cho tướng Grant biết rằng ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không đủ lương thực cho họ, và ngay cả thiếu lương thực cho binh lính của ông. Tướng Grant nói ông sẽ gởi sang cho binh lính của tướng Lee 25,000 phần lương thực khô. Các đơn vị của Tướng Grant nhịn bớt phần ăn, gởi cho quân miền Nam nhiều hơn số Tướng Grant hứa.

“Vào ngày 12 tháng 4, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng để trao nộp vũ khí. Chính tại nơi nầy, hành động hòa giải cuối cùng đã xảy ra và đó là tất cả ý nghĩa tại Appomattox. Một nhân vật đáng kính, Tường Joshua L. Chamberlain, một tướng lãnh miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ quy hàng. Ông vốn là một giáo sư của đại học Bowdoin, rời bục giảng, tình nguyện nhập ngũ, sáu lần bị thương, có một lần trầm trọng đến nỗi bác sĩ quân y không cứu chữa vì coi ông như đã chết.

“Ngày tiếp đón quân Miền Nam giao nộp vũ khí, trước hàng quân nghiêm chỉnh, Tướng Chamberlain, sau này kể lại. Nhìn những binh sĩ miền Nam xơ xác từ trên đường đồi đi vào làng, dẫn đầu là tướng John B. Gordon, “Giây phút đó làm tôi thật sự xúc động. Tôi quyết định để đánh dấu sự việc nầy, tôi phải làm biểu hiện thừa nhận không gì khác hơn là chào tay. Đối diện với chúng tôi, trong tư thế bại trận nhưng can trường, là biểu tượng của tinh thần trượng phu, những con người không rã rời, không đau khổ, bất chấp tử vong và không có một sự tuyệt vọng nào có thể khuất phục họ được. Bây giờ đây, họ trở thành những con người ốm yếu, tả tơi và đói khát, nhưng họ đứng sừng sững, mắt nhìn ngang vào chúng tôi, làm sống dậy những sự ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn hết. Những đấng nam nhi như vậy sao lại không được hội nhập vào một Hợp Chúng Quốc đã thử thách và vững vàng?“

Đáp lại lịnh của tướng Chamberlain, “tức thời tất cả hàng ngũ của chúng tôi, từ đơn vị nầy đến đơn vị khác, đều nghiêm chỉnh chào tay. Tướng dẫn đầu đoàn quân, ngồi trên lưng ngựa trông buồn bã, đầu cuối xuống, nghe được tiếng động của sự chào tay và nhận ra hàm ý của việc đối xử nầy, di chuyển một cách tuyệt diệu làm cho ông và con tuấn mã ở một vị thế nhìn thẳng, rồi ông theo quân cách chào lại bằng cách hạ kiếm ngang mũi giày và ra lịnh cho các đơn vị theo sau thi hành lễ nghi quân cách khi đi ngang hang quân Bắc Mỹ: danh dự được đối xử bằng danh dự! Phía chúng tôi không còn tiếng kèn thắng trận, không một tiếng trống, không một tiếng reo hò, không một lời nói hay một tiếng sầm xì về một sự vinh quang hư ảo, mà là một sự im lặng rợn người và nghẹt thở dường như là một sự diễn hành của những bóng ma“.

Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam ở thế chào đi ngang những người miền Bắc cũng ở thế chào. Họ giao vũ khí, những lá cờ miền Nam tơi tả và trở về quê. Gần 100,000 quân miền Nam đã quy hàng ở Appomattox. Vài ngày sau, tất cả đều rời nơi nầy và ngôi làng trở về nếp sống an bình của nó.”

Hận thù chiến tranh Nam Bắc đã qua đi để xây dựng lại tình yêu và nội lực quốc gia dân tộc và quân lực Hoa kỳ. Những bãi chiến trường và nghĩa trang quân đội của hai miền Nam và Bắc Mỹ đều được chánh quyền và nhân dân Mỹ tôn vinh, thừa nhận là cổ tích liệt hạng của Liên bang Mỹ. Một phần đất của nghĩa trang quốc gia Arlington được dành cho quân dân Miền Nam có công với Tổ Quốc Mỹ. Lá cờ Miền Nam, người dân, tổ chức nào muốn treo thì treo như di sản niềm tin của mình. Không có trả thù, trả oán. Không coi chiến thắng là vinh quang.

Đọc những dòng trên, quân dân cán chính VN Cộng Hòa không thể nào không nhớ lại và không thể nào quên những tủi nhục mà CS Hà nội đã gây ra sau khi Tướng Dương văn Minh ra nhật lịnh buông súng, chờ bàn giao chánh quyền cho những người CS Miền Bắc. Người chết CS Hà nội không tha, cào mồ cuốc mả, phá nghĩa trang. Người sống bắt đi tù cải tạo, rừng thiêng nước độc, cưỡng bức lao động, không bản án, không ngày ra. Dân bị đổi tiền ba lần bồn lượt, đánh tư sản mại bản rồi tư sản dân tộc. Nhà cửa bị tịch thu cấp cho cán bộ Miển Bắc vào cai trị. Lối sống và văn hóa, văn nghệ Miển Nam bị cào bằng qua nhiều chiến dịch tịch thu văn hóa phẩm, cầm nhạc vàng.

Hơn ba triệu người vượt biên, vượt biển.

37 năm sau CS Hà nội có mở cửa kinh tế nhưng khóa chặt chánh trị.

Tự do, dân chủ, nhân quyền của người Việt không nới lỏng.

Vi Anh

15 thg 4, 2012

Khi Người Lao Công Quét Dọn Thuyết Trình


Tác giả Nguyễn Duy An thuở thiếu thời ở Bình Giã (Ngãi Giao), một khu đồn điền cao su của người Pháp, nằm trên đường Ngã Ba Tân Phong đi Bà Rịa - Vũng Tàu qua các vùng Cẩm Mỷ, Xà Bang, Suối Nghệ...toàn là cao su. Sau khi vượt biên được vào Mỹ, đương sự đã chịu khó vừa học vừa làm trong 10 năm đã thành đạt như hôm nay.


Khi Người Lao Công Quét Dọn Thuyết Trình

Nguyễn Duy-An

Ngày ấy... năm 1994, TRW (Thompson Ramo Wooldridge, Inc.) với 8 hãng lớn khác trúng thầu của Bộ Năng Lượng (Department of Energy) về việc nghiên cứu ờê thiết lập một “kho phế thải chứa đựng chất phóng xạ” (Radio Active Waste Management) trong lòng núi Yucca Mountain cách thành phố Las Vegas, tiểu bang Nevada, khoảng 100 dặm về hướng Tây Bắc. Lúc bấy giờ tôi là trưởng toán kỹ thuật của TRW chịu trách nhiệm nối kết các hệ thống máy móc từ hiện trường (Yucca Mountain) về văn phòng Bộ Năng Lượng ở Hoa Thịnh Đốn về trụ sở của 9 hãng xưởng rải rác trên khắp nước Mỹ nên “bị” chỉ định thuyết trình phần “Systems Integration” trong cuộc họp “kick off”. Hiện diện trong cuộc họp này, ngoài ban quản trị và một số nhân viên kỳ cựu của các hãng trúng thầu, còn có đại diện chính chức của Bộ Năng Lượng, cùng những người rất quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi sinh vì lo sợ ảnh hưởng của chất phóng xạ trên vùng đất của họ như: Thống Đốc, Nghị sĩ và Dân Biểu của tiểu bang Nevada.

Sau khi nhận được tin, tôi đã lên gặp ông giám đốc lo về kỹ thuật của TRW để năn nỉ xin ông đổi người khác, hoặc chính ông ta thuyết trình vì tôi run lắm. Ông ta chẳng những không chấp thuận mà còn nhắc tôi rằng đây là “vinh dự” của hãng TRW nên phải cố gắng hết sức mình làm cho tốt trước mặt “bá quan văn võ” của chính phủ cũng như ban quản trị của các hãng khác. Tôi tìm gặp một ài người Việt Nam đã làm cho TRW lâu năm xin ý kiến, ai ai cũng sợ cho tôi, vì tiên đoán tôi sẽ bị những chuyên viên của nhiều hãng khác bắt bẻ về kỹ thuật, và nhất là bị kỳ thị vì giọng nói tiếng Anh không chuẩn. Tôi làm liều gọi cho “xếp lớn” của TRW xin ông can thiệp để thay đổi nhưng chính ông ta lại bảo tôi rằng đây là “ván bài định mệnh” và hãy dẹp hết những công việc khác, lo chuẩn bị kỹ lưỡng vì ban giám đốc đã họp bàn nhiều lần trước khi quyết định đưa tôi ra làm người thuyết trình về kỹ thuật...

Tôi đã “ăn không ngon, ngủ không yên” suốt hai tuần lễ chuẩn bị tài liệu thuyết trình, và cuối cùng lại còn run sợ hơn nữa vì cuộc họp được dời về trụ sở của hãng Booz, Allen & Hamilton (BAH) để tiện đường “Metro” (xe điện ngầm) cho những người tham dự, đặc biệt là nhân viên chính phủ đến từ Hoa Thịnh Đốn. Tôi chẳng xa lạ gì với hội trường của hãng BAH, vì lúc mới qua Mỹ tôi vẫn tới nơi này mỗi tối để lau chùi quét dọn trong thời gian còn là sinh viên ở Virginia. Tôi lo sợ không biết những nhân viên và ban quản trị tại đây sẽ nghĩ gì về mình khi nhận ra anh chàng “thuyết trình viên” hôm đó xuất thân là người “lao công quét dọn” văn phòng cho họ hơn 8 năm về trước. Tôi tâm sự với một số bạn bè người Việt trong sở về điều này và người nào cũng ưu tư lo lắng cho tôi. Đã tới đường cùng nên tôi chỉ biết liều mình “nhắm mắt đưa chân” phó mặc cho số phận. Ngay từ đầu, cơ hội thành công của tôi chỉ như “sợi tóc treo mành” vì tất cả những hãng đấu thầu đều muốn gạt TRW ra khỏi vị trí đứng đầu về kỹ thuật trong đề án mới; riêng cá nhân tôi chỉ là một người “thiểu số” nói tiếng Anh chưa rành... và bây giờ lại còn thêm mặc cảm là người “lao công quét dọn” ngay chính nơi mình sẽ lên bục đứng thuyết trình.

Buổi sáng hôm đó tôi tới “hiện trường” thật sớm nhưng đã có lác đác một số người đang xếp hàng trước phòng tiếp tân để nâậg tên và tài liệu. Theo chương trình, tôi và 4 người thuyết trình khác sẽ lên họp bàn với phát ngôn viên của Bộ Năng Lượng khoảng 30 phút trước khi bắt đầu, để làm quen và thống nhất chương trình làm việc. Vừa bước vào văn phòng phía sau hội trường, tôi đã đụng đầu ngay ông Sam, phó chủ tịch của hãng BAH, đang đứng tán gẫu với người điều khiển chương trình hôm đó, bà Jeanette, phát ngôn viên của Bộ Năng Lượng. Sau khi bắt tay giới thiệu, ông ta quay sang hỏi tôi:

- Tôi thấy anh quen lắm, không biết chúng mình đã bao giờ gặp nhau chưa?

Tôi đã nhận ra ông Sam chính là vị giám đốc đã từng nói chuyện và khích lệ tôi ngày trước, mỗi khi tôi đến hút bụi văn phòng cho ông vì hầu như tối nào ông ấy cũng ở lại rất trễ, nên nhỏ nhẹ trả lời:

- Gần 10 năm trước, tôi vẫn tới dọn dẹp văn phòng cho ông mỗi tối.

- À ha. Anh chính là “người sinh viên trẻ” vừa đi học vừa làm lao công ban tối. Đúng rồi. Tôi đã nhớ ra rồi. Anh chỉ già dặn hơn một tý. Khâm phục... Khâm phục!

Tôi chỉ biết mỉm cười nói “cám ơn”, còn bà Jeanette thì niềm nở:

- Hay quá! Nếu anh John không ngại, tôi sẽ dùng chi tiết này để giới thiệu về anh trước khi thuyết trình. Sam nghĩ sao?

- Tôi cũng nghĩ vậy. Để xem... Từ hơn 8 năm nay, tôi không gặp lại John, và tôi cũng chưa bao giờ gặp một người lao công ham học như thế. Tôi còn nhớ John đã từng xin tôi những xấp giấy chi chít những “source code” nhân viên của tôi vất thùng rác để về nghiên cứu học hỏi thêm. Đáng lẽ ngày đó tôi nên nói chuyện với anh nhiều hơn và thuê anh vào làm trong hãng của tôi... Sau khi anh nghỉ làm ban đêm, tôi hỏi thăm mới biết anh đã ra trường và có việc làm tốt, nhưng tôi không ngờ “thuyết trình viên kỹ thuật” hôm nay lại chính là anh. Anh xứng đáng làm thầy của chúng tôi!

Sau đó, bà Jeanette nhờ ông Sam ghi lại những chi tiết về cá nhân tôi trong khi bà tiếp tục gặp gỡ và nói chuyện với những thuyết trình viên khác vì đã có vài người tới phòng họp. Sau mấy phút giới thiệu và họp bàn về buổi thuyết trình, ai ai cũng vui vẻ khích lệ tôi... Theo chương trình, bà Jeanette và ông Sam sẽ điều hợp chương trình và năm chúng tôi sẽ ngồi trên “sân khấu”, quay mặt xuống hội trường với khoảng gần 400 người tham dự. Tôi sẽ là người thuyết trình cuối cùng vì trước đó, đại diện Bộ Năng Lượng sẽ nói sơ qua kế hoạch chung của quốc gia về vật liệu phế thải chất phóng xạ, một người sẽ nói về dự án “Yucca Moutain”, rồi các công ty trúng thầu, hãng nào lo phần nào cũng như kế hoạch nghiên cứu, quản lý tài chánh và cuối cùng là hệ thống thông tin, nối kết tất cả vào một mối do chính tôi trình bầy.

Tôi mừng thầm trong bụng vì bước đầu coi như thuận lợi. Trong nhóm thuyết trình viên, ngoại trừ anh chàng giám đốc của hãng Duke Engineering có vẻ hơi “kỳ thị” vì thường nhăn mặt hay nheo mắt mỗi khi nhìn tôi, còn những người khác đều rất vui vẻ hòa đồng...

* * * * *

Tôi run run đứng dậy chuẩn bị lên bục thuyết trình khi bà Jeanette giới thiệu:

- Để tiếp tục chương trình, tôi xin nhường lời lại cho ông Sam, phó chủ tịch của BAH sẽ giới thiệu một thuyết trình viên rất đặc biệt, đến từ hãng TRW sẽ trình bầy với chúng ta về “systems integration” của dự án “ Yucca Mountain ”.

Ông Sam chờ tôi bước lên bục thuyết trình và khi “ánh đèn sân khấu” đã rọi vào tôi, mới bắt đầu lên tiếng:

- Kính thưa quý vị, tôi rất hãnh diện được bà phát ngôn viên của Bộ Năng Lượng uỷ thác cho việc giới thiệu anh John Nguyễn, một thuyền nhân Việt Nam đến Mỹ mới được 10 năm nay, và tôi đã có cơ may “quen biết” anh ta trong thời gian đó. Suốt hơn 2 năm trời, mỗi tối anh John vẫn tới lau chùi quét dọn văn phòng cho chúng tôi trong lúc theo học đại học; kính thưa quý vị, chính cái hội trường này cũng đã từng được anh ta hút bụi, lau bàn ghế... Và hôm nay, 8 năm sau, anh John đã trở về, không phải để làm “custodian” buổi tối, nhưng là
đứng trên “podium” sáng nay để làm “thầy” dẫn giải cho chúng ta về phương án nối kết tất cả hệ thống máy móc trong dự án này. Kính thưa quý vị, giọng nói của anh John có thể còn mang nặng âm hưởng Á Châu, nhưng đồ án anh ta đưa ra, tôi thiết nghĩ quý vị cũng sẽ đồng ý với chúng tôi là “không chê vào đâu được” vì chính tôi và nhiều người đã xem qua và tất cả đều đồng ý như thế. Bây giờ, tôi xin được trân trọng giới thiệu anh John, một người đã rời bỏ “quê cha đất tổ” và gia đình để bước xuống một chiếc thuyền tre nhỏ bé, cùng bạn bè vượt biển tìm tự do, một thân một mình tới Mỹ, vừa tự mưu sinh vừa tiếp tục học để có được ngày hôm nay. Và đây, anh John Nguyễn, một thuyền nhân Việt Nam , một người lao công đã từng quét dọn nơi này, nhưng sáng hôm nay là thuyết trình viên kỹ thuật của chúng ta.

Tôi bàng hoàng xúc động vì những lời giới thiệu của ông Sam... Trong khi cả hội trường rền van tiếng vỗ tay cổ võ, tim tôi đập mạnh, tâm trí tôi vượt thời gian tìm về dĩ vãng của những ngày gian khổ ở quê nhà, những ngày lênh đênh trên biển, những ngày đợi chờ trong lo âu ở trại tỵ nạn Galang, và những ngày đầu bơ vơ lạc lõng nơi xứ lạ quê người. Khi tiếng vỗ tay vừa dứt, tôi nghẹn ngào run rẩy bắt đầu:

- Kính thưa quý vị, tôi xin chân thành cám ơn những lời giới thiệu chân tình của bà Jeanette và ông Sam. Tôi xin cám ơn những tràng pháo tay khích lệ của quý vị dành cho tôi, một người Việt Nam nói tiếng Mỹ chưa rành. Tôi xin cám ơn ban giám đốc TRW và toàn thể ban quản trị dự án “ Yucca Mountain ” đã tín nhiệm tôi... Từ chốn tận cùng của trái tim tôi, một niềm cảm xúc nghẹn ngào đang ào ạt dâng lên như sóng đại dương nên giọng nói của tôi lại càng khó nghe hơn lúc bình thường; tuy nhiên, tôi tin tưởng rằng tất cả quý vị sẽ thông cảm bỏ qua những sai lỗi của tôi trong cách phát âm tiếng Mỹ không chuẩn. Thêm vào đó, tôi cũng hy vọng rằng những sơ đồ minh họa trên màn ảnh sẽ thay tôi giải thích tất cả, vì ai trong chúng ta cũng hiểu rằng một biểu đồ (diagram) còn có giá trị hơn cả ngàn lời giải thích loanh quanh...

Tôi thật sự choáng ngợp và bối rối vì một tràng pháo tay lớn và rất dài vang lên từ khắp hội trường; tuy nhiên, tràng pháo tay đó cũng đã giúp tôi thêm lòng tự tin và hoàn tất buổi thuyết trình một cách tốt đẹp. Cũng có một vài câu hỏi có tính cách bắt bẻ, một vài ý kiến đề nghị thay đổi chỗ này chỗ kia, nhưng phần lớn đều đồng ý và tán thành đề án kỹ thuật của TRW do tôi trình bầy.

Ngay khi chương trình vừa chấm dứt, ông xếp của tôi chạy vội ra phía sau hội trường nắm chặt tay tôi khích lệ:

- John. Chúng tôi rất hãnh diện vì anh. Anh cứ ở đây gặp gỡ làm quen những người khác, hôm nay không cần về lại văn phòng. Ngày mai chúng ta sẽ nói chuyện nhiều hơn. Cố gắng lên. Anh là m tốt lắm. Anh nói bằng con tim và trí óc chứ không phải bằng miệng lưỡi... Đừng mang nặng mặc cảm về giọng nói của mình nữa.

Tôi hớn hở bước ra hành lang phía trước hội trường, bắt tay trò chuyện với nhiều người thuộc nhiều hãng xưởng khác nhau. Người hỏi về chuyện vượt biên, “thuở hàn vi” ngaey đi học tối làm lao công, kẻ hỏi về phương án làm việc và trao đổi “business card”... Tôi choáng ngợp vì ân tình của bao nhiêu người xa lạ, có những người đã từng là “đối thủ” của tôi trong thời gian đấu thầu dự án Yucca Mountain... Giữa tiếng ồn ào náo nhiệt của bao nhiêu người vây quanh, tôi nghe vọng tới một giọng phụ nữ nói tiếng Việt:

- Anh Khanh nì... Mình chờ một tý gặp anh John làm quen và mời anh ấy về Eden ăn trưa luôn cho vui.

- Đi thôi. Thằng chả chỉ gặp may chứ có hay ho gì hơn ai!

- Mình cũng được hãnh diện vì là người Việt chứ anh.

- Nếu Thy mê nó thì cứ ở lại chờ.

- Anh kỳ quá hà. Hơi một tý là ghen bậy ghen bạ. Đi thì đi...

Tôi ngoái cổ nhìn chung quanh nhưng vì chiều cao quá khiêm tốn của mình nên không tìm được những người bạn “đồng hương yêu dấu” ấy... Tự nhiên tôi cảm thấy cô đơn lạc lõng giữa rừng người không cùng màu da, tiếng nói. Tôi được người ngoại quốc niềm nở tiếp đón và có vẻ thán phục, nhưng hình như, tôi không được một số “đồng bào” của tôi tiếp nhận! Tại sao?

Mãi gần nửa giờ sau tôi mới một mình lững thững lê bước ra bãi đậu xe, lòng buồn man mác nhớ lại câu ca dao tôi đã thuộc nằm lòng từ thuở còn mài đũng quần trên ghế trường tiểu học ở Làng Ba, Bình Giả:

Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Mẹ Việt Nam ơi, từng bước từng bước chúng con đang hội nhãp vào nền văn hóa mới, nhưng cũng từng bước từng bước chúng con đang quên dần tình nghĩa “đồng bào” theo truyền thuyết “con rồng cháu tiên” của hơn bốn ngàn năm văn hiến. Liệu rồi thế hệ con cháu người Việt đang lưu lạc khắp bốn phương trời có còn nhận nhau là anh chị em “máu đỏ da vàng” nữa không?

Nguyễn Duy-An

12 THÁNG ANH ĐI