Con người càng ngày càng nhân đạo hơn?



Con người càng ngày càng nhân đạo hơn?
Nguyễn Hưng Quốc

Quan điểm của Steven Pinker, trong cuốn The Better Angels of Our Nature: Why Violence Has Declined xuất bản vào cuối năm 2011, có thể tóm tắt vào một điểm chính: con người càng ngày càng nhân đạo hơn.
Bằng chứng: các hình thức bạo hành, từ việc đánh đập trẻ em đến những cảnh tra tấn, hành hạ, giết người ở các quy mô khác nhau, từ chiến tranh đến diệt chủng, càng ngày càng giảm. Pinker đưa ra con số thống kê: Nếu trong thập niên 1950, trung bình mỗi cuộc xung đột quân sự giết hại khoảng 33.000 người; ở năm 2007, con số trung bình ấy chỉ còn khoảng dưới 1000. Sự kiện ấy chứng tỏ điều gì? Chắc chắn không phải con người không có khả năng giết nhiều người như trước. Với sự tiến bộ về kỹ thuật quân sự, sức công phá của vũ khí càng ngày càng lớn, người ta dư sức làm điều đó. Nhưng người ta không làm. Trong các cuộc chiến tranh, phần lớn tự biết kiềm chế, nhất là các cường quốc: người ta không những tìm cách giảm con số tử vong về phía mình mà còn không muốn gây nhiều chết chóc cho phía bên kia. Nói cách khác, gần đây thế giới an toàn hơn vì con người nhân đạo hơn.

Chính cái hệ luận sau cùng này khiến nhiều người đâm ra ngờ vực. Chuyện thế giới hòa bình hơn thì đã rõ: Chúng ta có đầy đủ các số liệu và các bảng thống kê chính xác và khả tín về số lượng các cuộc chiến tranh hàng năm và số lượng người bị giết chết trong mỗi cuộc chiến tranh. Không có gì để nghi ngờ cả. Nhưng vấn đề là: có phải con người càng ngày càng nhân đạo hơn?

Cái gọi là nhân đạo bao gồm hai yếu tố chính: một là sự đồng cảm hay thương cảm đối với người khác, và hai là sự căm ghét đối với mọi hình thức bạo động trên đồng loại cũng như trên mọi sinh vật. Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau, bởi, nói như Nguyễn Đình Chiểu: “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương”.

Chỉ dựa vào kinh nghiệm và kiến thức lịch sử thông thường, chúng ta cũng dễ dàng thấy đó là một sự thật. Rõ ràng là càng ngày, cùng với sự phát triển của văn minh, lòng trắc ẩn của con người càng được vun đắp mạnh mẽ. Ngày xưa, nhìn cảnh những người nô lệ, những người dị chủng, thậm chí, phụ nữ và trẻ con bị hành hạ, có lẽ không mấy người động lòng. Người ta dễ cho đó là chuyện bình thường. Như một sự đương nhiên. Sau này, bất cứ sự xâm phạm nào cũng dễ gây nên phẫn nộ. Kinh nghiệm mà nhiều người trong cộng đồng người Việt trải qua trong những năm đầu tiên sống ở hải ngoại ít nhiều cho chúng ta thấy điều đó: không ít người bị cảnh sát làm khó dễ chỉ vì cạo gió cho con cái. Sáng, vào lớp học, nhìn thấy các vết bầm trên cổ và trên vai em học sinh nào đó, thầy cô giáo nghĩ ngay là em ấy bị bố mẹ đánh đập, hành hạ đến bầm tím thân thể. Bèn báo cho cảnh sát. Cảnh sát đến tận nhà điều tra. Phải mất một thời gian lâu, từ giáo viên đến cảnh sát mới biết đó chỉ là một cách chữa bệnh truyền thống của người Việt. Cũng có không ít người Việt gặp rắc rối với luật pháp chỉ vì cách đối xử với súc vật. Giết chó ăn thịt bị xem là dã man, đã đành. Đá gà cũng bị xem là một cách hành hạ súc vật. Người Việt khoái ăn tiết canh vịt: Cách giết vịt để lấy tiết canh bị lên án gay gắt. Thoạt đầu, không ít người Việt khó chịu. Sau, dần dần, người ta chấp nhận và cuối cùng, nhiễm cách nhìn ấy, từ đó, đâm ra bất mãn khi thấy chính đồng bào của mình hành hạ súc vật.

Tuy nhiên, ở đây, có ba vấn đề cần chú ý.

Thứ nhất, quan niệm cho con người càng văn minh thì càng nhân đạo rất dễ rơi vào thuyết tiến hóa (evolution). Thật ra, thuyết tiến hóa không phải là không hay. Chắc chắn đó là một dấu ngoặt quan trọng trong lịch sử nhận thức của nhân loại. Có điều, học thuyết tiến hóa, vốn gắn liền với các yếu tố sinh học, rất dễ dẫn đến những quan điểm có tính chất kỳ thị chủng tộc: Nếu cho rằng càng văn minh càng nhân đạo, người ta rất dễ đi đến kết luận: người Tây phương sẽ là những kẻ nhân đạo nhất. Bởi họ văn minh nhất. Hơn nữa, nó cũng dễ đến kết luận khác: những người văn minh nhất là những kẻ có thẩm quyền nhất trong việc thẩm định đạo đức của các dân tộc khác trên thế giới. Những kết luận có tính chất kỳ thị chủng tộc như vậy rất nguy hiểm: Nó rất dễ dẫn đến những cách hành xử bất công và vô nhân đạo.

Thứ hai, nên gắn liền sự tiến bộ về phương diện đạo đức với văn hóa và giáo dục hơn là các yếu tố sinh lý. Theo đó, người ta nhân đạo hơn vì, một là, người ta phát hiện ra những bảng giá trị nhân đạo; và hai là, người ta biết cách giáo dục trẻ em tôn trọng các bảng giá trị ấy. Không thể chối cãi phần lớn những sự trắc ẩn của chúng ta đều gắn liền với các bảng giá trị mới về quyền sống và quyền bình đẳng của con người. Tôn trọng quyền sống và quyền bình đẳng của con người, cho nên người ta dễ dàng động lòng trước những nỗi thống khổ của những người hoàn toàn xa lạ. Ở nước khác. Ở lục địa khác. Với màu da khác. Và văn hóa khác.

Thứ ba, nếu con người càng ngày càng nhân đạo hơn thì sự tiến bộ ấy, một là, không đồng đều; và hai là, rất mong manh. Không phải ai sống trong xã hội văn minh, với các bảng giá trị dựa trên sự tôn trọng nhân quyền, cũng đều nhân đạo cả. Bất cứ ở đâu cũng có những tên điên khùng sẵn sàng cầm súng bắn xả vào người khác. Khi những kẻ điên khùng ấy có quyền lực trong tay, không phải vài người hay vài chục người, mà là hàng ngàn hoặc hàng trăm ngàn người, thậm chí, hàng triệu người, bị giết chết. Hơn nữa, các bảng giá trị, dù cao đẹp đến mấy, cũng đều đối diện với vô số thử thách đến từ bản năng, và nhiều nhất, từ quyền lợi của con người, với tư cách cá nhân cũng như với tư cách tập thể. Vì quyền lợi, người ta sẵn sàng chà đạp lên các bảng giá trị họ đã được giáo dục. Chính vì vậy, mặc dù, nói chung, từ thập niên 1950 đến nay, thế giới càng ngày càng an toàn hơn, nhưng vẫn xảy ra nạn diệt chủng ở Campuchea vào năm 1975 cũng như ở Bosnia, Rwanda và Darfur sau đó.

Cho nên, một mặt, nhìn xu hướng phát triển chung của lịch sử, chúng ta mừng. Nhưng không nên lạc quan quá. Cái ác thường sống rất dai, bất chấp các quy luật lịch sử. Hơn nữa, có khi chúng rất gần: ngay trước mặt hoặc sau lưng chúng ta.

Nguyễn Hưng Quốc
Read more!

Kim Nhung Show với Nhạc Sĩ Trúc Hồ "Vận Động Cho Nhạc Sĩ Việt Khang

Read more!

Viet Nam Toi Dau - Việt Nam Tôi Đâu

> Read more!

Để người Đảng dạy thành Trí thức


Huệ Đăng

Thế giới có danh xưng gì, Việt nam cũng có đủ danh xưng ấy, nhưng tất nhiên với bản chất khác hẳn và danh xưng Trí thức cũng không phải là ngoại lệ.

Trí thức không phải một danh xưng bình thường, mà là một danh hiệu quí giá của xã hội trao tặng người có những phẩm chất đặc biệt.

Ngay cả Noam Chomsky - triết gia và nhà ngôn ngữ học cánh tả nổi tiếng nhất của Mỹ - cũng thừa nhận: "Là Trí thức đó là một sự bổ nhiệm cho mỗi người biết sử dụng lý trí của riêng mình để thúc đẩy những công việc quan trọng cho sự phát triển của loài người."

Lòng dũng cảm

Danh xưng Trí thức được nêu công khai lần đầu tiên trong bài báo của Georges Clemenceau với tựa đề ‘Sự phản đối của Trí thức’ trên Le Journal, 01/02/1898 ở Paris, nói về khoảng 2.000 người gồm các nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ, công chức cao cấp của Pháp đã dũng cảm ký tên vào tuyên bố phản đối sự vi phạm pháp luật trong vụ Dreyfus.

Như vậy, thuộc tính đầu tiên của Trí thức là lòng dũng cảm: dũng cảm bảo vệ ý kiến của riêng mình và dũng cảm đưa ra thảo luận công khai vì việc chung, vì sự phát triển xã hội.

Để có thể có được quan điểm, nhận định riêng- có tính phê phán- của mình trả lời cho những vấn đề chung của xã hội mà những người khác hoặc là không nhận thức được, không biết câu trả lời, hoặc không dám đưa ra thảo luận công khai, người Trí thức phải có khả năng phân tích, phân biệt Tốt - Xấu, Đúng- Sai, Lợi-Hại, Nên-Không nên, một cách lý trí, độc lập và khách quan không theo tình cảm của mình.

Theo Sartre, người Trí thức phân tích, đặt câu hỏi sâu sắc hơn, phê phán và tranh luận công khai về những hoạt động quan trọng trong xã hội, để tác động đến sự phát triển của nó. Ở đây, người Trí thức không bị phụ thuộc vào bất kỳ quan điểm chính trị hay đạo đức nào. Chính điều này thường dẫn đến xung đột với nhà cầm quyền.

Dù muốn hay không, tầng lớp Trí thức cũng vừa là người xây dựng, vừa là người phê phán ý thức hệ và hệ giá trị cơ bản của xã hội. Chính ở những xã hội có nhiều sự cách biệt, phân biệt và những trở ngại lớn lao cho sự phát triển, những xã hội đang ở giai đoạn quá độ, đang đứng trước ngả ba đường, những xã hội mà khoảng cách giữa ý thức hệ tư tưởng với thực tiễn càng lớn, người ta càng cần đến Trí thức.

Nhưng, Trí thức khác với những người "được đào tạo“, những người thông minh. Người "được đào tạo“ có thể hoàn toàn sống thanh thản với lương tâm khi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, làm ra những sản phẩm tốt (thậm chí là có hàm lượng tri thức cao) cho xã hội mà không cần phải độc lập.
Người thông minh luôn có những quyết định đúng đắn mà nhiều khi sự phụ thuộc là cần thiết. Họ, cả hai, đều không cần phải – bằng lý trí và lập luận của riêng mình- đưa những vấn đề của xã hội ra thảo luận công khai hoặc tham gia vào chúng.

Tư duy độc lập

Trí thức thì ngược lại. Anh ta phải là con người có khả năng tư duy độc lập và độc lập với xã hội. Phẩm hạnh cần thiết hàng đầu của người Trí thức là lòng dũng cảm, kể cả dũng cảm tư duy độc lập.

Người Trí thức- trong ý thức trách nhiệm với con người, với xã hội- phải có dũng khí đưa vấn đề xã hội dưới góc nhìn của mình ra công luận và thúc đẩy thảo luận công khai về nó. Rất nhiều con người bình thường có những giải pháp hay, lý luận đúng, nhưng không bao giờ nghĩ đến việc thực hiện chúng.

Lòng dũng cảm Trí thức được nhà văn trào phúng Stanislaw Jerzy Lec của Balan thời cộng sản nói một cách hình tượng như sau:

“Để đến được nơi sinh ra dòng sông ta phải bơi ngược dòng và đừng bao giờ trông chờ nó sẽ đổi hướng.”

Lòng dũng cảm, sự đồng cảm, năng lực tư duy độc lập-tự do và khả năng dự báo là những thuộc tính cần thiết của một Trí thức. Nhưng chưa đủ để làm nên một Trí thức. Trí thức phải độc lập với xã hội trong một chừng mực tối đa có thể được, và đặc biệt phải độc lập với chính sự quan tâm về vị trí của mình trong xã hội.

Một Trí thức đưa vấn đề ra thảo luận công khai không phải vì quyền lợi của mình, không phải vì sự công nhận của xã hội. Trí thức luôn độc lập và từ chối thích nghi.

Theo Naomi Klein, nhà văn nữ, nhà báo cánh tả, nhà chống Toàn cầu hóa thì:

“Một Trí thức không tự bán mình và không để cho bất kỳ ai, bất cứ cái gì ngoài chính mình nói anh ta sẽ mặc gì, mua gì hay ăn cái gì.”

Phản biện- kể cả phản biện xã hội- không phải là một chức năng hay đặc trưng của riêng Trí thức, mà là yếu tố cần thiết trong quá trình tư duy của mỗi người, mỗi cá nhân trong xã hội để có thể dẫn đến một quyết định, một kết quả thích hợp.

Như vậy, Trí thức là danh hiệu chỉ người với năng lực tư duy độc lập, có khả năng bằng lý lẽ của riêng mình đưa những vấn đề có ý nghĩa với xã hội ra công luận, thúc đẩy thảo luận công khai về chúng mà không sợ bất cứ cản trở nào từ ai, từ cái gì.

Vai trò quan trọng của Trí thức đối với sự phát triển xã hội là không phải bàn cãi và được tất cả các chế độ, từ quân chủ, toàn trị, đến dân chủ, công nhận. Tuy cách hiểu và mục đích rất khác nhau.

Trong một tài liệu viết trước Cách mạng Tháng Mười 1917, với ghi chú đặc biệt là ‘Gửi Đảng’, Vladimir Lenin đã cảnh báo về các yếu điểm của tầng lớp Trí thức như sau:
"So với giai cấp vô sản, tầng lớp trí thức luôn có tính cá nhân hơn do các điều kiện sống và làm việc cơ bản của họ, những điều kiện không cho phép họ trực tiếp xây dựng được sức mạnh chung và vì vậy cũng không trực tiếp giáo dục được thông qua sự lao động có tổ chức chung. Do đó, các nhân tố trí thức rất khó khăn để thích nghi với những kỷ luật trong đời sống của đảng …"

Sau cách mạng, Lenin khẳng định lại sự cần thiết phải đưa tầng lớp Trí thức cũ vào lao động và nhắc lại các thiếu sót điển hình của Trí thức:

"Sự cẩu thả, thờ ơ, vô trật tự, không chính xác, hấp tấp một cách đáng ghét, ngây thơ; thiên hướng thảo luận thay cho hành động, nói thay cho lao động; thiên hướng khởi đầu tất cả trên toàn thế giới và không bao giờ dẫn đến kết thúc là các thuộc tính của những người „được đào tạo“, cái thuộc tính không bao giờ hình thành từ bản chất tồi tệ và ít hơn là từ ác ý, mà là từ toàn bộ lối sống, quan hệ lao động, từ sự mệt mỏi quá độ, từ sự tách biệt bất thường giữa lao động trí óc và lao động chân tay của họ.

Không có lời khuyên, không có hướng dẫn của những người được đào tạo, của trí thức, của chuyên gia, ta không thể làm được việc. Mỗi một công nhân, nông dân hiểu điều đó rất tốt, và những trí thức ở giữa chúng ta không thể phàn nàn về sự thiếu chú ý và sự tôn trọng theo tình đồng đội của công nhân, nông dân.

Các trí thức rất thường đưa ra những lời khuyên và hướng dẫn tuyệt vời. Nhưng chính là ở đây cho thấy họ bất lực, vụng về một cách nực cười, phi lý, đáng xấu hổ làm sao để thực hiện những lời khuyên và hướng dẫn đó và tạo được một sự kiểm soát trong thực tế để biến lời nói thành hiện thực“.

Phải cải tạo

Trong bài viết "Chủ nghĩa cực đoan tả khuynh, căn bệnh trẻ con trong Chủ nghĩa Cộng sản“ vào năm 1920, Lenin xác định nhiệm vụ mới cho Phong trào Cộng sản và chính quyền Xô viết là một mặt lợi dụng Trí thức, mặt khác phải cải tạo họ:

"Dưới chính quyền Xô viết sẽ còn nhiều Trí thức được "ấn vào“ đảng vô sản của chúng ta, của các bạn. Họ được "ấn vào“ chính quyền Xô viết, vào Tòa án và vào cơ quan hành chính, vì không thể xây dựng Chủ nghĩa cộng sản một cách khác, bằng cái gì khác hơn cái mà Chủ nghĩa Tư bản đã tạo ra: Chất liệu Con người. Người ta không thể tiếp tục săn đuổi sự thông minh dân sự và hủy diệt, mà phải chế ngự nó, thay đổi kiểu cách của nó, biến đổi nó và cải tạo nó…"

Những lời dạy của lãnh tụ Lenin chắc chắn phải là kim chỉ nam cho chế độ chuyên chính vô sản của đảng Cộng sản Việt Nan trong việc cải tạo tầng lớp Trí thức còn lại của chế độ trước và đào tạo tầng lớp trí thức mới cho đảng. Có thể khẳng định rằng đảng đã rất thành công.

Cũng giống như Lenin, người ta đã cố tình đánh đồng 'Người được đào tạo', chuyên gia với Trí thức và trao cho tất cả danh xưng trí thức.

Những Trí thức cũ còn lại đã rất hiếm, lại còn được cải tạo, ràng buộc trong những môi trường sống và làm việc khiến họ chỉ còn là những chuyên gia, những "người được đào tạo lại“. Số đó, nay tuổi đã cao hầu như không còn tồn tại.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đào tạo cho mình một tầng lớp rất đông đảo 'Người được đào tạo' được mang danh trí thức. Sau chiến thắng 1975 vang dội, đứng trên đỉnh cao trí tuệ loài người, đảng trao cho họ danh hiệu cao quí 'Trí thức Xã hội Chủ nghĩa'.

Tầng lớp trí thức Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) đã đóng góp tích cực và giữ vai trò quan trọng trong mọi thành công, thất bại của đảng CSVN, trong tất cả tình trạng đáng khen, đáng hổ thẹn hiện nay của Việt Nam.

Nhưng ta chưa thấy một ai trong số họ- ngay cả những nhà phản biện trung thành nổi tiếng và đáng kính nhất, ít nhất là trên phương tiện thông tin đại chúng- có dũng khí thừa nhận vai trò của mình, sai lầm của mình hay của tầng lớp mình trong đó. Họ chưa có tinh thần tự phản biện chính mình, chưa có khả năng phân biệt, nhận định một cách khách quan, độc lập của một Trí thức.

Họ cũng đặc biệt quan tâm đến sự công nhận của xã hội. Ở Việt nam, bạn sẽ xúc phạm ghê gớm đến một cử nhân, chứ đừng nói là đến thạc sĩ, tiến sĩ, khi nói anh ta không phải là một Trí thức.

Là „người được đào tạo“ để phục vụ một chủ thể xác định, cho những mục tiêu cụ thể, trí thức XNCN bối rối, hoang mang nếu phải độc lập, bị tự do, không còn được đảng lãnh đạo nữa.

Đó không thể là tư cách của một Trí thức. Phát ngôn của ông Chu Hảo: “chưa nhất thiết giải thể sự lãnh đạo của Đảng với tầng lớp trí thức ở trong nước”, hay của TS Khuất Thu Hồng: “Nếu đặt trí thức ngoài sự lãnh đạo của đảng đó thì trí thức càng không thể phát huy vai trò của mình. “, chưa phải là những thông điệp tệ nhất. Vì ít nhất chúng còn xác nhận một sự thật rằng, ở Việt nam quả thật chưa có tầng lớp Trí thức.

Tầng lớp trí thức XHCN tất nhiên cũng mang đậm dấu ấn được đào tạo. Họ thà mang tiếng hèn nhát, chứ nhất định không chịu mang tiếng dốt. Điều này, cùng với những nguyên nhân khác, có thể giải thích vì sao đa số nhà phản biện, đối lập trung thành chỉ phản biện sau khi về hưu.

Họ biết hết đấy, nhưng trong guồng máy thì xin lỗi, sợ lắm.

Không có tự do ngôn luận, làm sao trí thức XHCN trở thành Trí thức được?

Đúng thôi. Nhưng chính là ở đây, khi không được tự do, người ta mới cần thấy lòng dũng cảm Trí thức. Điều mà chúng ta cũng bắt đầu thấy.

Phản biện trung thành, đối lập trung thành vẫn rất đáng quí - dù chỉ đủ giải phẫu thẩm mỹ cho chế độ dễ thương hơn - vì đó chính là sự khác biệt. Không phải chính sự khác biệt là bước tiến đầu tiên đến đích tư duy độc lập hay sao?

Tôi cũng có dịp gặp nhiều bạn trẻ Việt Nam và tin rằng có một tầng lớp Trí thức Việt Nam đang bắt đầu hình thành, ngày một mạnh mẽ.

Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của tác giả, hiện sống tại Sài Gòn.

Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/02/120202_intelligentsia_who_are_you.shtml
Read more!

Quê hương bỏ lại


Read more!

Hội chợ Nam Cali : Nơi lắng hồn núi sông nghìn năm



Hội chợ Nam Cali : Nơi lắng hồn núi sông nghìn năm

Cổng vào Hội Tết Sinh Viên lần thứ 31 với chủ đề Xuân An Bình
Trần Khải Thanh Thủy

Dù bận, dù mệt, dù có đủ mọi sự khó khăn cho việc di chuyển từ Sacramento tới Nam Cali, nhưng từ tết giáng sinh 2011, tôi đã nghe mọi người nhắc tới hội chợ tết với một niềm ngưỡng mộ và kính tín, nên sáng 5 tết, hai mẹ con tôi trở dạy từ lúc 4 giờ để hăm hở tìm về, hy vọng “trăm nghe” cũng không bằng “một thấy”.

Đầu tiên là phần “lễ” - phần khó nhất trong mọi lễ hội, bởi phần “hội” có thể lao xao, bát nháo được, còn phần lễ - vốn là cội nguồn linh thiêng của dân tộc, phải cẩn thận đến từng tiết đoạn. Với độ tuổi mười tám, đôi mươi, ăn tuy no, nhưng lo chưa tới, sao tổng hội sinh viên có thể đảm nhiệm được? Nhất là lại sinh ra và lớn lên tại xứ người, nói tiếng Việt còn chưa sõi, sao đi sâu vào từng tiết đoạn đời sống của ông bà, tiên tổ 4000 năm trước mà phản ánh chính xác được, tập tục đâu phải chuyện đùa?


Cổng vào làng VN với chủ đề Lạc Long Quân - Âu Cơ
Vậy mà không, không những không bát nháo đã đành, ngay cả một lỗi nhỏ cũng không.
Có lẽ chưa bao giờ trong cuộc đời tôi gặp một cuộc diễn hành lớn đến thế, đủ các loại cờ lớn nhỏ với các màu sắc phong phú đa dạng, từ cờ vàng ba sọc đỏ, vốn có nguồn gốc từ thời bà Triệu (đầu voi phất ngọn cờ vàng) Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba miền: Bắc, Trung, Nam, sống chung dưới một mái nhà Việt Nam (nền vàng), ngầm nhắc nhở con dân nước Việt phải biết thương yêu và qúy trọng lẫn nhau. Tiếp đến là cờ Sao và sọc của Mỹ với ba màu xanh, trắng, đỏ cùng 50 ngôi sao và 13 vạch đầy ý nghĩa. Màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm và nhiệt huyết. Màu trắng nói lên niềm hy vọng trong sáng, nét tinh khiết của cuộc sống và tinh thần kỷ luật. Màu xanh là hiện thân của thiên đàng, biểu tượng của Thượng đế, của lòng trung thành, niềm tin vào công lý. 50 ngôi sao trên nền màu xanh dương, tượng trưng cho 50 tiểu bang hiện tại, nằm ở góc trái trên cùng. Phần chính gồm 7 sọc đỏ và 6 sọc trắng, tượng trưng cho 13 tiểu bang sơ khai đầu tiên của người Mỹ. Sau cùng là các loại cờ không thể thiếu trong mọi lễ hội của người Việt. Từ cờ ngũ hành: Xanh, đỏ, vàng, đen, trắng. Cờ tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng. Cờ bát quái: Kiền, Khảm, Chấn, Càn, Tốn, Ly, Thôn, Đoài v.v do Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt của Giáo sư Song Thuận phụ trách. Cả rừng cờ rừng người phập phồng, phấp phới trong cảm hứng của lễ hội đầu xuân...

Trong cảm giác lâng lâng, phấn khích, tôi đi dạo một vòng quanh hội chợ và thật ngạc nhiên khi thấy hồn núi sông lắng đọng cả ở nơi đây. Từ Quốc Tử Giám (Văn Miếu) tại Hà Nội đến chùa Thiên Mụ (Huế), chợ Bến Thành (Sài Gòn), chợ nổi miền Tây, mái lều tranh, quán đầu làng v.v Ngay cạnh cổng tam quan là những cô thiếu nữ với trang phục áo tứ thân, tóc bỏ đuôi gà, mặt hoa da phấn, ngôi rẽ giữa, mái tóc mượt mà óng ả như tiên giáng trần cùng hàng trăm lính dõng, áo xanh nẹp vàng hoặc áo đỏ nẹp trắng đứng oai nghiêm như tạc tượng, đầu đội nón lá, thắt lưng màu vàng bó quanh thân áo xanh, quần vàng chẽn, tay cầm côn gậy đầu rồng, trông oai phong lẫm liệt, bởi chính họ là một phần biểu tượng của hội chợ tết đầu năm...

Sân khấu - nơi tập trung các đám rước vĩ đại rộng mấy nghìn Square Feet, hai bên là cả dãy cây cổ thụ cành vươn rộng trong nắng ấm, cùng cả dãy lều bạt căng rộng đã chật ních người như nêm cối, nơi diễn ra bao tiết đoạn của hội chợ tết. Các kiệu tế, kiệu rước, trống đại, lọng vàng do các tráng đinh phụ trách đang tiến dần vào nơi tập trung. Tất thảy đều oai vệ,đằng đằng khí thế, vừa hiện thực vừa huyền ảo như gợi lại cả một vùng ký ức hào hùng, trong sáng.

Các thiện nguyện viên trong trang phục cổ truyền
Ấn tượng đậm nét là khu làng Việt Nam với hàng chục ngôi nhà nứa lá tranh tre, những khóm trúc, bụi tre, tàu chuối, đàn ngỗng, gà vịt như tô điểm thêm quang cảnh của làng. Người ra, kẻ vào tấp nập, già trẻ lớn bé gái trai với đủ loại trang phục từ truyền thống đến hiện đại góp mặt đông đủ... Bất giác những câu thơ về phiên chợ tết được học từ thưở vỡ lòng ở trường làng trong dịp đi sơ tán tại vùng quan họ Bắc Ninh cứ dội ngược trở về trong tôi:

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.

Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ...

Thầy Đồ trong làng Việt Nam
Ngay cạnh quán đầu làng là “Thầy Đồ" đang hướng dẫn các cô cậu học trò miệt mài cặm cụi viết những nét chữ Nôm đầu tiên, trên tường treo cả hàng dài chữ Nôm, câu đối...Một hình ảnh vô cùng cao quý sinh động, cũng rất mực thân quen, được khắc họa rõ nét trong bài thơ “Ông đồ” của tác giả Vũ Đình Liên:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua


Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay...

Lễ rước Quốc Tổ Hùng Vương
Gần 200 gian hàng được trang trí vừa giản dị vừa cầu kỳ bắt mắt với đủ thứ mặt hàng, từ văn hóa đến ẩm thực. Thôi thì đủ loại: Phở bò, bánh cuốn, bún chả, thịt nướng, nộm đu đủ, cháo lòng, nước mía, nước lá dứa pha sữa v.v Tất nhiên không thể “bói” đâu ra một chiếc hamburger, hot dog... vì đây là một hội chợ tết thuần Việt, nhằm bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Gần trăm nghìn người Việt từ khắp nước Mỹ đổ về, nhiều gia đình đem theo cả lều bạt để ở trong khu vực hội chợ suốt 3 ngày tết (mồng 5, mồng 6 và mồng 7) đến thứ 2 mới chịu rời đi.

Đám cưới đầu Xuân (một tiết mục không bao giờ thiếu trong hội Tết Sinh Viên )
Khách ngoại quốc từ Australia, Nhật Bản,Pháp, đông nhất là Mỹ, cũng háo hức tham gia hội chợ tết, nhiều người súng sính trong bộ áo dài mềm mại tha thướt duyên dáng của Việt Nam, nét mặt rạng ngời hạnh phúc. Nhiều vị nam có, nữ có, nấn ná đứng chờ ở cổng Tam quan để được chụp ảnh cùng các chú lính dõng dưới gốc đa đầu làng, hoặc chụp cùng các cô thôn nữ lộng lẫy trong bộ trang phục truyền thống: Khăn xanh, áo tơ vàng, thắt lưng lụa hồng, quần lĩnh trắng thắm tươi và trang nhã một vẻ đẹp cổ điển, bắt mắt.

Chùa Thiên Mụ
Chìm trong sắc màu của hội chợ, tôi không khỏi ngạc nhiên khi giữa đất khách quê người, cách thời đại các vua Hùng dựng nước 4000 năm lại “mọc” lên một phiên chợ tết đông vui nhộn nhịp náo nức quen thuộc đến lạ kỳ. Từ con trẻ 7 tháng tuổi mắt tròn xoe ngơ ngác đến các vị chức sắc, lão hạng, khăn xếp áo the đủ màu xanh, đỏ, tím, vàng...Tất cả đang thâm nhập với đời sống dân dã, với sức sống oai nghiêm bền bỉ cổ truyền của dân tộc... Hàng nghìn con người đã trở thành những “biến thể” vừa thân thuộc vừa xa lạ (như thể đang chịu phép thôi miên từ lễ hội). Niềm thành kính từ nội tâm phát tỏa thành năng lượng biểu hiện qua nét mặt, cử chỉ nên ai ai cũng trang nghiêm lặng lẽ, hai nét miệng ngang bằng, xổ thẳng, biểu hiện sự chú tâm, chú mục đầy chân chất và thanh tao.

Nhà lá trong làng Việt Nam
52 tuổi đời, từng giáp mặt với mọi sự cơ cực, đắng cay của cuộc đời trong ngôi nhà xã hội chủ nghĩa, đặc biệt gần kề cái chết trong ngục tù cộng sản vì bị cắt thuốc vô cớ, những tưởng đã đặt chân tới đường biên của sự từng trải, xuống đến đây tôi mới ngộ ra một điều rằng: “Có một miền mình chưa đi tới, một miền mãi còn là điều mới mẻ bí ẩn và lạ lẫm đối với tôi đó là một vùng miền ký ức mênh mông từ thưở các Vua Hùng dựng nước, một vùng tâm linh sâu thẳm - nơi con người cùng hướng tới sự cao cả, linh thiêng, cũng là nơi con người được tổ chức và gắn kết với nhau bằng một niềm kính tín. Tất cả có chung với nhau một miền ký ức, cùng liên hệ trực tiếp tới lịch sử, cội nguồn, gốc rễ của quê hương, bản quán gia tộc mình. Niềm đồng cảm trong thế giới tinh thần đã gắn kết mọi người lại với nhau thật thân thương và linh diệu, ngược hẳn với hàng trăm hàng nghìn các lễ hội bát nháo nơi quê nhà, khi những cô gái hát quan họ, đội nón quai thao, áo mớ bảy mớ ba lại mặc quần bò, giày cao gót cao cả chục cm, khoe những đôi chân dài tận nách(!). Bên gốc đa cổ thụ, trong những túp lều dựng tạo nên bằng giấy, gỗ tre pheo là chiếc đồng hồ hiện đại chạy tích tắc, như nhắc nhở mọi người về sự tồn tại phi lý của mình. Chiếc trống đại đi phía sau đội cờ, dưới bóng râm của hai chiếc lọng vàng còn nguyên dấu tích của trường phổ thông trung học, ghi rõ xuất xứ sản xuất năm 2010(!)

Khuê Văn Cát - Văn Miếu
Sau khi bị chẹn cổ lấy đủ các loại tiền, từ tiền gửi xe đạp, xe máy, tiền vào cổng, tiền bảo vệ môi trường, tiền tôn tạo và đóng góp vào di tích lịch sử, tiền ăn, tiền uống (đắt gấp năm gấp mười ngày thường)...chỉ còn biết ngửa cổ thốt lên: “Em ơi lễ hội khóc” thay vì câu hát trong bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Phú Quang: “Em ơi Hà Nội phố”. Nhiều gia đình nghe tin có lễ hội, háo hức chuẩn bị từ vài tuần trước, dắt díu cả mẹ già con dại, bầu đàn thê tử nối nhau đến hội, cuối cùng chỉ còn biết ngửa cổ than:

Tưởng rằng hy vọng chứa chan
Ngờ đâu lại hóa chán chưa hở giời?

Sau khi chen xe, chen nhau đến bẹp ruột, lòi gan, bị “chặt chém” vô tội vạ bởi đủ các loại phí, chỉ còn tự nhủ:

Ai sinh ra lễ hội này
Để vơ để vét cho đầy túi tham?

Chợ nổi miền Tây
Dù đóng thuế “bảo vệ môi trường” nhưng trước và sau lễ hội là cảnh xả rác vô tội vạ. Từ túi nilon, đồ ăn thừa, lá gói bánh chưng, hộp nhựa, đũa tre v.v. Ngay chất thải của con người cũng tự do phóng uế bừa bãi, cứ khai nồng trong nắng trưa...Ngược lại ở Nam Ca li là một sự gọn gàng, sạch sẽ, trước mỗi gian hàng có một hộp giấy chuyên đựng đồ phế thải. Gần hai trăm lều quán ứng với hàng chục toa lét xếp thành một dãy dài ở một vạt đất trong khuôn viên lễ hội.

Chị Huỳnh Thị Thanh Nhàn, một thành viên của đảng Việt Tân, cho biết: “Tôi nghĩ tâm trạng của người Việt xa tổ quốc rất muốn tìm về nguồn cội, nơi mình từng sinh ra lớn lên, tắm nắng tắm gió, hít thở bầu không khí trong lành của quê hương, xứ sở... nhưng Việt Nam bây giờ đâu còn là đất tổ Hùng Vương nữa mà chỉ còn là chủ nghĩa xã hội do một nhóm độc tài cai trị. Bản chất của nguồn cội ngày càng phôi pha, phai nhạt đi, mà đường về thì xa lơ lắc. Không chỉ cách núi ngăn sông mà chủ yếu ngăn cách bởi ý thức hệ, giữa người Việt lưu vong và người Việt trong nước, giữa cộng sản và không cộng sản, giữa tự do, dân chủ nhân quyền và bất công, vô lý... Tại sao giữa xứ sở tự do, nơi vật chất tinh thần đều sẵn có mà không tổ chức một lễ hội đầu năm để bà con mình tìm về, kéo đến, lắng hồn mình trước hồn thiêng sông núi?

Sạp vải
Từ ý tưởng đến việc làm là cả một khoảng cách lớn, đòi hỏi không chỉ tinh lực mà cả vật lực, sự đam mê hiểu biết đến tận cùng mọi chi tiết, không thể “đầu voi, đuôi chuột” theo kiểu cộng sản được mà đã làm là phải làm đến nơi đến chốn, “phải dò cho đến ngọn nguồn, lạch sông”...Thế là tìm người hiểu biết để học hỏi, chỉ giáo, khôi phục lại cả một làng nghề truyền thống, phong tục lâu đời để nhắc nhở con cháu không được quên cội nguồn, gốc gác dân tộc mình mà còn tưởng nhớ lại công lao của các vua Hùng trong việc dựng nước giữ nước, đồng thời bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, không bị Mỹ hóa, Úc hóa hoặc Pháp hóa...Từ những bộ trang phục ngày tết (áo tứ thân mềm mại óng ả của các cô thôn nữ) đến những bộ trang phục của các ông chủ tế (áo thụng vàng thêu rồng xanh), đến trang phục của các thành viên tham gia hành lễ (quần chùng, áo dài), mũ bình thiên, hay trang phục của quan văn, quan võ, hoặc các đạo cụ như gươm giáo, bát bửu, dùi đồng, phủ Việt... đều phải cử người về tận trong nước đặt hàng, mỗi năm tết đến xuân về lại được bổ xung mới hoặc quang dầu lại vàng son bóng nhoáng cho đúng với không khí lễ hội cổ truyền trong sắc trời xuân nắng ấm.”

Trong ảo giác lâng lâng, khi hội chợ đã đi vào phần kết, giữa các gian hàng đủ thể loại màu sắc, từ sách báo, văn hóa phẩm đến gian hàng của hội thương phế binh Cộng Hòa, hội từ thiện, hướng đạo v,v tôi giật mình khi bị phóng viên báo Viễn đông “bắt cóc”:

- Chị ở Việt Nam đã chứng kiến lễ hội nào bề thế như thế này chưa? Theo chị sự khác biệt rõ nét giữa các hội chợ tết trong nước và Hải ngoại là gì?

Bồi hồi ra khỏi cảm xúc đang có, tôi thẫn thờ trả lời:

Chiếc gầu sóng
- Chưa đâu, đơn giản vì làm được một lễ hội mang tính huyền thoại, truyền thống trang trọng như thế này phải hội tụ ba điều cần thiết, đó là cái tâm thật sáng, cái trí phải lớn và cái hồn phải trong, người Việt trong chế độ cộng sản chỉ chạy theo lợi nhuận, tư túi, tham nhũng nên chia 5 xẻ 7, giằng co cãi vã, tranh công đổ tội...Vì vậy chỉ có thành tích ảo, tuyên ngôn lừa, cụ thể bánh trưng dâng lên vua Hùng nặng cả yến (20 pound), nhưng không phải bằng gạo nếp, nhân đỗ, thịt lợn mà bằng bọt biển, giẻ rách, chỉ hào nhoáng lá xanh lạt đỏ bên ngoài... Còn sự khác biệt thì rõ nét lắm, đó là sự bật trội trong sáng hồn nhiên, tính tự nguyện tự giác của cả ban tổ chức lẫn người tham gia hội chợ. Tiếng pháo nổ râm ran đó đây mà không gây sự ồn ào, sợ hãi xen lẫn nỗi nguy hiểm cho khách du xuân, thưởng ngoạn. Hàng nghìn chiếc ô tô đậu san sát ken dày mà không hề xảy ra sự chen lấn hỗn độn nào, bởi tất cả đã được tổng hội sinh viên trù tính từ trước. Những người đến sau có thể đỗ xe ở bãi đậu xe cách xa khu vực hội chợ vài km, từ đó sẽ có xe bus của ban tổ chức chở miễn phí vào khu vực hội chợ. Giá vé vào cổng đồng đều cho mỗi người là 5 USD, giá thức ăn, hoặc các mặt hàng tiêu dùng, đều giữ nguyên giá cũ. Các trò chơi dân gian như câu cá, quay số, bốc thăm cũng vậy...Vì thế, tâm trạng người bán, người mua, người chơi, hay người tham gia hội chợ đều vô cùng vui vẻ, hồ hởi, không có sự “chặt, chém” dã man như các hội chợ ở Việt Nam. Nơi chỉ có hội (lợi dụng cơ hội để móc túi người tiêu dùng) chứ không có lễ nghĩa, phép tắc gì hết, cứ chán ngán mặc thây, tiền mày tao đút túi(!). Ngay cả khách nước ngoài cũng chỉ dám đến một lần là triệt tiêu hứng thú.

Chuẩn bị cho nhạc cảnh "Quang Trung đại phá quân Thanh"
Sau 3 ngày tham dự hội chợ, tầm mắt, tâm trí được nuôi dưỡng bằng cảnh vật, màu sắc đậm đà bản sắc dân tộc, cũng là được thưởng thức đủ các món ngon vật lạ của người Việt xưa và nay, trên đường về - cô bạn tôi bảo:

- Hồi mới sang buồn lắm, tết đến là nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ những câu thơ cổ, tâm trạng đau buồn u uất, có lúc tưởng tan thành nước, toàn thân nhão như bùn hoặc sôi sùng sục không chịu nổi, chỉ muốn bỏ tất cả ở lại xứ người mà về. Vậy mà từ khi có hội chợ đến nay đã thành thói quen tâm lý rồi. Dù là đêm giao thừa, hay sáng mồng một, mồng hai vẫn chưa phải là tết, chỉ khi diễn ra hội chợ, vợ chồng, con cái xúng xính, tha thướt trong bộ áo dài truyền thống hoặc áo the, khăn xếp tới hội chợ mới thực sự là tết. Dù sao đi du xuân, dự hội chợ cũng là để vợi nỗi nhớ quê nhà.

Cuộc vui nào cũng đến lúc tàn, khi mẹ con tôi lên máy bay trở về Sacramento thì hàng trăm người của tổng hội sinh viên vẫn đang lúi húi với cả đống công việc dọn dẹp, tháo dỡ, trả lại quang cảnh yên bình cho công viên Garden Grove.

Ngồi yên vị trên máy bay, tâm trí tôi vẫn còn hướng cả về hội chợ, nơi lượng người đông cứng nhưng luôn xôn xao niềm nở cùng những tiếng nắc nỏm, thầm thì về một lễ hội vô cùng độc đáo, sinh động, mang nặng nét cổ truyền của dân tộc như hát ả đào, chúc Tết, đánh cờ người, đám cưới đầu Xuân v.v và v.v, lòng thầm hẹn tết năm sau lại về.

Nam Cali 7 tết 2012
TKTT
Read more!
previous

Lưu trữ Blog

Lên đầu trang