Bao Giờ Dân Việt Thôi Nói Tiếng Việt ?????



Bao Giờ Dân Việt Thôi Nói Tiếng Việt ?????????????

Theo tờ Việt Báo.vn thì hiện nay Bộ Giáo Dục CSVN đang thăm dò dư luận rộng rãi về việc đưa tiếng Tàu vào dạy ở cấp Tiểu Học và Trung Học! Cứ xem tiếng Tàu là một sinh ngữ đi, CS có thể đưa nó vào dạy ở bậc trung học như là một sinh ngữ phụ. Học sinh có thể chọn học hoặc từ chối như tiếng Anh và tiếng Pháp chẳng hạn. Nhưng hình như ý của bộ Giáo Dục không như thế. Họ muốn đó là một sinh ngữ thật sự đi song song với Việt ngữ! Với 4 tiết một tuần, và dạy ngay từ cấp tiểu học! Rõ ràng là phía sau họ đang có một ý đồ rất thâm độc.

Không phải là Bộ Chính Trị CSVN không hiểu rằng cả thế giới đang tập trung cái nhìn về họ, không hiểu rằng cả thế giới đang theo dõi chuyện họ muốn xin sát nhập Việt Nam vào Tàu, xin được làm một khu tự trị theo kiểu Tây Tạng. Thế nhưng họ đã làm gì để giải độc? Họ đã không làm gì cả. Họ chỉ ra sức đàn áp bắt bớ những nhà chủ trương dân chủ đa nguyên, những người xuống đường chống đối Tàu về việc họ chiếm Trường Sa và Hoàng Sa. Và mới đây họ lại còn cho bắt đi biệt tích Việt Khang, chỉ vì người thanh niên yêu nước này dám làm ra hai nhạc phẩm chống Tàu!

Suốt cả tháng nay họ đã cố gắng im lặng để nghe ngóng vụ thỉnh nguyện thư tại Mỹ. Họ đã cố gắng gây chia rẻ, đánh phá những người đầu tàu cho thỉnh nguyện thư ấy! Và nhất là họ nhất định không chịu bỏ qua cái vụ bôi bẩn trong chuyện đại diện dân Việt vào Tòa Bạch Ốc với hy vọng rằng từ nay trở đi sẽ chẳng còn một tập trung ý chí của người Việt như thế nữa! Họ đã nghĩ rằng nước Mỹ cần đến họ, cũng sẽ chỉ lên tiếng qua loa về vấn đề nhân quyền và rồi mọi việc sẽ đâu vào đó. Do đó họ đã cho Quốc Hội họp lại, tái khẳng định điều 4 trong Hiến Pháp Việt Nam. Tái khẳng định điều 4 có nghĩa là họ xác định đảng CSVN đứng trên cả hiến pháp, khống chế toàn bộ. Họ cho rằng họ đã bắt tay được với Mỹ là xong. Những nhà trí thức, những nhà yêu nước chủ chốt họ đã bắt cả. Họ đã khủng bố tinh thần người dân qua những lần bắt bớ đàn áp man rợ ấy. Và bây giờ họ nghĩ rằng họ đã dần dân chúng mềm đủ nên họ bắt đầu tiến hành kế hoạch sát nhập Việt Nam của họ!

Nếu xét theo lẻ thường thì việc đưa Hoa ngữ vào học đường chưa phải là cấp thiết. Bọn chúng chắc còn phải để cho Trung Cọng lấn lướt thêm ngoài khơi để phơi bày sự suy yếu của mình. Quả thật, họ đã làm việc đó với việc một tên tướng Tàu tuyên bố đòi cũng cố chính quyền ở Nam Sa và Tây Sa. Và lần này cũng thế, chính quyền Việt nam cũng là phản đối chiếu lệ. Nhưng có lẽ bọn Tàu cảm thấy bất an. Một đại kế hoạch thôn tính dân Việt không thể bị bỏ dở được. Họ không sợ dân trong nước đã bị CSVN không chế rồi. Điều mà họ sợ nhất là cái miệng của người việt hải ngoại. Những người này lúc nào cũng hướng lòng mình về quê cha đất tổ, nhận ra ngay ý đồ của kẻ thù và sẽ hô hoán lên. Do đó, nếu họ không nhanh tay toàn bộ kế hoạch sẽ hỏng hết. Và thế là họ đã thúc dục Bộ Chính Trị CSVN đi thêm một bước nữa.

Đây là một kế hoạch Hán hóa rất thâm độc trong kế hoạch đống hóa của bọn Tàu. Từ cả nghìn năm qua, họ đã cố gắng thực hiện kế hoạch này với dân tộc Việt Nam. Với cái thế quân sự họ đã thực hiện được, bên ngoài bao vây bằng những lực lượng sẵn sàng đổ bộ vào từ các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, bên trong thì khu vực khai thác Bauxit Tây Nguyên và các làng Trung Quốc tự trị rải rác thực tế là những cơ sở quân sự nếu có chiến cuộc xảy ra, đó là chưa kể đến việc họ đưa quân đánh thẳng từ biên giới Hoa Việt, họ nghĩ rằng họ sẽ dư sức nghiền nát Việt Nam. Nhưng cũng như đối với bất kỳ cuộc xâm lăng nào, cái mà bọn Tàu lo sợ nhất là sức đề kháng của dân tộc Việt-Nam. Họ đã có quá nhiều kinh nghiệm thương đau từ cả nghìn năm rồi. Họ đã tìm cách Hán hóa người Việt bằng những thủ đoạn rất thâm độc, kể cả việc đốt và mang về Tàu tất cả sách vở của người Việt. Nhưng họ đã lầm! Cái tinh thần bất khuất của dân Nam, cái văn hóa độc lập của dân Nam không nằm trong mớ sách vở mà họ đã tịch thu đó. Tinh thần bất khuất nằm trong các làng tự trị, trong đầu óc của từng người dân một. Chính những thứ này đã giúp dân Nam quật khởi.

Qua lần thử nghiệm trong việc đồng hóa dân Tây Tạng, họ đã buộc người dân Tây Tạng bỏ quốc phục của họ và mặc lấy quần áo của người Tàu và đã khuyến khích người dân Tây Tạng học và nói tiếng Tàu. Kết quả họ đã phần nào thành công. Để tránh bị đàn áp, người dân Tây Tạng đã học và nói tiếng Tàu, lý luận rằng bằng cách học tiếng của kẻ thống trị họ sẽ cớ cơ hội được coi trong hơn. Với cái đà này thì sau chừng vài chục năm thôi, tiếng Tây Tạng sẽ dần dần biến mất và dân Tây Tạng sẽ trở thành dân Tàu và thế là cuộc đồng hóa sẽ được hoàn toàn thành công. Với lập luận ấy, bây giờ bọn chúng đem áp dụng vào Việt Nam.

Đúng như lời ‘Bác Hồ’ của bọn chúng đã dạy, trăm năm trồng người, bọn chúng đang tiến hành trồng tiếng Tàu vào trong đầu óc dân Việt, và chỉ cần trăm năm sau khi lớp người Việt già nua chết đi, tiếng Việt sẽ trở thành lịch sử ngay! Để tiến hành kế hoạch Hán hóa này, bọn họ đã chọn ngay từ lớp tiểu học và trung học, với hy vọng rằng sau khi qua Trung Học những em học sinh này có thể nói tiếng Tàu một cách lưu loát như tiếng mẹ đẻ của mình! Học sinh cấp tiểu học với bộ óc non nớt sẽ dễ dàng thu nạp tiếng Tàu và tiếng Tàu sẽ cạnh tranh với tiếng Việt. Đúng vào một thời điểm nào đó, Trung Quốc hoàn toàn thống trị Việt Nam thì đám trẻ em này đã sẵn sàng để chuyển sang tiếng Tàu y hệt trường hợp đang xảy ra tại Tây Tạng. Đám trẻ em này khi lớn lên sẽ cảm thấy tiếng Việt không còn thích hợp để nói chuyện nữa. Nói tiếng Tàu để cảm thấy mình không còn là kẻ nô lệ nữa. Nói được tiếng Tàu mình sẽ từ vị trí nô lệ lên ngang hàng với lớp người Hoa thống trị. Và thế là tiếng Việt sẽ bị thay thế một cách dể dàng !!!!!!!!

Kế hoạch đưa tiếng Tàu vào học đường sẽ chỉ là bước đầu trong kế hoạch Hán hóa của bọn xâm lược. Rồi đây họ sẽ đưa cả lịch sử Tàu vào học đường. Các em nhỏ từ trước đến nay vốn đã biết rất ít về lịch sử Việt Nam, đã học rất nhiều về thế hệ từ hồ Chí Minh trở đi, lần này với lịch sử Tàu đưa vào học đường, không hiểu các thày cô sẽ giải thích sao với học sinh về những anh hùng nữ kiệt Bà Trưng Bà Triệu, về lịch sử chống Tàu của Ngô Quyền, của Lê Lợi, của Quang Trung .....

Ước mong và hy vọng rằng đồng bào trong nước vẫn chưa bị khiếp nhược để bọn CSVN không chế muốn dắt đi đâu thì dắt.

Nashville, TN 14/3/12

Song Long Read more!

Mười chuyện tiếu lâm hay nhất



Mười chuyện tiếu lâm hay nhất thời Liên Xô


Giải nhất: Ba công nhân vừa bước vào nhà tù, hỏi nhau vì sao bị tù. Người thứ nhất: “Ngày nào tôi cũng đi muộn 10 phút, họ bảo tôi phạm tội phá hoại”. Người thứ hai: “Ngày nào tôi cũng tới sớm 10 phút, họ bảo tôi là gián điệp”. Người thứ ba: “Ngày nào tôi cũng đến đúng giờ, họ bảo tôi có đồng hồ ngoại”.
Sau đây là 9 giải còn lại:

2) Trong một túp lều ở thảo nguyên có một ông lão đang hấp hối.
Có tiếng gõ cửa dồn dập
- Ai đấy? – ông lão hỏi.
- Thần chết, - có tiếng đáp.
- Lậy chúa tôi! – ông già nói – Cứ tưởng là KGB

3) Báo Sự Thật nói rằng tất cả thư từ gửi tới tòa soạn đều được tiếp nhận một cách thận trọng . Người gửi cần ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình và của những người thân nhất trong gia đình.
4) Tại sao bao giờ KGB cũng đi thành nhóm 3 người? Trả lời: một người biết đọc, một người biết viết, người thứ ba có nhiệm vụ theo dõi hai tay có học đó.

5) Leonid Brejnev thăm chính thức Pháp. Người ta đưa ông thăm quan Paris. Ông được đưa đến Điện Élysée, nhưng cũng như mọi khi, mặt ông vẫn lạnh như tiền. Rồi người ta đưa ông đến viện bảo tàng Louvre, nhưng vẫn không ai thấy phản ứng gì. Rồi người ta đưa ông tới Khải hoàn môn, nhưng vẫn không thấy một tí biểu hiện nào trên nét mặt hết. Cuối cùng, đoàn xe đến tháp Eiffel. Brejnev vô cùng kinh ngạc. Ông ta quay sang những người dẫn đường Pháp và hỏi: “Này, ở Paris có đến 9 triệu người… Các vị chỉ cần một tháp canh thôi ư?”

6) Stalin quyết định vi hành quanh thành phố xem công nhân sống như thế nào, một lần ông ta bí mật ra khỏi Điện Cẩm Linh. Sau đó ông rẽ vào rạp chiếu bóng. Phim vừa hết thì quốc ca vang lên và trên màn ảnh xuất hiện hình Stalin. Tất cả đều đứng dậy và hát quốc ca, riêng Stalin vẫn tiếp tục ngồi, tỏ vẻ rất hài lòng. Rồi ông ta thấy một người ngồi phía sau ghé vào tai thì thầm: “Này đồng chí, tất cả chúng tôi đều cảm thấy như thế, nhưng hãy tin tôi đi, đứng dậy sẽ an toàn hơn rất nhiều”.

7) Một công dân Liên Xô tiết kiệm đủ tiền mua ô tô. Sau khi trả tiền, người ta nói với anh là ba năm nữa sẽ được nhận xe.
- Ba năm nữa lận! – Anh ta nói – Tháng mấy?
- Tháng tám.
- Tháng tám à? Ngày mấy?
- Ngày 2 tháng tám.
- Buổi sáng hay buổi chiều?
- Buổi chiều. Mà chuyện gì vậy?
- Buổi sáng sẽ có một thợ sửa ống nước đến nhà tôi.

8) Tại sao các cựu sĩ quan Stasi lại là những người lái taxi thông thạo nhất ở Berlin? Vì anh chỉ cần nói tên là họ đã biết anh sống ở đâu rồi.

9) Moskva những năm 1970. Mùa đông giá rét. Có tin đồn là ngày hôm sau cửa hàng bán thịt số 1 sẽ có thịt.
Ngay hôm đó trước cửa hàng đã có hàng chục ngàn người với áo khoác ấm, giày cao cổ, rượu và bàn cờ đứng thành hành dài.
Lúc 3 giờ chiều một người bán thịt đi ra và nói: “Thưa các đồng chí, Ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng không đủ thịt bán cho tất cả mọi người vì vậy mà dân Do Thái nên về nhà”.
Dân Do Thái nhẫn nhục bước ra khỏi hàng. Những người khác tiếp tục đợi.
Lúc 7 giờ tối người bán thịt lại bước ra và nói: “Thưa các đồng chí, Ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng hóa ra là không có thịt vì vậy mọi người nên về nhà”.
Đám đông tản ra, vừa đi họ vừa lầm bầm: “Bọn Do Thái khốn nạn lúc nào cũng gặp may!”.

10) Sĩ quan KGB vào công viên và trông thấy một ông già đang cầm cuốn sách. Người sĩ quan hỏi: “Ông già đang đọc gì đấy”. Ông già đáp: “Tôi đang tự học tiếng Ivrit”. “Ông học tiếng Ivrit làm gì? Thị thực đi Israel phải chờ mấy năm lận. Ông sẽ chết trước khi làm xong giấy tờ”. “Tôi học tiếng Ivrit để khi lên Thiên đàng tôi có thể nói chuyện với Abraham và Moïse. Trên Thiên đàng chỉ nói bằng tiếng Ivrit thôi”. “Thế nếu ông xuống địa ngục thì sao?” – Người sĩ quan hỏi. “Tiếng Nga thì tôi biết rồi” – ông già trả lời.
Read more!

Xin Anh Giu Tron Tinh Que

Read more!

Trung Úy Sơn "Lieutenant Son"


Trung Úy Sơn
Hoàng Mai Đạt 'dich'

Charles Kuralt
Ký giả truyền hình Charles Kuralt là một tên tuổi rất lớn trong giới truyền thông Hoa Kỳ. Người ta đã kính trọng ông không hẳn vì ông là một ký giả có thể bám sát thời sự trên thế giới, thông thạo các ngõ ngách quyền lực tại Hoa Thịnh Đốn hoặc có những thiên phóng sự điều tra, nhằm vạch trần tội ác của ai đó trong xã hội.
Người Mỹ đã quí ông vì ông đã cho họ thấy đất nước này còn có những con người chất phác, giàu lòng bác ái và đầy tình người. Những "con người" của ông Charles Kuralt thường có một đời sống hoặc thói quen kỳ quặc một cách đáng yêu, đáng mến. Họ không xuất hiện trong những bản tin mà người thành phố vẫn đọc trên báo vào mỗi buổi sáng hoặc xem trên đài truyền hình vào mỗi buổi chiều. Họ có thể là một ông lão sống giữa rừng trong vùng biên giới Minnesota và từng chui vào bụng hưu để sống sót qua một đêm băng giá, một giáo sĩ râu bạc trắng sống cô độc trên đỉnh núi tuyết tại Washington, những người sống bằng nghề rung lò xo xe tải để bắt trùng đất tại Florida, một nông dân da đen vừa làm ruộng và vừa đọc sách mỗi ngày và có một thư viện đa dạng giữa một miền quê nghèo khó tại Arkansas, một bà cụ trên tám mươi tuổi đã bay trên ba mươi ngàn giờ và có thể là phụ nữ bay nhiều nhất thế giới, một người cắm ngược nhiều chiếc Cadillac giữa một cánh đồng "văn hóa xe" tại miền tây Texas, hoặc một ông lão có thú vui thả diều cho trẻ em ở Indiana giữa đất nước Hoa Kỳ rộng lớn.

Trong hơn ba mươi năm phiêu bạt đó đây trên khắp thế giới, ông Charles Kuralt đã tìm ra hàng trăm nhân vật ly kỳ, đáng xem và đáng mến và mang họ đến khán giả truyền hình Hoa Kỳ. Từ một chàng thanh niên có biệt tài văn chương và làm việc cho một tờ báo địa phương, ông Charles Kuralt đã được mời đến đài CBS tại New York đúng lúc ngành thông tin truyền hình đang bắt đầu trưởng thành vào cuối thập niên 1950. Trong mấy năm đầu ông đã săn tin, viết tin, và đọc tin trên đài truyền hình. Biến cố thời sự nào ông cũng biết hoặc có tham dự. Tuy thế, viết tin và đọc tin mỗi ngày không phải nỗi ao ước lớn nhất đời ông. Đến một ngày kia ông mới có cơ hội thực hiện điều mà ông đã thèm khát từ lâu. Đó là lái một chiếc xe và tự "thất lạc" trên một đất nước bao la, vô tận như niềm vui giang hồ của ông. Trong hai thập niên "thất lạc"sau đó ông đã lăn bánh hơn một triệu dặm khắp nước Mỹ, và nghe ông kể lại trên đài truyền hình mỗi sáng sớm Chủ Nhật, người ta biết ông đã yêu thương từng dặm đường lang thang ấy.

Theo lời tâm sự của ông trong loạt chương trình "On The Road" và được in thành sách sau này, ông đã nếm mùi giang hồ ngay từ ngày 9 tháng Chín năm 1934, ngày chào đời của ông. Ngày ấy một người đàn ông chuyên giúp đỡ kẻ nghèo khốn đã lái xe Chevrolet và đưa một cô giáo sắp sanh đến một bệnh viện. Chiếc xe đã phóng qua mấy thị trấn tại miền quê North Carolina trong hơn một giờ đồng hồ. Ông Charles Kuralt đã tự hào rằng ngay từ lúc lọt lòng mẹ thì ông đã du lịch trên năm mươi dặm trong chiếc Chevrolet của cha. Từ đó ông "nghiện" du lịch và không ngừng phiêu lưu cho đến ngày qua đời vào năm 1997. Ngoài thời gian tìm tòi trên đất Mỹ, ông đã du lịch khắp thế giới, từ Bắc Cực cho đến Congo, từ Cuba cho đến Liên Bang Sô Viết. Thế rồi đúng bốn mươi năm trước đây ông đã ghé đến Việt Nam và gặp Trung Úy Sơn, một người lính Việt Nam Cộng Hòa mà ông đã viết lại trong một chương sách mang tựa đề "Lieutenant Son". Chương này nằm trong cuốn A Life On The Road được soạn viết trong thập niên 1980. Nhân dịp nhớ lại ngày 30 tháng Tư năm nay, tôi quyết định chuyển ngữ "Trung Úy Sơn" và chia sẻ với bạn về những gì mà ông Charles Kuralt đã viết về một người lính Việt Nam Cộng Hòa. Từ ngày đọc "Trung Úy Sơn" lần đầu, mỗi 30 tháng Tư tôi vẫn thường tìm lại bài này. Sau khi đọc "Trung Úy Sơn" bạn sẽ hiểu tại sao.

Vào mùa xuân năm đó ông Les Midgley đã nói một câu làm cho tôi suýt bị thiệt mạng trong vòng một gang tay. Ông ấy nói, "Việt Nam." Lúc đó là tháng Tư năm 1961. Sổ tay cho chuyến đi Việt Nam của tôi đã ghi nhận vỏn vẹn có một câu "Khoảng 500 cố vấn quân sự đang có mặt tại đây." Khi ấy chưa có một cơ quan truyền thông Hoa Kỳ nào cho rằng cuộc chiến Việt Nam có đủ tầm mức quan trọng để cho họ mở văn phòng thường trực tại quốc gia này. Sự viếng thăm của một nhóm truyền hình Mỹ quả là bất thường, đến nỗi khi anh thâu hình Fred Dieterich từ Los Angeles và tôi đặt chân đến phi trường Sài Gòn thì chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã gửi ngay một tài xế lái xe Citroën đến đón và đưa chúng tôi vào thành phố, giúp cho hai người khách lạ được thoải mái. Chính quyền cũng đã dàn xếp cho tôi được phỏng vấn Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào buổi sáng hôm sau. Ông Diệm đã được bầu lên chức Tổng Thống và rồi trở thành một nhà lãnh đạo chuyên quyền. Dưới chiêu bài chiến thắng chống Cộng Sản miền Bắc, ông đã ra lệnh bắt giữ đông đảo người đối lập và kiểm duyệt quyền tự do báo chí. Quân đội của ông đã đương đầu với một cuộc chiến tàn bạo trong rừng sâu và trên những cánh đồng. Họ đã dần dần mỏi mệt. Trong cuộc phỏng vấn thì ông Diệm đã nói về hoàn cảnh đất nước của ông bằng những lời rất thẳng thắn. Ông không dùng những chữ nghĩa tối mù ngoại giao mà tôi đã chờ đợi. Ông đã trình bày rất rõ ràng về vấn đề Việt Nam đang cần viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Ông đã nói với tôi rằng khi đất nước Việt Nam bị chia đôi vào năm 1954, khoảng 900,000 người miền Bắc đã di cư vào miền Nam. Ông cho biết hầu hết những người di cư là những người chống Cộng Sản. Tuy thế, trong số này cũng có chừng 10,000 người Việt Cộng được huấn luyện và được trà trộn trong khối dân miền Nam. Những người này chờ và thi hành lệnh khủng bố người miền Nam. Ông Diệm đã nói như sau, "Những người Cộng Sản nằm vùng đã giết chết xã trưởng, giết luôn các phụ tá và rồi nắm quyền kiểm soát toàn xã. Đó là chiến thuật của người Cộng Sản. Giờ đây thì những người Việt Cộng hoạt động tại miền Nam còn nhận được sự trợ lực trực tiếp từ các cán bộ tại Hà Nội. Đây là một cuộc xâm lăng rất kín đáo, với sự hậu thuẫn của Trung Quốc và Liên Sô. Để chống lại sự xâm lăng này thì chính quyền của chúng tôi rất cần viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ." Tôi đã gợi ý rằng Việt Nam là cựu thuộc địa của người Pháp, và như thế may ra miền Nam Việt Nam có thể nhận được một phần nào sự trợ giúp của Pháp. Ông Diệm đã trả lời thẳng thừng, "Pháp không có ý chí. Chỉ có quốc gia của quí vị mới có ý chí bảo vệ tự do trên thế giới. Nếu Hoa Kỳ cũng đánh mất ý chí này thì Việt Nam sẽ không có tự do." Ngày hôm ấy ông Ngô Đình Diệm đã cho tôi một bài học lịch sử rất hay. Bài học đó cũng là lời tiên tri hay không kém. Tôi thấy Sài Gòn là thành phố hấp dẫn nhất trong các thành phố. Cuộc chiến ở miền thôn quê chưa có ảnh hưởng tại thủ đô. Tất cả những người mà tôi được gặp, kể cả giáo viên, ký giả, tiếp viên nhà hàng cho đến tài xế taxi, đều thân thiện và rất ý tứ. Tôi cho rằng phụ nữ ở đây xinh đẹp trong những tà áo dài lướt trôi giữa những dòng xe ngoài phố. Sài Gòn đã có thời tiết mùa xuân rất đáng yêu với những quán cà phê bên đường thật thú vị. Tôi đi bộ dưới bóng cây râm mát trên các đại lộ vào ban ngày, nằm trên giường bên dưới một quạt trần biếng lười trong khách sạn cũ Majestic, lắng nghe tiếng tàu thuyền di chuyển trên sông vào ban đêm. Tương tự như những đám ký giả ngoại quốc kéo đến đây trong những năm sau đó, tôi đã yêu mến Sài Gòn. Thành phố rất xứng đáng được bảo vệ.

Tôi nghĩ nếu một mai thành phố đầy ánh nắng và quyến rũ ấy bị Cộng Sản xâm chiếm để rồi trở thành một nơi xám ngoét và đầy kỷ luật nghiêm ngặt, thì thật không còn một chút hy vọng nào cho nền văn minh của nhân loại. Mỗi ngày tôi vẫn ghé đến văn phòng thông tin của chính phủ, để quấy rầy một viên chức và xin phép được tháp tùng theo một cuộc hành quân ra miền thôn quê. Ban đầu viên chức nói, "Nguy hiểm lắm;" sau đó, "Có thể;" đến khi biết tôi sẽ không đi khuất mắt, một ngày kia ông ta mới nói, "Ngày mai. Trung Úy Sơn sẽ đến đón ông tại khách sạn. Hãy chuẩn bị để đi xa nhiều ngày." Ngày hôm sau anh Fred Dieterich đã đặt hết dụng cụ vào đằng sau một chiếc Jeep của quân đội. Anh leo vào ghế sau trong khi tôi ngồi ở ghế trước với Trung Úy Sơn. Ông ta là một sĩ quan Biệt Động Quân trẻ tuổi, gọn ghẽ, và đã được huấn luyện mấy tháng tại Hoa Kỳ. Tiếng Pháp rất kém của tôi và tiếng Anh cũng rất kém của ông Sơn đã đủ cho chúng tôi nói chuyện trong lúc xe chạy ra ngoại ô về phía bắc Sài Gòn. Tuy còn trẻ tuổi, Trung Úy Sơn lại là người có rất nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh. Ông kể cho tôi nghe rằng ông xuất thân từ một gia đình ái quốc. Ông và hai người anh đã gia nhập lực lượng Việt Minh trong cuộc chiến chống Pháp. Ông cũng là một trong những thiếu niên vác đạn trong những ngày cuối cùng của trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954.


"Thế nhưng chúng tôi muốn có một đất nước tự do," Trung Úy Sơn nói thêm. "Gia đình tôi không đánh Pháp để rồi bị cai trị bởi Hồ Chí Minh." Ông nhún vai và cười, "Thành thử bây giờ chúng tôi vẫn tiếp tục tranh đấu. Ông sẽ thấy có rất nhiều người như chúng tôi trong lực lượng Biệt Động Quân." Chúng tôi ngủ đêm trong một kho hàng bỏ phế tại thị trấn Bến Cát, cùng với Trung Úy Sơn và nhóm của ông, Đại Đội 150 Biệt Động Quân. Ông Sơn đã giới thiệu hai đứa tôi với những người lính trong trung đội của ông. Chúng tôi trịnh trọng bắt tay với từng quân nhân và rồi ông Sơn đã có một bài diễn văn ngắn với những người lính. Sau đó ông cười toe và nói với chúng tôi, "Tôi nói với họ hãy chăm sóc quí vị ngày mai." Khi bóng đêm phủ xuống ông Sơn mang thức ăn, cơm và thịt trong một thứ nước sệt nặng mùi (thịt kho, lời người dịch). Tôi hỏi, "Món gì đây?" Ông Sơn trả lời, "Tôi không biết phải nói sao với ông. Thôi ông cứ ăn và đừng hỏi nữa." Ông ta cười lớn. Ông mang cho tôi và anh Fred hai cái giường, trong khi chính ông và những người lính đã trải chiếu và nằm dưới đất. Tôi nói, "Tôi không thích được ưu đãi như thế này. Chúng tôi đã chuẩn bị để sống y hệt như các bạn." Ông Sơn đưa một tay lên và nói, "Các bạn là quí khách của chúng tôi." Các sĩ quan đã tụ tập trong một góc phòng và nghiên cứu bản đồ bên dưới một bóng đèn điện treo lòng thòng từ trên trần nhà. Vào sáng hôm sau ba trung đội Biệt Động Quân đã được lệnh di chuyển xuống phía nam, tiến vào một dải đất nằm giữa sông Sài Gòn và một con kinh. Cuộc hành quân là nhằm bao vây một lực lượng Việt Cộng mà những người lính Biệt Động Quân cho rằng rất nhỏ. Nhóm Việt Cộng hoạt động trong một khu vực được gọi là An Điền. Trung đội của ông Sơn là hàng lính tiến vào giữa trọng tâm của khu vực. Trung Úy Sơn đã tỏ vẻ ái ngại khi nói với chúng tôi, "Chúng ta không đi bằng đường đất. Tôi xin lỗi. Hai bạn sẽ bị dính bùn vào giày." Trước khi mặt trời mọc chúng tôi leo lên những chiếc xe vận tải của nhà binh. Sau một đoạn đường rất ngắn, đoàn xe dừng lại bên cạnh một bìa rừng. Trong bóng tối những người lính đã yên lặng đội nón sắt, cầm thẳng súng và đeo những băng đạn vào thắt lưng. Ở đâu đó từ đằng sau lưng tiếng đạn đại bác 155 li bắn qua đầu chúng tôi và nhắm vào khu rừng trước mặt. Chúng tôi đi bộ vào trong rừng, tiến tới từng bước một - tiến tới gì? Tôi không biết. Tiến tới cái gì đó nằm ở trong rừng. Khi mặt trời mọc tôi có thể thấy thỉnh thoảng chúng tôi đi ngang qua những khóm nhà hoang phế trong rừng. "Không có ai ở nhà," ông Sơn nói. "Sợ chúng tôi, sợ đối thủ. Luôn luôn chạy trốn."

Tiếng đạn đại bác đã ngưng. Buổi sáng trở nên im lặng, ngoại trừ tiếng động của khoảng ba mươi đôi giày lính di chuyển trên mặt đất. Chúng tôi ra khỏi khu rừng, trèo qua một hàng rào kẽm gai và lội một dặm qua những đồng lúa. Anh Freddy Dieterich và tôi đi vài bước trước mặt người dẫn đầu hàng lính. Chúng tôi thâu hình đội lính tiến về phía trước. Buổi trưa đang trở nên nóng hơn. Tôi nghĩ rằng chắc không có gì xảy ra. Thôi thì ít nhất chúng tôi cũng thâu được hình ảnh những người lính hành quân qua những cánh đồng. Đúng lúc chúng tôi đến một con đê đất cao hơn mặt ruộng, một tràng tiếng đạn bỗng nổ vang từ một hàng cây nằm bên kia một con suối, cách chúng tôi khoảng nửa dặm.

Tiếng súng nổ mỗi lúc một lớn hơn, gia tăng âm độ và cường độ cho đến khi tất cả tiếng đạn trở thành một tiếng nổ lơn liên tục. Chúng tôi có thể thấy bóng người chạy thấp thoáng ở hàng cây và nghe tiếng la hét của họ. Trung Úy Sơn đã hét lệnh cho các người lính của ông. "Phục kích!" ông nói cho tôi biết. "Trung đội bên kia đã rơi bẫy. Họ đang cần chúng tôi ngay bây giờ." Nói xong ông rút một khẩu súng lục .45, đưa súng lên cao và vẫy súng qua đầu, chỉ huy trung đội của ông tiến vào trận đánh. Các quân nhân đã chạy theo ông. Họ lội qua suối và phóng về phía hàng cây đang có giao tranh. Anh Fred Dieterich và tôi cầm máy chạy theo họ. Chúng tôi làm tất cả những gì có thể làm được, để vừa thâu hình các quân nhân chạy tới trước và vừa thâu âm thanh của cuộc đụng độ mà không bị họ bỏ rơi quá xa. Đến khi chúng tôi chạy tới hàng cây thì tiếng súng đã giảm xuống. Thỉnh thoảng có tiếng nổ hàng loạt lẻ loi từ trong rừng sâu. Tôi thấy những tử thi nằm rải rác khắp nơi ven bìa rừng. Hầu hết tử thi là những người lính Biệt Động Quân, ngoại trừ hai xác Việt Cộng trong bộ áo bà ba đen rộng. Một trong hai du kích Việt Cộng đã nằm bên cạnh một khẩu súng trường Browning nặng nề. Người còn lại chỉ có một thanh mã tấu. Trung Úy Sơn ra lệnh cho trung đội của ông dùng lại bên hàng cây. Theo lệnh của ông thì mỗi người lính đã lấy ra một chiếc khăn trắng và buộc vào cánh tay trái. Ông cũng trao khăn trắng cho chúng tôi. "Để chúng ta không bắn lầm nhau," ông giải thích. "Chúng ta sẽ tiến rất chậm. Hai bạn hãy đi sát bên tôi." Các quân nhân đã dàn rộng dọc theo hàng cây.

Theo lệnh của Trung Úy Sơn, mọi người cùng tiến vào rừng. Chúng tôi đi dò từng bước được năm mươi thước, rồi một trăm thước, mỗi người lính cẩn thận nghe ngóng động tịnh ở phía trước. Chúng tôi gặp thêm những xác chết. Chúng tôi đi ngang qua một Biệt Động Quân đã bị thương và đang tìm cách ngăn chặn máu chảy từ vết thương trên ngực của một đồng đội. Trung Úy Sơn đã ngừng lại vài giây và nói chuyện với quân nhân bị thương. Sau đó ông tiếp tục chỉ huy chúng tôi tiến tới rất chậm trong sự im lặng. Anh Fred Dieterich nói thì thầm với tôi, "Kinh rợn như địa ngục." Cuối cùng chúng tôi đến một con đường đất dẫn ra một bãi đất trống nằm giữa rừng. Trong bãi đất này có một ngôi chùa bỏ hoang và một căn nhà không còn mái che. Trung Úy Sơn ra hiệu cho bốn quân nhân lục soát bên trong ngôi chùa và căn nhà. Họ dùng báng súng đập tung cửa chùa và tiến vào bên trong. Trống trơn. Họ cẩn thận bao vây căn nhà và xông vào. Trống trơn. Nhóm truy lùng trở lại với chúng tôi ở giữa bãi đất trống. Chúng tôi đứng thành một vòng tròn, mỗi người dóng mắt về hướng rừng cây im lặng bao quanh. Và rồi địa ngục bung mở tán loạn.

Khu rừng chung quanh chúng tôi bỗng nổ tung. Tiếng đạn kêu lạch cạch liên hồi, bao vây chúng tôi trong âm thanh rền vang điếc ngộp đất trời. Sau một hoặc hai giây tôi mới nhận ra tất cả những tiếng nổ chỉ cách chúng tôi có mấy thước, và những họng súng đều nhắm vào chúng tôi. Tôi nhìn quanh tìm chỗ ẩn. Không có một nơi nào ngoại trừ một khoảng đất trũng không sâu nằm giữa bãi trống. Fred Dieterich và tôi cùng nhảy vào khoảng trũng này. Chúng tôi có thể thấy những bóng người đằng sau thân cây đang nhắm mũi súng bắn về phía chúng tôi. Thật khó có thể tin được trong lúc nguy hiểm như thế này mà Fred vẫn làm phận sự của một chuyên viên thâu hình. Anh đổi ống kính và dùng ống dài hơn. Sau đó anh chống cùi chõ trên mặt đất và chĩa máy bắn ngược về phía đối phương. "Đừng quay nữa!" tôi la lớn. "Cúi đầu thấp xuống!" Anh Fred Dieterich vẫn nói rất bình tĩnh, "Charlie à, tôi nghĩ đây là đúng lúc rồi. Thâu hình cho họ biết chuyện gì đã xảy ra cho chúng ta." "Kệ mẹ chuyện thâu hình!" tôi vẫn hét lên. "Đây không phải lúc! Cúi đầu xuống đi!" Chúng tôi tìm cách giải cứu trung đội đầu tiên thoát ra khỏi một vòng vây phục kích, và rồi giờ đây chính chúng tôi cũng đã bước vào một bẫy phục kích.

Tuy đang cúi sát đầu xuống mặt đất, tôi vẫn có thể nhìn quanh và nhận thấy chúng tôi đang gặp khó khăn kinh hoàng. Nhiều người lính Biệt Động Quân đã bị trúng đạn trong đợt nổ súng đầu tiên. Họ nằm chung quanh chúng tôi trong bãi đất trống, chết hoặc bị thương. Tuy thế, những người lính còn đứng vững đã phản công với sự can đảm tột cùng. Với khẩu súng nổ không ngừng trong tay, một quân nhân đã chạy thẳng vào đối phương ẩn núp trong rừng. Anh đã chạy cho đến khi bị kẻ địch bắn gục bên ngoài bìa rừng. Anh té xuống đất mà ngón tay vẫn còn bóp chặt vào cò súng. Từ nòng súng của anh hàng loạt phát đạn đã bắn lên không trung. Những quân nhân khác đã giữ vòng phòng phủ và chống trả mãnh liệt với những phát súng bắn vào trong rừng.

Trung Úy Sơn đã bị trúng đạn vào một cánh tay, thế nhưng ông ta vẫn chiến đấu như thường. Ông quì bên cạnh một quân nhân giữ máy truyền tin. Ông quay tay cầm của máy truyền tin chạy bằng máy phát điện từ trường, với hy vọng liên lạc với bộ chỉ huy sư đoàn và xin tiếp viện. Anh Fred Dieterich và tôi đã bò lại gần vài thước, để thâu hình ảnh ông Sơn liên lạc với bộ chỉ huy. Những viên đạn đã bắn tung mặt đất chung quanh chúng tôi. Ông Sơn không quan tâm đến những phát đạn và vẫn tiếp tục quay máy truyền tin nhiều vòng. Sự cố gắng của ông cũng vô ích. Không có ai trả lời. Chúng tôi đã ở bên ngoài vòng phát tuyến. Đến lúc đó người lính truyền tin đã có một hành động rất can đảm mà tôi phải sững sốt và chưa từng thấy trong đời. Người lính này rất trẻ tuổi, có lẽ không tới mười bảy hoặc mười tám tuổi. Không nói một lời nào, anh thò tay vào trong túi đeo và lấy ra một cuộn dây kim loại. Anh quấn một đầu dây vào ăng-ten của máy truyền tin. Sau đó người lính trẻ tuổi này nhanh chân chạy đến một cây cao, vừa chạy anh vừa thả cuộn dây. Đến gốc cây anh ngậm đầu dây còn lại ở trong miệng và leo thăn thoắt lên thân cây, bất kể những viên đạn đang bay vụt ở chung quanh. Anh buộc đầu dây vào một nhánh cây cao, tuột xuống mau chóng và chạy trở về máy truyền tin mà không hề bị sây sướt một chút nào. Anh vội vàng quay máy nhiều vòng.

Trung Úy Sơn nằm bên cạnh máy truyền tin, nói vào đầu vi âm và liên lạc được với bộ chỉ huy. Ông đọc tọa độ của đơn vị trên một bản đồ, rồi trao đầu máy cho người lính truyền tin. Quay sang anh Fred và tôi, ông Sơn nói, "Nằm sát xuống. Không sao. Họ sẽ gửi lính nhảy dù." Tiếng súng giảm dần. Tôi không còn thấy Việt Cộng trong rừng cây, mặc dù thỉnh thoảng tôi vẫn nghe có tiếng súng bắn qua lại ở đâu đó. Hai quân nhân đã băng bó cánh tay của ông Sơn và rồi cả ba người đã ôm túi thuốc và bò đến những người lính bị thương nằm ở chung quanh. Họ lôi kéo được nhiều thương binh vào bên trong bức tường của ngôi chùa, nơi mà hầu hết những người lính đã rơi vào một cơn chấn động thần kinh tột độ, và tắt thở trong lúc chờ đợi đội quân nhảy dù tiếp viện như lời hứa hẹn. Lúc bấy giờ ông Sơn đã đứng dậy và đi lại trong khu đất trống. Ông nói những lời khích lệ dành cho các quân nhân còn sống sót. Ông đến quì bên cạnh Fred và tôi. "Chúng tôi đã gần hết đạn," ông nói. "Tôi nghĩ rằng ông cần biết điều này. Tôi không nghĩ là chúng ta sẽ bị tấn công thêm nữa đâu. Tuy thế, trong trường hợp chúng ta bị ..." Một phát đạn đã bắn ra từ trong rừng. Viên đạn đã bắn trúng đằng sau nón sắt của ông Sơn và bay xuyên qua vành phía trước. Ông lao tới phía tôi và rồi té xuống đất. Ban đầu vết thương trông có vẻ rất nhỏ. Tôi ôm đầu ông vào ngực tôi. Tôi lượm một mớ lá cây nằm dưới đất và tìm cách nhét vào vết thương, với hy vọng máu sẽ ngưng chảy. Tôi còn nhớ viên đạn bắn chết ông Sơn cũng là viên đạn cuối cùng trong trận đánh ngày hôm ấy.

Lính nhảy dù đã đến trong những chiếc xe nhà binh. Những du kích Việt Cộng đã biến mất trong rừng, mang theo những đồng đội tử trận hoặc bị thương cùng với họ. Chúng tôi đi bộ vài dặm xuống một con đường và tập họp tại một ngôi trường làng. Trên sàn nhà tôi lượm được một tờ bích chương mà sau đó tôi có nhờ người khác chuyển ngữ. Tờ bích chương nói: "Không cho Cộng Sản gạo. Không cho Cộng Sản tin. Không cho Cộng Sản vào nhà." Tờ bích chương đã nằm trên sàn nhà vì những người Cộng Sản đã phá hoại ngôi trường một đêm trước đó. Một Đại Tá chỉ huy trưởng Biệt Động Quân đã đến trường học trong một chiếc xe jeep. Ông cho Đại Đội 150 xếp hàng và nói với họ, "Các anh là những người lính chiến đấu rất anh dũng. Các anh đã ngăn chặn một lực lượng quân thù đông gấp năm lần. Đừng nghĩ đến những người đã chết. Các anh chiến đấu cho một mục tiêu cao cả và các anh sẽ chiến thắng." Thế nhưng mười chín quân nhân trong đại đội đã không có mặt để nghe lời của viên Đại Tá. Họ đã tử trận trong ngày hôm ấy. Trong số những quân nhân này là hai sĩ quan, Trung Úy Sơn và vị đại đội trưởng. Tôi thấy có ít nhất mười một người bị thương; có thể còn có những người khác bị thương mà tôi không biết.

Viên Đại Tá đã chỉ định một chiếc xe lính đưa Fred Dieterich và tôi về Sài Gòn. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau đó chúng tôi đã trở về trong sự an toàn của một thành phố dịu dàng. Chúng tôi đi rộn ràng giữa những đại lộ thênh thang. Đó đây có những người đạp xe qua lại. Những quán cà phê bên vỉa hè vẫn đông người. Chúng tôi đến trước cửa khách sạn Majestic trước khi trời tối và băng qua phòng tiếp khách để đến cửa thang máy, mang theo những dụng cụ lỉnh kỉnh trên tay. Người ta đã quay đầu nhìn chúng tôi vì chúng tôi quá dơ bẩn và không có vẻ phù hợp với khung cảnh của một khách sạn sang trọng. Áo của tôi đã thấm đầy máu của Trung Úy Sơn. Từ đó tôi không bao giờ quên được Trung Úy Sơn. Trong suốt những năm tháng của cuộc chiến Việt Nam tôi vẫn nhớ đến ông ấy.

Tôi đã trở lại Việt Nam nhiều lần, tham dự những cuộc hành quân khác ra ngoài miền quê - đến những lần sau này là với quân đội Hoa Kỳ - và còn chứng kiến những con người tốt bị bắn chết trong những bãi đất trống bên cạnh rừng già. Trong lúc cuộc chiến vẫn kéo dài như không có một kết cục và số thương vong Mỹ mỗi lúc một cao hơn, tại Hoa Kỳ người ta có phong trào cho rằng những thanh niên Mỹ đã bị thiệt mạng một cách vô nghĩa. Tất cả những bạn đồng nghiệp của tôi đã đồng ý với nhau rằng đó là một cuộc chiến vô đạo đức, trong đó đế quốc Mỹ đã chống lại "nhân dân Việt Nam." Tôi không bao giờ nghĩ như vậy. Những người Việt Nam mà tôi được gặp đều không muốn có chiến tranh. Họ muốn được sống yên trong hòa bình. Thế nhưng người ta không cho họ được yên thân. Họ bị xâm lăng bởi một đạo quân từ miền Bắc xuống Nam theo lệnh của một chính quyền mà họ thù hận. Tôi nhớ đến ông Sơn, một người đã ao ước được thấy một Việt Nam tự do đến nỗi ông sẵn sàng chiến đấu thêm cho lý tưởng này, mặc dù thời gian tranh đấu của ông đã qua lâu rồi.

Tôi nghĩ đến những người lính trong Đại Đội 150, người đã cầm súng xông thẳng vào rừng, người đã leo lên cây với dây ăng-ten truyền tin ngậm chặt trong răng. Tôi đã nghĩ, và tôi vẫn nghĩ rằng công lý và đức hạnh đã sống với những người can đảm ấy. Tôi thù ghét mỗi khi trở lại Việt Nam sau này và nghe những người lính như thế bị gọi là "gooks" bởi chính các quân nhân từ quê hương của tôi. Những người lính đã sống qua cuộc chiến - trong đó không có là bao quân nhân Biệt Động Quân - giờ đây phải vào những trại "học tập cải tạo." Sài Gòn xinh đẹp, thư thả năm xưa đã trở thành Thành Phố Hồ Chí Minh. Vết thương của Cuộc Chiến Việt Nam đang lành lặn tại Hoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ, hầu hết mọi người không còn nhớ rõ lắm về cuộc chiến hoặc không còn ghi nhận những ao ước của "nhân dân Việt Nam." Mỗi lần có dịp về Hoa Thịnh Đốn thỉnh thoảng tôi vẫn đến Đài Tưởng Niệm Cuộc Chiến Việt Nam. Trên bức tường đen có khắc tên của một số quân nhân mà tôi đã từng quen biết. Tôi nghĩ đến họ. Lẽ đương nhiên bức tường đen không có tên của ông Sơn, tuy thế tôi cũng nghĩ đến ông. Tôi chỉ biết ông có một ngày. Tôi đã quên không hỏi để biết trọn vẹn tên của ông.

* * * * *

Tôi được đọc "Trung Úy Sơn" trong một ngày bị bệnh. Cơn sốt nóng từ ban đêm đã khiến cho tôi khó ngủ vào ban ngày. Giữa những cơn chóng mặt lúc đứng dậy và nằm uể oải không thể chìm vào giấc ngủ, tôi lật cuốn sách đã mua từ lâu mà chưa có dịp được xem. Đến khi nhẫm đọc hết hàng chữ cuối cùng của "Trung Úy Sơn" tôi đã ứa nước mắt. Tôi xúc động vì đã được nhìn thấy một phần nào trong quá khứ tối tăm của tôi. Phần quá khứ ấy có liên hệ đến cha tôi. Ông tử trận vài năm sau Trung Úy Sơn tại một nơi nào đó ở Tuy Hòa. Cha tôi đã biến mất trong cuộc đời tôi từ khi tôi được năm tuổi. Không chỉ biến mất theo nghĩa thể xác, ông cũng không còn trong trí nhớ. Trong nhiều năm tôi cho rằng ông đã cố tình rời xa mẹ tôi, cố ý bỏ rơi hai anh em tôi trong một xóm nghèo. Đời sống thiếu thốn đã khiến cho tôi tìm những lý do để gạt hẳn ông ra ngoài hơi thở mỗi ngày. Ngoài bức hình để trên một bàn thờ rất ít khi được đốt nhang, chúng tôi chỉ nghĩ đến cha vào mỗi dịp viếng mộ đầu năm. Tôi không nhớ cha đã đành, mẹ tôi cũng ít khi nhắc đến ông. Tôi nghĩ quãng đời thiếu vắng một tấm chồng ở tuổi thanh xuân đã để lại trong mẹ tôi một quá khứ đớn đau mà bà sẵn sàng từ bỏ một khi rời khỏi Việt Nam.

Rủi ro cũng tẩy đi gần hết những dấu vết của cha. Rơi rớt dọc theo con đường lánh nạn là mấy bức hình đen trắng, vài lá thư mỏng mực lòe của cha tôi. Ngay cả tờ giấy khai tử cũng biến mất, xóa luôn ngày tháng tử trận của một người lính gần như vô danh. Cũng may tôi còn ôm được một tấm hình của cha. Tuy sóng biển từ Sài Gòn qua đảo Guam đến đất Mỹ đã ăn phân nửa bức hình, cha tôi cũng cố gắng để lại một đôi mắt buồn, đôi mắt nhìn xuống của một thanh niên mới trên đôi mươi. Có lẽ vì đôi mắt tủi buồn đó mà sau hơn hai mươi năm đẩy ông ra khỏi cuộc sống, một ngày kia tôi bỗng quay lại tìm cha trong quãng quá khứ bị phai mờ. Tìm lại ông quá khó. Ông không có bạn bè, không người thân, không đồng đội còn sống và cũng không quá khứ ngoài vài mẩu chuyện mà mẹ tôi thường kể. Mỗi lần mẹ kể câu chuyện lại khác đi, như những đám mây tan bay trong một buổi chiều sắp tắt nắng. Ngày cha tôi mất cũng vậy, bà chỉ nhớ mang máng là một ngày rằm, có lẽ rằm Phật Đản của năm 1965.

Tôi không biết ông chết như thế nào? Ở đâu, giữa một cánh đồng, trên núi hay trong rừng? Ông có đau đớn không? Ông bị bắn hay đạp trúng mìn? Ai bắn ông? Xác ông có còn nguyên vẹn? Ông có thoáng nghĩ đến anh em tôi trước khi ông nhắm mắt? Có ai ôm lấy ông trước khi ông trút hơi thở cuối cùng? Ông chết một mình? Có lẽ suốt đời tôi lúc nào cũng có một khoảng trống trong quá khứ ấy, những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời. Đó là lý do mà tôi đã ứa nước mắt khi đọc xong "Trung Úy Sơn." Trong cái chết của Trung Úy Sơn tôi chợt nghe tiếng đạn bắn trúng cha tôi, bắn trúng những người lính một buổi sáng thầm lặng bước vào rừng và một buổi chiều trở về bên dưới tấm khăn phủ tối om. Những người lính không còn ai nhớ đến, không đài liệt sĩ cũng không bức tường đen, và cũng không chắc còn được một tấm bia trên phần mộ.

Hoàng Mai Đạt
Read more!

Chiến Dịch Vận Động Nhân Quyền tại Tòa Bạch Ốc


Jackie Bông

Tuy tôi ghi danh với đài truyền hình SBTN-DC để đi vào Tòa Bạch Ốc (TBO) ngày 5 tháng 3, nhưng tôi đại diện cho Mạng Lưới Nhân Quyền. Có 165 đại biểu được chánh thức có giấy mời vào, nhưng giờ chót, có thêm 30 thành viên cộng đồng và báo chí từ xa đến cũng được lọt vào sổ. Cho nên con số đại biểu lên đến gần 200 người tất cả. Sự việc nầy xẩy ra là đễ đáp ứng lại chiến dịch ký tên Thỉnh Nguyện Thơ (TNT/Petition, We The People, TBO tạo dựng lên) mà nhạc sĩ Trúc Hồ chủ xướng kêu gọi Tổng Thống Obama can thiệp trả tự do cho nhạc sĩ Việt Khang và các nhà đấu tranh đang ngồi tù tại Việt Nam Cộng Sản.

Sau bốn ngày vận động ráo riết thì TNT được hơn 25,000 chữ ký, một kỷ lục chưa từng thấy trong lịch sử Hoa Kỳ. Vì thế, Tòa Bạch Ốc ngỏ ý mời NS Trúc Hồ và 100 người Việt đại diện vào Nhà Trắng để có một cuộc gặp gỡ. Đến ngày hẹn đi vào Tòa Bạch Ốc là ngày 5 tháng 3, sau ba tuần lễ, thì TNT đã có trên 130,000 chữ ký. Đó là một hiện tượng xuất chúng nói lên lòng hăng say yêu nước và sự đòan kết, tranh đấu của tòan thể người Mỹ gốc Việt trên tất cả các tiểu bang tại Hoa Kỳ.

Hơn nữa, có bà Bảo Khánh, Giám Đóc Đài Việtnam Sydney Radio, bên Úc Châu, cũng như ông Đổ Thông Minh bên Nhật và ông Lại Thế Hùng từ Paris đến, đứng bên ngoài Nhà Trắng, để yễm trợ một ngày lịch sử tranh đấu cho nhân quyền của tất cả nguời Việt,chẳng những tại Hoa Kỳ, mà còn lan rộng trên cả năm châu thế giới.

Chủ đề cuộc gặp gỡ trong Nhà Trắng được gọi lả Briefing with National Vietnamese American Leaders trên màn ảnh chiếu trên tường phòng hợp TBO. Trước khi mở đầu cuộc gặp gỡ nầy thì anh Trúc Hồ tưởng mình đi lầm phòng vì anh giải thích trên đài SBTN-DC sau đó, là anh không thấy có chữ gì đề cặp đến TNT hay hai chữ Nhân Quyền gì cả. Anh yêu cầu Luật Sư Tuyết Dương, nhân viên Tòa Bạch Ốc, một trong những người tổ chức cuộc gặp gỡ nầy, sữa đổi lại là cuộc gặp gỡ với toàn thể người Mỹ gốc Việt – Vietnamese Americans – chớ không phải cho riêng những người lãnh đạo – Leaders – mà thôi. Họ đã đáp ứng và sửa liền chủ đề nầy đúng theo như lời yêu cầu của anh Trúc Hồ là Briefing with Vietnamese Americans.

Sau khi ông Jon Carson, Director, Office of Public Engagement, tại White House chào mừng quan khách. thì có ba người trẻ lên sân khấu trình bày quan điểm của mình. Cô Cindy Đinh ở Houston, và anh Billy Le ở South Carolina nói về quá trình hoạt động nhân quyền của hai người trong Đại học và trong cộng đồng của họ. Người thứ ba là ca sĩ Quốc khanh từ California.

Cô Cindy đề cập đến việc cô vào Liên hiệp Quốc năm 2008 để tranh đấu cho nhân quyền. Cô cầm hình của Cha Lý bị bịt miệng, cũng như cô đi vận động với các dân biểu của cô tại Texas để họ can thiệp thả Cha Lý. Cô cũng đề cập đến Dự Luật Nhân Quyền và kêu gọi những nhà lập pháp ở Texas ký tên thông qua. Cô cũng có viết thơ yêu cầu Ngoại Tưởng Condi Rice kêu gọi Việt Nam thực thi nhân quyền tại Việt Nam.

Anh Billy Le nói về viêc anh giúp thành lập Hội Sinh Viên Việt Nam tại các Đại Học ở South Carolina, góp sức với người lớn tuổi làm việc chung cùng một mục tiêu là tranh đấu cho nhân quyền. Anh nói anh cũng hợp tác với nhiều nhóm trẻ khác trên thế giới và dùng những kỹ thuật mới, social media, lập thành một mạng lưới kêu gọi giới trẻ trên tòan cầu, tranh đấu cho có nhân quyền tại Việt Nam.

Sau cùng, ca sĩ Quốc Khanh nói là anh dùng lời ca tiếng hát của mình để tranh đấu cho Việt Khang sớm được tự do. Anh nói Việt Khang là nguồn cảm hứng cho anh để anh định rõ vai trò của mình, một công dân được sống trong tự do. Anh kêu gọi tât cả mọi người cùng anh đòi cho bằng đươc sự công bằng để tất cả công dân Việt Nam được sống với quyền tự do tối thiểu của môt con người.

Sau cùng, Đìều Hợp Viên Tuyết Dương nói Việt Khang là ngọn lửa, là cây đuóc soi sáng cho tất cả cộng đồng Việt Nam hợp lại thành một khối đòan kết lớn mạnh để cuộc gặp gỡ lịch sử ngày hôm nay tại TBO được thành hình. Cô cho đó là ngày đẹp đẽ và hãnh diện nhất của cộng đồng Việt Nam.

Lúc đó thì anh Trúc Hồ bỏ ra ngoài phòng họp TBO, đi ra ngoài công viên Lafayette Park, tiếp xúc với hơn một ngàn người Việt, đi từ nhiều tiểu bang đến, đứng trước Nhà Trắng trong cơn lạnh buốt của tháng Ba. Họ hy sinh, biễu dương nồng nhiệt sự ủng hộ của họ với những đại biểu Việt Nam ngồi bên trong Nhà Trắng để cùng nhau đòi nhân quyền tại Việt Nam. Sau đó, Trúc Hồ cũng giải thích trên đài SBTN-DC là anh giao trọn quyền cho TS Nguyễn Đình Thắng liên lạc với TBO để tổ chức cuộc gặp gỡ nầy. Anh nói là hai người trẻ Cindy và Billy không đi sâu vào đề tài nhân quyền cũng như không đề cập gì đến TNT.

Kế tiếp, diển giả chánh, keynote speaker, là ông Quintan Wiktorowicz, Senior Director of Community Partnerships, National Security Council (Giám Đốc Thâm Niên về Cộng Đồng, Đối tác thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia) tại Tòa Bạch Ốc. Trước hết, ông khen ngợi 130,000 người Việt Nam đồng lòng với nhau hợp tác ký TNT, chứng tỏ là cộng đồng Việt Nam là một khối rất chặt chẽ và vững mạnh để bênh vực và bảo vệ quyền lợi cho cộng đồng sống tại hải ngoại và tại quê nhà.

Ông mong được partner liên hệ đối tác với công đồng Việt Nam trên ba phương diện. Trước hết là 1) Getting to Know, to build trust, làm quen, hiểu với nhau và gây niềm tin cho nhau, 2) thứ nhì là Action & Engagement, tức là giai đoạn bắt tay làm việc, cùng chung đề cập đến những vấn đề then chốt của cộng đồng, và 3) thứ ba, là Partnership, lập ra một liên hệ đối tác giữa cộng đồng vả TBO giúp cho giới chức phụ trách chánh sách trong chánh phủ hiểu rỏ vấn đề để tìm ra những giảii pháp chung hữu hiệu hơn.

Ông cũng đề cập đến vấn nạn buôn người trên phương diện tình dục cũng như việc bóc lột lao động. Ông kêu gọi một triệu rưỡi người Việt sống tại hải ngoại, trong đó có những người thành công về thương mại như 225,000 Vietnamese businessesvà những người chuyên nghiệp, hãy đứng lên, cùng cất tiếng nói, và take action, hành động tranh đấu bênh vực cho quyền lợi của tât cả được bảo vệ.

Thuyết trình đoàn của nhóm thứ ba gồm có ba giới chức trong Bộ Ngoại Giao (BNG) Hoa Kỳ. Đó là các ông Thomas Debass, Director of Global Partnenrships Initiative, Giám Đốc Đối Tác Toàn Cầu, và ông Eric Barboriak, Acting Director, Office Mainland SouthEast Asia, Văn phòng Đông Nam Á Châu Lục Địa, trong đó có Việt Nam, và cuối cùng là Trợ Lý Thứ Trưởng Ngoại Giao, ông Michael Posner, Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor, Văn phòng Dân Chủ, Nhân Quyền, và Lao Động.

Ông Posner là người thương thuyết với các nhà độc tài bên Miến Điện cho đến khi nào bà Aun Sang Su Kyi được thả ra khỏi nhà tù. Ông cũng lót đường cho Ngoại Trưởng Hillary Clinton qua gặp bà Su Kyi, Lãnh Tụ Đối Lập, để Bà nầy được che chở và được tự do vân động tranh cử trong Quốc Hội Miến Điện như hiện nay bà đang làm..

Trước hết, ông Debass cho biết là cách đây bốn năm, bà Ngoại Trưởng Clinton, chủ xướng văn phòng Global Partnership Initiative trong Bộ Ngoại Giao để chánh quyền đặt nặng sự hợp tác rất quan trọng với những nhóm trở thành công dân Mỹ trong cộng đồng Hoa Kỳ. Ông nói có tất cả 62 triệu người Mỹ gốc Phi Châu, Châu Mỹ Latinh, và Á Châu. Ông nói khối mạnh nầy là tài sản và nền tảng (diasporas, assets, bridges), là gạch nối vận động giúp cho chánh quyền Hoa Kỳ thương thuyết trên nhiều phương diện với các quốc gia nguyên thũy mà họ chào đời. Họ giúp đem đến những cải cách và thay đổi dẫn đến dân chủ và hoà bình cho cả hai bên Hoa Kỳ và nơi quê họ sanh ra.

Còn ông Barboriak thì nói đến những hơp tác của các quốc gia trong vùng Đông Nam Á trở thành những liên minh như ASEAN ( Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á), làm việc với những cơ quan quốc tế như World Bank, Liên Hiệp Quốc và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, để các quốc gia trong vùng thành liên minh toàn cầu và trợ gíúpvới nhau (global alliance and global cooperation), thực hiện những chương trình chung, mong đem đến sự cải thiện cần thiết trong đời sống của dân chúng họ. Ông cũng có đề cập đến Việt Nam trong khối đó.

Thứ Trưởng Posner, nói tổng quát về việc văn phòng ông và nhân viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam luôn gặp gỡ, đối thoại thường xuyên với các giới chức Việt Nam về những vấn đề thương mại và nhân quyền ở Việt Nam. Các thuyết trình viên của Bộ Ngoại Giao cũng trã lời thỏa đáng từng câu hỏi của 30 đại biểu về những vụ đàn áp tôn giáo, về các tù nhân lương tâm, về sự bóc lột lao động, về việc bắt bớ những người thiểu số Kmer Krom và Montagnards, cũng như vể những vụ buôn trẻ em và phụ nữ.

Sau cùng, Bà Christina Lagdameo, Deputy Director, White House Initiative on Asian American and Pacific Islanders, kết luận bằng những lời khen ngơi nồng nhiệt cộng đồng Việt Nam chúng ta đoàn kết vượt bực. Bà làm việc trong ba đời Tổng Thống, từ ông Clinton đến ông Bush, và nay ông Obama, nhưng chưa từng thấy cộng đồng Á Châu nào kêu gọi được hơn một trăm ngàn người ký tên tranh đấu cùng chung một chiến tuyến trong một thời gian hết sức ngắn ngủi như thế nầy.

Bà nhắn nhủ chúng ta tranh đấu cho nhân quyền, chẵng những cho những người bé cổ không có tiếng nói tại quê nhà, mà còn giúp đỡ cho những người làm nail tại Hoa Kỳ, không được vào TBO gặp gỡ với giới chức vì trỡ ngại ngôn ngữ. Bà khen ngợi họ cũng là một khối lớn mạnh thành công trong nghề nghiệp, chịu khó làm lụng cực khổ rất nhiều giờ mổi ngày, và phải ngửii mùi thuốc hóa chất nguy hiễm ngày nầy qua năm kia nên sức khõe họ bị giảm sút. Bà nhắn chúng ta giúp thông dịch cho họ nếu họ cần, và cũng giúp cho họ hội nhập vào cộng đồng trong xã hội chúng ta đang sống.

Sau hai tiếng đồng hồ tiếp xúc trong Nhà Trắng, chúng ta thấy những chủ đề gì then chốt mà các giới chức trao đổi với chúng ta? Tại sao hai bên TBO và BNG, sau khi thấy con số chữ ký chúng ta lên cao tột độ, quá mức tưởng tượng của họ, lại đưa những chuyên viên, Giám Đốc những văn phòng về Partnership and Engagement, Đối Tác và Bắt Tay Làm Việc để trao đổi với chúng ta? Họ có ngụ ý gì và mong ước gì đối với chúng ta? Có phải là họ muốn chúng ta hợp tác với họ để trở thành một khối mạnh, đại diện cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, làm gạch nối cho những cuộc thương thuyết sau nầy với nhà cầm quyền Việt Nam chăng?

Họ trình bày là họ đã làm những công việc nầy với những nhóm cộng động khác rồi. Họ nói đây là một bước đầu giữa họ và chúng ta để gặp gỡ, làm quen, thông cảm trước tiên (Getting to know). Họ mong có một bước tiến thứ nhì là Action & Engagement như ông Wictorowigz, GĐ Cộng Đồng Đối Tác thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia trong TBO trình bày rất rỏ những điểm ông đưa ra. Ông kêu gọi chúng ta hợp tác làm chung những công tác quan trọng, thực tế, và có chất lượng mà chánh quyền Obama thiết kế ra.

Jackie Bông có gặp ông Wictorowicz và trao tận tay ông Bản Báo Cáo đầy đủ 55 trang của Mạng Lưới Nhân Quyền trình bày về những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2011. Trước mặt GS Nguyễn Ngọc Bích, người viết bài nầy cũng yêu cầu ông tiếp cận và đối tác với Công đồng Việt Nam trong tuơng lai sắp tới.

Còn 140,000 người trong 50 tiểu bang nước Mỹ kỳ vọng những gì đối với các đại biểu được chọn vào gặp gỡ với các giới chức nầy? Sau khi trình bày sơ lược về nguyện vọng nhân quyền của chúng ta, thì có những bước tiến nào đi kế tiếp? Qúy vị đại biểu nào có thể hy sinh đứng lên đáp lời sông núi, nhận lãnh trách nhiệm, tiếp tục con đường TBO và BNG đã vạch ra cho chúng ta để chúng ta tiếp cận không?

Toàn dân Việt Nam ở hải ngoại và tại quê nhà mong đợi qúy vị đại biểu hợp tác với chánh quyền Hoa Kỳ để đi đến việc tranh đấu cho 90 triệu dân tại Việt Nam được nhân quyền như thế nào? Xin qúy vị kiên trì đi thêm bước thứ nhì cũng như bước thứ ba nữa để làm tròn nghĩa vụ mà dân chúng đang mong đợi, giao phó cho qúy vị. Đây là một con đuờng tranh đấu trường kỳ chông gai và gian khổ, đầy mồ hôi và nước mắt. Anh Trúc Hồ cùng đội banh nhân quyền hùng mạnh của anh hứa sẽ tiếp xúc trực tiếp với Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao. Mong lắm thay!
Read more!

Phỏng vấn TS Nguyễn Đình Thắng về vụ “Thỉnh Nguyện Thư”


LGT: một đề tài thời sự đang được sự quan tâm của đồng hương khắp nơi: vụ gửi Thỉnh Nguyện Thư do Ô Trúc Hồ (SBTN) kết hợp với Ts Nguyễn Đình Thắng (BPSOS). Sự việc này khởi đầu từ đầu tháng 2/2012 và đang tiếp tục diễn tiến. Xin mời theo dõi buổi phỏng vấn của Nguyễn Lê Vũ ( Bút Tre Magazine-Arizona) với TS Nguyễn Đình Thắng để sáng tỏ một số điều quanh sự việc này. Bút Tre hoan nghênh mọi sự lên tiếng khác, đặc biệt là phía Nhạc Sĩ Trúc Hồ để đồng hương có thể nghe được cả hai phía.

1- Nhạc sĩ Trúc Hồ là người gửi TNT lên trang "We the People" và nhanh chóng có con số vài ngàn ngay những giờ đầu tiên. Xin cho hỏi TS gặp nhạc sĩ Trúc Hồ và cùng cộng tác trong chuyện này từ cơ duyên nào và bao giờ?

Trước đây tôi không hề quen biết với Trúc Hồ, chỉ một hai lần gặp chào xã giao.Trung tuần tháng Giêng vừa rồi, một người bạn đã giới thiệu Trúc Hồ với tôi.Qua điện thoại, Trúc Hồ cho biết là rất lo lắng cho sinh mạng của Việt Khang.Tôi hứa là sẽ vận động để dân biểu Ed Royce (Cộng Hoà, CA) lên tiếng về Việt Khang tại buổi điều trần ngày 24 tháng 1 vừa qua.Đây là buổi điều trần về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, chuẩn bị cho việc đưa Đạo Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam vào Hạ Viện. Sau đó tôi có thảo văn thư để SBTN khởi động nỗ lực lấy chữ ký gởi cho Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện để xin họ can thiệp.
Rồi một hôm Trúc Hồ hỏi tôi là có thể làm gì thêm.Tôi hỏi lại, “liệu trong 30 ngày có lấy được 25 ngàn chữ ký không?”, Trúc Hồ cam đoan rằng được.Tôi hướng dẫn Trúc Hồ vào trang “We the People” của Toà Bạch Ốc. Trúc Hồ rất phấn khởi và xông trận. Thấy vậy, tôi cũng xắn tay áo lên để hỗ trợ.

2- Thỉnh nguyện thư gửi ra và được hưởng ứng nồng nhiệt qua hệ thống truyền thông SBTN và sự cộng tác đắc lực của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển. Xin hỏi với những vị cao niên không biết sử dụng computer thì BPSOS đã giúp họ "ký" như thế nào?
Trúc Hồ với tôi biết trước rằng nhiều bác cao niên sẽ lúng túng trong việc ký thỉnh nguyện thư trực tuyến. Do đó bên SBTN sắp xếp dàn máy điện toán ở ngay cơ sở của họ ở Quận Cam và kêu gọi thiện nguyện viên giúp đỡ các bác cao niên ký tên. Còn chúng tôi thì huy động hệ thống 10 văn phòng của BPSOS ở các nơi khác, vốn đã có sẵn các “trung tâm điện toán cộng đồng” để nhập cuộc. Đồng thời, chúng tôi vận động mạng lưới của trên 700 chuyên gia trẻ và sinh viên tham gia. Trong những ngày đầu của chiến dịch, họ là đội ngũ tiên phong đưa số người ký thỉnh nguyện nhanh chóng vượt qua mốc điểm 25 ngàn. Trong những tuần sau đó một số người trong đội ngũ này đã tự động đặt bàn với máy điện toán ở các nơi công cộng để vận động và giúp đỡ đồng hương ký trực tuyến.

3- Trong bức thư đầu tiên gửi ra vào đầu tháng 2/2012, TS có viết rằng : quý vị có thể vào trang web của "Tuổi Trẻ Yêu Nước" để biết thêm tin tức. Cho hỏi TS đã biết tổ chức này từ bao giờ, sự giao thiệp giữa TS và ông Vũ Trực?
Tôi chỉ biết về nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước qua vụ Việt Khang.Tôi có gặp Vũ Trực một lần cách đây vài năm tại Đại Hội Liên Mạng tổ chức ở Houston.Sau đó không liên lạc gì và cũng không nhớ mặt.Tôi làm quen với Vũ Trực là qua vụ Việt Khang.

4- Đa số mọi người đoán rằng dù Nhạc Sĩ Trúc Hồ là người đưa ý kiến và tác giả TNT nhưng TS là người thông thạo Hoa Thịnh Đốn nên đã “lobby” khá nhiều. Như vậy tại sao trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch TNT, chúng tôi không thấy đôi bên hợp tác để có một Ban Tổ Chức, một phát ngôn nhân chính thức?
Chiến dịch thỉnh nguyện thư là do Trúc Hồ và SBTN chủ trương và khởi xướng. Tôi có hướng dẫn cho Trúc Hồ về trang “We the People” để làm thỉnh nguyện thư trực tuyến. Thực ra chiến dich thỉnh nguyện thư thuần tuý thì đâu cần ban tổ chức. Bên SBTN thì vận động khán thính giả của mình còn chúng tôi thì huy động tầng lớp sinh viên và chuyên gia trẻ cũng như các văn phòng BPSOS ở nhiều nơi trên nước Mỹ để cùng góp tay cho chiến dịch. Chỉ sau này, khi thấy chiến dịch diễn tiến khả quan, chúng tôi đề nghị thêm với bên Toà Bạch Ốc để có buổi tiếp xúc.Và để chuẩn bị thì tôi có mời SBTN cử người cùng tham gia các buổi làm việc với bộ phận tổ chức của Toà Bạch Ốc. Ngoài ra tôi cũng mời thêm một số người nữa thuộc các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền của người Việt cùng tham gia các buổi làm việc như vậy.
Còn vấn đề tổ chức thì cũng đơn giản thôi. Tổ chức cho ngày 5 tháng 3 là SBTN còn ngày 6 tháng 3 là BPSOS.Tôi đã giới thiệu một số nhân sự của SBTN để làm việc trực tiếp với Ls Tuyết Dương trong việc sắp xếp cho ngày 5 tháng 3. Họ đã chỉ định Ls Đỗ Phủ làm người liên lạc để phối hợp với bên Toà Bạch Ốc.
Và chúng tôi đã đồng ý là chỉ có hai phát ngôn nhân chính thức: Trúc Hồ và tôi. SBTN nhận trách nhiệm sẽ đưa ra bản thông cáo báo chí trước khi phái đoàn vào Toà Bạch Ốc và bản tin ngay sau đó, xem như đấy là quan điểm chính thức củanhóm tổ chức. Nhưng khi thực hiện thì bị trục trặc nênkhông có thông cáo báo chí mà cũng chẳng có bản tin, trong khi đó lại có vài người tự dưng cũng phát ngôn và trả lời báo chí. Riêng tôi thì cùng với phái đoàn cộng đồng Arizona phải họp với Thượng Nghị Sĩ John McCain nên không về kịp để tham dự buổi họp báo.Có lẽ một phần vì vậy nên có sự trục trặc về người phát ngôn và trả lời báo chí.

5- Trong một bài viết mới đây, TS nhấn mạnh chiến dịch này đã được giới trẻ hưởng ứng ngay những ngày đầu khi các vị cao niên còn đang lúng túng và sắp tới đây, cũng sẽ có nhiều "người trẻ" vào Tòa Bạch Ốc. Nếu được, xin TS có thể cho chúng tôi biết về 2 người trẻ đã vào Tòa BO? Và cơ duyên nào TS "biết" những tài năng trẻ này?Phải chăng từ "Đại Hội Leader" của Ts được tổ chức hàng năm?
Ban đầu tôi đề nghị với Toà Bạch Ốc một số người như: cựu DB Cao Quang Ánh, Uỷ Viên Quận Tarrant Nguyễn Xuân Hùng, Chủ Tịch Hội Nhân Quyền Cho Người Montagnard; Ông Rong Nay, Chủ Tịch Nghị Hội Người Việt Toàn Quốc Tại Hoa Kỳ; Ông Nguyễn Ngọc Bích, trưởng nhóm các gia đình Cồn Dầu; anh Trần Thanh Tùng, Chủ Tịch Hội Khmer Krom; Ông Giáp Trần, Hoà Thượng Thích Viên Lý đại diện cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Chủ Tịch Uỷ Ban Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản Bác Sĩ Nguyễn Quốc Quân…Nhạc Sĩ Trúc Hồ thì sẽ trao thỉnh nguyện thư và tôi thì sẽ trao danh sách các tù chính trị, tôn giáo và lương tâm.Cả hai sẽ không phát biểu.
Ban tổ chức bên Toà Bạch Ốc cắt xuống còn 3 người và yêu cầu có những người trẻ tuổi tham dự. Tôi đề nghị 3 người: cựu DB Cao Quang Ánh, nữ BS Hồ Trâm thuộc Hội Văn Hoá Khoa Học, và Ông Rong Nay. DB Ánh sẽ phát biểu về tình trạng đàn áp tôn giáo, BS Trâm trình bày về sựđàn áp những người bất đồng chính kiến, và Ông Rong Nay lên tiếng vềsựđàn áp nhắm vào các đồng bào thiểu số Montagnard, Hmong và Khmer Krom. Cả DB Ánh và BS Trâm có thể xem là thành phần trung niên, tương đối trẻ.
Bên Toà Bạch Ốc cho biết là DB Cao Quang Ánh, vì là cựu dân biểu nên phải gởi qua bộ phận đặc trách mời các giới chức dân cử chuẩn duyệt và tiến trình chuẩn duyệt này rất lâu, e không kịp.Tôi lại đề nghị Ông Nguyễn Xuân Hùng, nhưng cũng được trả lời như trên.Trong khi ấy thì BS Trâm cho biết vì bận việc riêng nên không thể tham dự và đề cử cô Cindy Đinh thay thế.
Tôi biết Cindy từ lâu.Cô ấy là thành viên của Hội Văn Hoá Khoa Học, rất có lòng và không thuộc đảng phái nào cả. Tôi nhấn mạnh điểm này vì ngay từ đầu tôi quan niệm rằng đây là nỗ lực chung của quần chúng với mong ước tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê hương và dân tộc. Còn các đảng phái có mục tiêu tối hậu là giành quyền lực và nắm chính quyền, không phù hợp và có thể làm hỏng ý nghĩa của chiến dịch thỉnh nguyện thư.
Bên Ông Rong Nay đề cử một luật sư trẻ là cô Anna Buonya.
Vẫn còn thiếu một người. Tôi bèn hỏi han những sinh viên mà tôi biết. Các em đề nghị một người bạn là Billy Lê, một người mà tôi chỉ gặp thoáng qua một lần ở Hội Nghị của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Bắc Mỹ ở Denver năm ngoái. Khi liên lạc, tôi hỏi ngay Billy là có thuộc đảng phái nào không. Em khẳng định là không, “em hoàn toàn độc lập.” Tôi tin vào sự trong sáng và chân thật của người trẻ ấy.
Phút cuối, ban tổ chức của Toà Bạch Ốc cắt đi phần trình diễn của ASIA , và đổi lại là cho thêm một người nữa phát biểu.Tôi hỏi thăm thì Trúc Hồ đề nghị ca sĩ Quốc Khanh.
Ở đây tôi muốn mở ngoặc là cô Anna đã không kịp vào bên trong để phát biểu vì phái đoàn Montagnard đã bị sót tên vào phút chót, mặc dù trước đó đã có trong danh sách để vào Toà Bạch Ốc. Chờ quá lâu, họ bỏ về. Tôi cảm thấy hết sức áy náy vì họ đã lặn lội từ North Carolina , bỏ công việc để tham dự. Họđã thức thâu đêm để soạn thảo bản thuyết trình để rồi cuối cùng về không.
Trong cả 4 người trẻ được chọn phát biểu thì chỉ có Cindy là tham gia Hội Nghị Những Người Lãnh Đạo Mỹ Gốc Việt lần đầu tổ chức ngày 2 tháng 7 năm ngoái ở Hoa Thịnh Đốn.

6- LS Tuyết Dương giữ nhiệm vụ gì trong Tòa Bạch Ốc và với mối giao tình cũ khi LS Tuyết còn là nhân viên BPSOS, LS Tuyết đã đóng góp gì cho chiến dịch TNT này?
LS Tuyết Dương đã thôi việc với BPSOS từ lâu. Sau đó cô làm việc cho tổ chức Asian American Justice Center, rồi làm cho Bộ Nội An, và được đề cử sang làm việc trong bộ phận đặc trách cộng đồng Á Châu của Toà Bạch Ốc. Dĩ nhiên là người Việt nên LS Tuyết có cảm tình đặc biệt với cộng đồng chúng ta và cô đã hết sức vận động cho cộng đồng Việt có được tiếng nói. Nhưng chính cô lại bị áp lực từ bộ phận khác của Toà Bạch Ốc để cắt lẹm dần đi chương trình đãđược đồng ý từ trước.
Có lẽ có người sẽ thắc mắc tại sao lại có hai bộ phận trong Toà Bạch Ốc trống đánh xuôi kèn thổi ngược.Đó là việc rất bình thường trong hệ thống chính quyền ở các quốc gia dân chủ, mà chúng ta quen gọi là nguyên tắc cân bằng và kiểm soát (check and balance).
Điều hơi trớ trêu là bộ phận kia của Toà Bạch Ốc đã nhập cuộc sau khi một vị dân biểu ở Bắc Cali, vì muốn yểm trợ chúng ta, đã gọi thẳng vào Toà Bạch Ốc để cằn nhằn rằng tại sao Hành Pháp Obama đã không lắng nghe tiếng nói của tập thể người Mỹ gốc Việt từ đầu để đến giờ cả tập thểấy phải lên tiếng rầm rộ qua thỉnh nguyện thư. Chính cú điện thoại trực tiếp này đến giới chức cao cấp của Toà Bạch Ốc đã đánh động bộ phận kia nhập cuộc. Họ cảm thấy phải hết sức cẩn thận để tránh những việc xảy ra ngoài ý muốn và có thể trở thành xì-căng-đan ngay trong Toà Bạch Ốc vào giữa mùa tranh cử.
Điều này tôi hiểu được và thông cảm. Nhưng những người ở ngoài cuộc vì thiếu thông tin nên đã có nhiều suy diễn không chính xác chút nào.

7- Nhóm phóng viên của báo Calitoday cho rằng 2 thuyết trình viên trẻ đã không phát biểu vào ý chính của petition, xin TS giải thích?
Như đã nói trên, một bộ phận rất cao cấp của Toà Bạch Ốc nhập cuộc và muốn giới hạn những rủi ro có thể xẩy ra. Thay vì thuyết trình, họ đổi sang kiểu hỏi đáp. Và những câu hỏi đã được soạn trước, hỏi gì thì trả lời theo đấy. Tuy nhiên tôi thấy đây không phải là vấn đề phải quan tâm gì cả. Trong sự sắp xếp, tôi đã làm việc trước với Quốc Khanh để Quốc Khanh là người nói về thỉnh nguyện thư, về nhạc sĩ Việt Khang. Không ai khác hơn Quốc Khanh có thể nói về điều này và Quốc Khanh đã nói bằng con tim, làm xúc động cả hội trường. Hai người kia thì nói về sự dấn thân của những người sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ cho nhân quyền Việt Nam . Gom lại thì các lời phát biểu bổ trợ cho nhau thay vì trùng lập.

8-Sau khi vào Tòa BO, trong buổi tường trình, Ban Tổ Chức gồm Nhạc Sĩ Trúc Hồ và Việt Dzũng đã có những phát biểu như: nơi tiếp không xứng đáng với con số 130,000 chữ ký, nhân viên cấp thấp, thuyết trình viên trẻ không nói vào chủ đề…, xin TS giải thích?
Tuần ngay trước ngày 5 tháng 3, tôi có tham dự buổi briefing của Tổng Thống Obama, cũng tổ chức ngay tại hội trường tiếp đón phái đoàn người Việt. (Xem thêm tin tức tại đây:http://www.whitehouse.gov/blog/2012/02/21/president-obama-got-done-because-you.) Do đó, nếu nói rằng nơi tiếp không xứng đáng thì không đúng. Có lẽ những ai nghĩ vậy là do không quen với sinh hoạt ở Toà Bạch Ốc.
Có một yếu tố nữa mà chúng ta phải biết để thông cảm.Số người tham dự từ phía chúng ta kháđông và ban tổ chức của Toà Bạch Ốc chỉ có hai tuần để sắp xếp. Họ phải chạy đôn chạy đáo để tìm phòng. Cuối cùng họ tìm được hội trường lớn nhất mà còn lấy được. Đó là South Court Auditorium nằm trong Eisenhower Executive Office Building là phần nối dài của Toà Bạch Ốc, nơi Phó Tổng Thống và nhân viên của Ông làm việc.
Còn thế nào là thấp, thế nào là cao thì đó làý kiến chủ quan của mỗi người.Tham dự có ba vị giám đốc văn phòng của Toà Bạch Ốc và Bộ Ngoại giao. Không những vậy, còn có vị Phụ Tá Ngoại Trưởng, Giám Đốc Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động Mike Posner tham gia. Ông ta là người đã mở đường cho Hoa Kỳ vào Miến Điện trong thời gian qua.Nếu có ai đó cho rằng đó là thấp, không tương xứng thì tôi cho rằng quá khắt khe.
Khi làm việc với Toà Bạch Ốc để chuẩn bị cho ngày 5 tháng 3, tôi đề nghị mời các giới chức liên quan đến nội dung của thỉnh nguyện thư: vận dụng cơ hội thương thảo mậu dịch với Việt Nam để đòi hỏi nhân quyền. Ông Mike Posner là giới chức cao cấp nhất của Bộ Ngoại Giao về nhân quyền.Tôi đề nghị mời Phụ Tá Ngoại Trưởng Kurt Campbell, Giám Đốc Vụ Đông Á và Thái Bình Dương -- Việt Nam nằm dưới bộ phận này của Bộ Ngoại Giao.Người thứ ba, mà đích thân tôi mời, là Bà Barbara Weisel, người đặc trách khu vực Đông Nam Á của Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ; bà là người chịu trách nhiệm thương thảo mậu dịch với chính quyền Việt Nam. Văn thư trả lời thỉnh nguyện thư của chúng ta có lẽ sẽ do Ông Posner đảm nhận trách nhiệm soạn thảo với sự hội ý với hai người kia.
Ông Posner đã hiện diện. Ông Campbell cử vị phụ tá là Eric Barboriak, Quyền Giám Đốc Văn Phòng đặc trách khu vực Đông Nam Á có Việt Nam, tham dự. Bà Weisel trả lời là phải đi công tác xa nhưng có theo dõi chiến dịch thỉnh nguyện thư và sẽ hội ý với các giới chức hiện diện.
Còn các bạn trẻ không nói vào chủ đề thì như đã giải thích ở trên, họ được đặt cho câu hỏi để trả lời. Và họ đã thay phiên nhau nói về các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do, và chiến dịch thỉnh nguyện thưcũng như vai trò của người trẻ và giới nghệ sĩ trong cuộc vận động cho nhân quyền ở Việt Nam, tất cả trong phạm vi thời gian rất hạn chế.

9- Chúng tôi có nghe và được biết TS chủ trương đưa người trẻ vào phát biểu tại Tòa BO. TS nhắc đi nhắc lại rằng đây là những người trẻ, sinh ra hay lớn lên ở hải ngoại, không dính líu đến quá khứ.Ý của TS là gì khi muốn giới thiệu như vậy?
Như đã giải thích, trước hết là Toà Bạch Ốc yêu cầu những người trẻ vì quan tâm của Hành Pháp Obama là nhắm vào thế hệ tương lai. Nương vào đấy tôi thấy rằng có thể gởi đến Toà Bạch Ốcmột thông điệp mà họ cảm nhận được: nhân quyền là vấn đềchung, thể hiện những giá trị của dân tộc Hoa Kỳ. Những người trẻ Việt sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ là người Mỹ và cũng theo đuổi các giá trị này, nhưng vì họ mang dòng máu Việt nên quan tâm của họáp dụng vào tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Đó là một thông điệp mạnh mẽ: Mọi thành phần người Mỹ gốc Việt đều quan tâm như nhau, chứ không phải chỉ có những ai lớn lên ở Việt Nam , kinh qua cuộc chiến Việt Nam mới quan tâm.

10- Vấn đề nhân quyền đã được nói tới nhiều lần. Lần này cũng sẽ như những lần trước hay có gì khác, thưa TS?
Đúng vậy.Trong suốt 37 năm qua cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳđã nhiều lần lên tiếng về nhân quyền.Nhưng lần này có hai điểm khác.
Thứ nhất là lần này có sự phối hợp hài hoà giữa vận động hậu trường và vận động quần chúng.Vận động hậu trường là hình thức vận động có tính cách chuyên môn, xảy ra trong hậu trường để trao đổi thông tin và thương lượng về chính sách.Theo bản chất, vận động hậu trường cần kín đáo, không trưng hình chụp, không công bố báo chí.
Vận động quần chúng thì ngược lại, mang tính cách biểu dương thanh thế nhằm tạo áp lực, cần phô trương càng nhiều càng tốt.Tuy nhiên vận động quần chúng tự nó không dẫn đến việc thay đổi chính sách vì môi trường công cộng hay diễn đàn công chúng không phải là nơi để trao đổi về vấn đề chính sách. Biết phối hợp nhịp nhàng hai hình thức hành động sẽ giúp tăng hiệu quả của nỗ lực vận động.
Đặc điểm thứ hai là sự tham gia của lớp trẻ, rất trẻ, mà trước đây nhiều người trong chúng ta bi quan về mức độ quan tâm của họ đối với cộng đồng và dân tộc. Trong cả chiến dịch thỉnh nguyện thư vừa qua thì các em ấy đã đóng vai trò tiên phong, có khi còn là chủ lực. Nhiều nhóm trẻđã tự phát đặt bàn ở những nơi công cộng để vận động và giúp bà con ký thỉnh nguyện thư. Chuyển qua cuộc vận động ở Quốc Hội, nhiều em đã sẵn sàng hướng dẫn và thông dịch cho các cô, chú, bác. Các em rất phấn khởi và nhiều em đã liên lạc với tôi trong mấy ngày qua, ngỏý muốn học hỏi thêm về kinh nghiệm vận động hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ. Thấy các em hoà mình với cộng đồng trong 30 ngày của chiến dịch, tôi có thêm niềm tin cho tương lai của cộng đồng và tiền đồ của dân tộc.

11- Theo kinh nghiệm của TS, để những nguyện vọng của chúng ta có kết quả, chúng ta phải đi những bước gì sau khi đệ nạp cho cơ quan cứu xét? Cụ thể, sau khi trình thỉnh nguyện thư về “nhân quyền cho Việt Nam ”, giai đoạn tiếp theo là gì?
Các bước kế tiếp gồm có:
Cung cấp ngay cho Bộ Ngoại Giao các thông tin cập nhật và danh sách 600 tù nhân chính trị, tôn giáo và lương tâm vì tuần tới đây một nhân viên cao cấp của Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động sẽ đi Việt Nam để nêu vấn đề nhân quyền.
Liên lạc tất cả các văn phòng Dân Biểu và Thượng Nghị Sĩ đã tiếp xúc để cảm ơn và nhắc nhở họ về những đề nghị của mình.Một ngày họ gặp vài chục nhóm và phải lắng nghe vài chục vấn đề khác nhau.Nếu không nhắc nhở thì họ sẽ quên vấn đề của chúng ta rất sớm.
Tiếp tục hướng dẫn cho đồng hương liên lạc trực tiếp với các vị dân cử qua văn phòng địa phương.Đây là bước để giúp họ chuyển từ vận động quần chúng sang vận động hậu trường. Như đã giải thích, phải vận động hậu trường thì mới mong đạt được sự thay đổi về chính sách.
Nhân đây, xin cảm ơn Báo Bút Tre hỏi câu này. “Những bước tiếp theo” rất quan trọng. Nó thể hiện thái độ của những ai có cách nhìn chiến lược.Và công cuộc mở vận hội để giải thoát dân tộc là công cuộc dài lâu, đòi hỏi cách nhìn chiến lược.Trong cách nhìn chiến lược, mỗi nỗ lực chỉ là một bước trong một hành trình dài. Chiến dịch thỉnh nguyện thư vừa rồi cũng vậy. Nhìn vậy thì không có chuyện thắng hay thua, thành hay bại ở từng bước. Câu hỏi đúng đắn phải là, “ở bước này có những thành quả nào chúng ta gặt hái được để làm nền móng cho những bước tiếp theo?” Do đó chỉ có thành quả nhiều hay ít, chứ không có thắng hay thua. Luận bàn thắng, thua thể hiện cách nhìn không phù hợp với tình hình của đất nước hiện nay.

12-Còn về sự vận động tại địa phương thì sẽ làm như thế nào?
Tôi đã trả lời phần nào câu hỏi này rồi. Các phái đoàn đến từ từng địa phương sẽ phải gởi thư để cảm ơn và nhắc nhở các văn phòng dân cử đãtiếp xúc về các đề nghị của chúng ta. Và sau đó sẽ cần tổ chức thành lập phái đoàn ở từng địa phương để tiếp xúc với chính vị dân cử hay nhân viên của họ tại địa phương nơi mình cư ngụ. Cứ mỗi lần diễn tập như vậy, cộng đồng chúng ta càng thêm kinh nghiệm để rồi khi đồng bào trong nước cần sự yểm trợ quốc tế vận thì tất cả chúng ta đã sẵn sàngđể phối hợp nhịp nhàng cả hai hình thức vận động quần chúng và vận động hậu trường.

13- Dư luận quần chúng có vẻ chờ đợi một lời hứa hẹn là “can thiệp với nhà cầm quyền vc để trả tự do cho Việt Khang”, nay không được như vậy nên họ cho rằng “thất bại”, xin TS giải thích?
Mục tiêu của chiến dịch rất rõ ràng ngay từ đầu: vận động 25 ngàn người ký thỉnh nguyện thư trong 30 ngày để Toà Bạch Ốc có câu trả lời chính thức. Và ngay tại buổi tiếp xúc ở Toà Bạch Ốc, chính Ông Posner đã cho biết là sẽ cử vị phụ tá sang Việt Nam để nêu vấn đề nhân quyền, trong đó có Việt Khang. Có thể những ai thất vọng là người ở ngoài Toà Bạch Ốc hay vào bên trong mà nghe sót điểm này.
Ở đây cần nhắc lại là ngôn ngữ của thỉnh nguyện thư đâu có chỉ đòi hỏi tự do cho riêng Việt Khang, mà là tự do cho mọi tù nhân chính trị, tôn giáo và lương tâm.Có người cũng đã quên điều này.

14- Có người nói rằng lẽ ra TS nên để những người thế hệ gạch nối làm thuyết trình viên thì hay hơn là 2 người quá trẻ của TS? Vì những người trẻ này hoàn toàn không dính líu gì đến cuộc chiến vừa qua, thì sự hiểu biết cũng như mức quan tâm của họ chắc chắn không “sâu sắc”. Chỉ những ai từng trải qua mới có kinh nghiệm bản thân, xin TS giải thích?
Như đã trình bày, tôi đã đề nghị nhiều người phát biểu. Còn chấp nhận là do bên Toà Bạch Ốc. Hơn nữa, những ai hiểu biết về kỹ thuật nghị trường thì ý thức được rằng phải khởi đầu bằng “công tâm” rồi mới “công thành”. Khi Toà Bạch Ốc chọn những người trẻ này, tôi đã nhắc nhở họ là hãy nói bằng con tim chứ đừng lý luận nhiều, hãy đánh động lương tâm của người nghe, nhất là đối với người Mỹ khó cảm nhận được mối quan tâm của chúng tavề Việt Nam vì không cùng chia sẻ kinh nghiệm sống. Tôi nhắc các bạn trẻ hãy nêu lên những gì mà những người Mỹ ấy liên hệ đến được qua chính kinh nghiệm bản thân của họ.Truyền thông chỉ bắt đầu khi có người nghe chứ không phải khi có người nói. Nói cho nhiều mà đối tượng không lắng nghe và tiếp thu thì đâu đã có sự truyền thông? Do đó, truyền thông hiệu quả phải nhắm vào kinh nghiệm của người nghe chứ không thể chỉ nói theo kinh nghiệm của người nói.
Các nhân viên và giới chức Toà Bạch Ốc không chuyên về các lãnh vực nhân quyền, vốn không phải là phần vụ trách nhiệm của họ, nhưng họ có thể đôn đốc các bộ phận hữu trách. Chúng ta cần họ cảm thông bằng con tim và yểm trợ cho chúng ta. Khi nói chuyện với các bộ phận hữu trách, như bên Bộ Ngoại Giao chẳng hạn,thì chúng ta dùng lý, trình bày dữ kiện, và đưa ra giải pháp.Những việc này thuộc vào những “bước kế tiếp” mà chúng ta đã trao đổi ở trên. Muốn có hiệu quả, trong bất kỳ lãnh vực nào cũng vậy, không những phải làm đúng việc mà còn phải làm việc đúng cách, dùng đúng phương tiện.

15- Về những vận động hôm sau ở Quốc Hội, xin chia sẻ?
Hôm sau, có khoảng trên 500 đồng hương (theo danh sách mà chúng tôi có trong tay), đã chia nhau thành gần 50 toán. Họ chia nhau tiếp xúc với trên một trăm văn phòng dân biểu và thượng nghị sĩ. Có nơi thì chính các vị dân cử đã tiếp xúc với phái đoàn, có chỗ thì là nhân viên lập pháp của họ. Điểm mà tôi muốn nhắc nhở là cuộc vận động Quốc Hội quan trọng không kém, có khi còn hơn, cuộc tiếp xúc với Toà Bạch Ốc vì Quốc Hội làm luật và có chức năng theo dõi việc thi hành luật. Vì sự đánh động dư luận của chiến dịch thỉnh nguyện thư, đồng hương chú tâm nhiều đến việc phái đoàn dưới 200 người vào Toà Bạch Ốc mà ít để ý đến việc vận động Quốc Hội với trên 500 người tham dự.
Mục đích của cuộc vận động Quốc Hội là yểm trợ cho hai đạo luật về nhân quyền cho Việt Nam, kêu gọi các vị dân cử yểm trợ tiếng nói của chúng ta với Toà Bạch Ốc, ngăn cản việc cắt giảm trầm trọng chương trình Việt ngữ của đài Voice of America và tài trợ cho các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam.
Cuộc vận động Quốc Hội rơi vào đúng thời điểm quan trọng: ngay ngày hôm sau Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện đã thảo luận và thông qua Đạo Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam .

16-Sau ngày 5/3, với bài của ký giả Phạm Trần, dư luận quần chúng "hồ nghi" về một “thế lực đen tối" đã làm xáo trộn mọi thời khóa biểu của buổi gặp gỡ. TS có thể cho biết sự thật? Có đảng phái nào tham dự vào việc này không?
Làm gì có đảng phái người Việt nào có khả năng ấy.Có chăng thì chỉ chạy vòng ngoài thôi.Và cũng chẳng có thế lực đen tối nào cả. Như giải thích ở trên, sau khi một vị dân biểu Liên Bang, vì muốn ủng hộ mình, gọi điện thoại thẳng vào Toà Bạch Ốc làm toáng lên nên đã “bứt mây động rừng” và một bộ phận cao cấp hơn của Toà Bạch Ốc (đó là bộ phận An Ninh Quốc Gia với tư cách cố vấn cho Tổng Thống), đã nhập cuộc. Họ thu hẹp dần chương trình lúc ban đầu, kể cả cắt luôn phần phát biểu của người Việt, cắt phần trình diễn văn nghệ và cấm báo chí, cho ăn chắc. Văn Phòng Tiếp Cận Quần Chúng (Office of Public Engagement) phải tranh đấu mãi mới giữ lại được phần phát biểu, nhưng bị thu ngắn lại và dưới hình thức hỏi đáp.
Người viết lẽ ra đã phải truy cứu và phối kiểm nguồn tin trước khi viết bài theo tính cách “conspiracy theorist”, tức là giả thuyết có âm mưu nào đó ở đằng sau. Chỉ cần dăm cú điện thoại đến vài ba người trong cuộc thì, chỉ trong nửa giờ đồng hồ chuyện trò, vấn đề sáng tỏ ngay thôi. Đó là cung cách chuyên môn của một ký giả.
Vì Bút Tre dùng chữ “hồ nghi”, tôi muốn nhắc nhở đến nguyên tắc “lợi ích của sự hồ nghi” (benefit of the doubt), nghĩa là khi mình còn hồ nghi về một con người, một hành động thì phải nghĩ rằng người ấy tốt, hành động ấy có ý tốt cho đến khi có chứng cớ ngược lại không thể chối cãi, chứ không phải chỉ dựa vào suy diễn hay cáo buộc. Áp dụng vào luật pháp thì là “vô tội cho đến khi chứng minh là có tội”. Các xã hội thiếu nhân bản thì ngược lại: “có tội cho đến khi chứng minh là vô tội”. Chúng ta ở Hoa Kỳ đã lâu thì cũng nên thấm nhuần đạo đức nhân bản này của Hoa Kỳ, vốn rất cần thiết để hoà mình vào nền dân chủ ở xứ này và rồi truyền đạt tinh thần ấy cho đồng bào ở trong nước.
Một số nguyên tắc về đạo đức và hành xử, và ngay cả một số nhận định về sự thiếu đạo đức của một đảng chính trị, tôi đã trình bày nhiều lần trước đây rồi. Có một số bài viết đã được gom lại trong quyển sách Thông Điệp Hy Vọng và Trách Nhiệm mà giờ đây đã có ấn bản điện tử.

17-Ông Trúc Hồ đã lên ngay SBTN để phản đối về việc dòng chữ trong ngày 5/3. Ông cho rằng đây là buổi nói chuyện về thỉnh nguyện thư, không phải là buổi gặp gỡ của các "leader" người Mỹ gốc Việt. Xin TS giải thích?
Đây là một vấn đề rất đơn giản nhưng đã đẻ ra nhiều suy diễn đi rất xa với thực tế, cũng do cái bệnh chủ quan của một số người. Hạt đậu chẳng mấy chốc đã ra thành trái núi. Chẳng qua là, ngay từ đầu, nhóm tổ chức của Toà Bạch Ốc rất phấn khởi và đã chạy đôn chạy đáo để tìm một thính đường có thể chứa được nhiều người nhất. Họ tìm được South Court Auditorium và chỉ có chỗ trống vào ngày 5 tháng 3. Đầu tiên tôi đề nghị tổ chức sau ngày 8 tháng 3, sau khi đóng lại chiến dịch, nhưng đành chịu thôi.Thính đường này có 150 chỗ ngồi. Họ dự định xếp thêm 20 ghế nữa, thành ra được 175 chỗ.
Khi tôi báo cho Trúc Hồ, thì Trúc Hồ mừng lắm và cho biết sẽ rút thăm 50 người từ 50 tiểu bang để về dự trong tư cách cá nhân. Trúc Hồ lại muốn thêm 50 chỗ dành cho phái đoàn SBTN, ASIA cũng như một số cơ quan truyền thông đã yểm trợ cho chiến dịch. Do đó SBTN lúc nào cũng nói đến con số 100 mà thôi, làm nhiều người tưởng là sẽ chỉ có 100 người được mời vào Toà Bạch Ốc. Vậy là còn 75 chỗ, tôi bàn với Trúc Hồ là sẽ dành cho những người với kiến thức về nhân quyền, đại diện các tổ chức cộng đồng và nhân quyền, và một số vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo.
Nhưng rồi đến cận ngày thì bên Toà Bạch Ốc cho biết là tối đa chỉ có 165 ghế và có một số người đã được gởi gắm bởi các vị dân biểu và do đó cả bên SBTN và chúng tôi đã phải cắt người xuống. Bên SBTN chỉ còn 15 chỗ để rút thăm người đi với tư cách cá nhân, trong đó lại có vị là nghị viên thành phố và vị kia là cựu tướng lãnh VNCH. Thành ra danh sách cuối cùng nộp cho Toà Bạch Ốc tuyệt đại đa số là những vị đại diện các hội đoàn, tổ chức, tôn giáo, hay là dân cử, chức sắc, nhân sĩ. Có lẽ vì vậy mà bên Toà Bạch Ốc, khi thấy tổ chức và chức vị được liệt kê trong danh sách đã ghi lên màn ảnh cụm từ Vietnamese American Leaders nhằm chứng tỏ sự tôn trọng đối với phái đoàn.
Nhưng Trúc Hồ nghĩ khác, muốn rằng mọi người chỉ đến với tư cách cá nhân. Tôi ở ngoài Toà Bạch Ốc, cố gắng giải quyết cho khoảng 30 người bị sót tên mặc dù trước đó đã nằm trong danh sách, cho đến gần lúc khai mạc mới chạy vào trong để đốc thúc người trong Toà Bạch Ốc ra tận cổng để giải quyết cho số người ấy. Lúc ấy tôi thấy Trúc Hồ không được vui.Tôi hỏi thì được biết là Trúc Hồ không đồng ý với nhóm chữ Vietnamese American Leaders. Tôi chạy ra xem thì thấy có mấy chữ ấy nên quay lại thấy anh Eddie Lee, người phối hợp nhóm tổ chức của Toà Bạch Ốc,đang ngẩn người vì không hiểu tại sao người Việt mình lại giận dữ khi được gọi là “Vietnamese American Leaders”. Chẳng có thì giờ để giải thích, tôi nói với anh ta là đổi thành “Vietnamese Americans” cho êm chuyện. Việc chỉ có vậy và đã được giải quyết nhanh chóng. Tôi thấy là kiểu suy nghĩ “có âm mưu gì đây” đã lây lan sang một số người rồi đó. Đúng là từ hạt đậu, nghi hoặc rồi suy diễn riết thành ra trái núi.
Nếu ai còn nghi hoặc thì nên phối kiểm vì nhiều người bây giờ đã có địa chỉ email của anh Eddie Lee rồi.

18- Đúc kết, theo TS những cái nào là “được” và “chưa được” trong chiến dịch này?
Chiến dịch thu hoạch được nhiều thành quả hơn dự kiến lúc ban đầu. Về công việc thì đã đạt được những điều sau đây:
(1) Chắc chắn sẽ có văn thư trả lời chính thức của Toà Bạch Ốc mà người trà lời có lẽ sẽ là Ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Mike Posner.
(2) Các giới chức liên quan đến thỉnh nguyện của chúng ta đã tiếp xúc với phái đoàn người Việt vào Toà Bạch Ốc. Chỉ có bên Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch là vắng mặt và phái đoàn từ Dallas-Fort Worth đang nhờ Dân Biểu Joe Barton (Cộng Hoà, TX) sắp xếp buổi họp với họ trong thời gian tới đây.
(3) Thông tin cho Quốc Hội biết về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam để họ có hành động thích ứng về cả lập pháp lẫn theo dõi Hành Pháp trong vấn đề thực hiện chính sách.
Về nội lực chúng ta đạt những thành quả sau:
(1) Thu thập kinh nghiệm về vận động quần chúng.
(2) Trên 500 đồng hương vào Quốc Hội tăng thêm hiểu biết và học hỏi kinh nghiệm vận động hậu trường. Họ sẽ đóng vai trò chủ lực cho cuộc vận động tiếp theo ở từng địa phương.
(3) Cuộc tranh luận đang diễn ra trên các diễn đàn internet hay báo chí, truyền thanh, truyền hình là cơ hội để chúng ta rà soát lại khả năng lý luận, tính chất chuyên nghiệp và ý thức dân chủ qua cung cách hành xử. Biết người biết ta thì mới có cơ hội thành công trên con đường dài để giải thoát dân tộc.

19- Tóm lại, về buổi gặp gỡ của các viên chức chính phủ với cộng đồng Việt Nam ngày 5/3 tại Tòa Bạch Ốc thì chúng tôi xin tóm tắt như thế này có đúng không?
Thứ nhất, TS giúp ô Trúc Hồ biết về trang web We the People để gửi TNT. Thứ hai, TS đã vận động để có một buổi gặp gỡ với các viên chức chính phủ. Thứ ba, phía bên Việt Nam gửi danh sách ban đầu khoảng 10, sau còn 7 thuyết trình viên nhưng cuối cùng Tòa Bạch Ốc đã lần lượt thay đổi để chỉ còn 4. Thứ tư, ban đầu bên Tòa Bạch Ốc cũng cho vào nghị trình, màn trình diễn của Asia nhưng cuối cùng đã cắt và thay thế vào đó là thuyết trình viên thứ 4. Thứ năm, có những thành viên Việt Tân bằng sự vận động riêng của họ với sự giúp đỡ của một nữ dân biểu, họ đã hiện diện trong buổi họp mà không qua phía bên TS hay ông Trúc Hồ. Thứ năm, Billy Lê , Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Nam Cali, người thuyết trình viên trẻ, đã trả lời TS là " không đảng phái" và sau này thì được biết anh ta là thành viên của nhóm "Phan Bội Châu", một tổ chức ngoại vi của Việt Tân. Thứ sáu, Tòa Bạch Ốc đã cử viên chức cao cấp nhất về "nhân quyền" đến họp. Thứ bảy, chúng ta phải cung cấp ngay cho Bộ Ngoại Giao các thông tin cập nhật và danh sách 600 tù nhân chính trị, tôn giáo và lương tâm vì tuần tới đây một nhân viên cao cấp của Vụ Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động sẽ đi Việt Nam để nêu vấn đề nhân quyền. Nếu thiếu sót xin TS bổ túc để kết thúc bài phỏng vấn này và Bút Tre rất cảm ơn TS đã dành thì giờ trả lời để làm sáng tỏ một số vấn đề chung quanh vụ "Thỉnh Nguyện Thư" này..
Có mấy điểm mà tôi muốn nói cho rõ.
Thứ nhất, về các tài liệu thì chúng tôi đã thường xuyên cung cấp cho Bộ Ngoại Giao, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, Hội Đồng Cố Vấn An Ninh Hoa Kỳ (của Toà Bạch Ốc), Uỷ Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Của Hoa Kỳ, và các văn phòng dân cử liên bang. Lần này chúng tôi gom các danh sách tù chính trị, tôn giáo và lương tâm lại để trao một lần, xem như là đi kèm với thỉnh nguyện thư gởi Tổng Thống Obama. Đồng thời chúng tôi cũng phối hợp với các phái đoàn địa phương để đồng loạt gởi các danh sách ấy cho các vị dân cử Liên Bang nhằm tạo thêm áp lực đối với Hành Pháp.
Có dư luận cho rằng SBTN giao cho tôi trách nhiệm liên lạc với Toà Bạch Ốc, điều này không đúng.Tôi tự ý liên lạc với Toà Bạch Ốc để vận động cho buổi tiếp xúc. Ngày 19 tháng 2, khi vừa biết được là Toà Bạch Ốc sẽ tiếp một phái đoàn người Việt, tôi báo ngay cho Trúc Hồ và lập tức sắp xếp buổi họp sơ bộ để SBTN và một số nhân vật và tổ chức khác làm việc thẳng với Toà Bạch Ốc. Tại buổi họp này, SBTN đề cử Ls. Đỗ Phủ đại diện liên lạc với Toà Bạch Ốc và hai bên đã trao đổi địa chỉ email với nhau. Nghĩa là, tôi thấy có cơ hội thì tự động khai thác và sau đó giới thiệu ngay cho SBTN để trực tiếp làm việc với Toà Bạch Ốc. Tôi nghĩ, nên để các người tham gia buổi họp này, và một buổi họp nữa sau đó, cung cấp thêm thông tin để mọi người cho có cái nhìn chính xác.
Tôi chủ trương không nêu tên bất kỳ ai hay tổ chức nào để tránh những cuộc tranh luận vô bổ, mất thời gian. Do đó tôi không xác nhận hay phủ nhận những thông tin liên quan đến các cá nhân hay tổ chức được nêu trên.
Điều này tôi có thể nói, đảng chính trị mà tôi nhắc đến đã không can dự vào tiến trình tổ chức hay nội dung của buổi tiếp xúc Toà Bạch Ốc ngày 5 tháng 3. Họ chỉ hiện diện dưới danh nghĩa đảng và đưa tin về buổi tiếp xúc với những hình ảnh dễ tạo ngộ nhận. Cuộc vận động ở Quốc Hội ngày 6 tháng 3 thì khác. Nhưng đó lại là câu chuyện cho một bài phỏng vấn khác.
Cuối cùng là một tâm tình. Trước đây tôi không quen Trúc Hồ, nhưng trong 30 ngày làm việc với nhau, tôi vô cùng cảm mến người bạn trẻ này, xem như một người em. Trúc Hồ là người bộc trực, hành xử theo cảm tính, đặt tất cả niềm tin và ước vọng vào chiến dịch thỉnh nguyện thư, không một chút tư lợi. Đó là vốn quý của dân tộc mà tất cả chúng ta, nếu nặng lòng với dân tộc, thì phải bằng mọi cách bảo vệ và gìn giữ.
Nguyễn Lê Vũ thực hiện riêng cho nguyệt san Bút Tre ( Arizona )

Lời kết của Nguyễn Lê Vũ : làm truyền thông là tìm sự thực để gửi đến quý độc giả nhưng trong cái gọi là tìm sự thật đó cũng phải “Luôn có mục đích hướng thượng, nghĩa là chú ý đại cuộc, bỏ qua tiểu tiết; một người được coi là vô tội cho đến khi chứng minh người đó có tội; không nghe lời đồn vô căn cứ”. Vì thế trong sự kiện Nhạc Sĩ Trúc Hồ vì tình cảm cá nhân muốn cứu Việt Khang ( như lời Trúc Hồ nói nhiều lần ở SBTN) và đã nhờ Ts Nguyễn Đình Thắng cộng tác và sau khi vào Tòa Bạch Ốc ngày 5/3/2012, đã có một số điều “không vui” xảy ra nhưng chúng tôi không nghe tin đồn và chúng tôi hỏi đích danh những người có trách nhiệm. Trong cách hỏi, chúng tôi cũng không “xoáy vào những tiểu tiết” phương hại đại cuộc nhưng chúng tôi cũng cố gắng soi rọi những chi tiết xét ra có thể giúp cộng đồng ngăn ngừa sự lũng đoạn của các đảng phái thiếu đạo đức, luôn có hành động giống như “cướp chính quyền”, một thủ đoạn lập lại của Việt Minh. Điều trên cũng để trả lời cho những người trẻ của ta hôm nay, họ không có kinh nghiệm với vc và đã cho rằng thế hệ cha anh là (quá khích, mang tư tưởng hận thù từ cuộc chiến vừa qua nên nghi kị tất cả).
Một số điều đã được giải thích bởi Ts Nguyễn Đình Thắng nhưng chúng tôi mong những điều còn lại sẽ được Nhạc Sĩ Trúc Hồ trả lời. Và từ những bản phỏng vấn này, quý độc giả có thể có những tin tức chính xác thay vì “suy diễn” và sau đó sẽ nhận định để rút kết luận cho chính mình.
Điều mong ước sau cùng của chúng tôi là cả hai ông Trúc Hồ và Ts Nguyễn Đình Thắng phải cố gắng tìm giải pháp tốt đẹp nhất để lấy lại niềm tin nơi quần chúng, tiêu biểu là 140,000 người đã ký vào TNT do quý ông phát động. Vì vậy hai ông chắc chắn phải hiểu trách nhiệm và hành động của mình đối với tập thể đã gửi gắm niềm tin nơi quý ông.
Read more!
previous

Lưu trữ Blog

Lên đầu trang